Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 3. Sông núi linh thiêng có đáp án
27 câu hỏi
Dòng nào dưới đây nêu tiêu chí giúp phân biệt một văn bản thuộc truyện truyền kì với một văn bản thuộc các thể loại truyện khác trong văn học Việt Nam một cách thuận lợi, thuyết phục nhất?
A. thể loại tự sự cỡ nhỏ thời trung đại
B. phản ánh hiện thực bằng yếu tố kì ảo
C. được viết bằng chữ Hán
D. phát triển mạnh ở thế kỉ XVI – XVI
Chọn đáp án: B. phản ánh hiện thực bằng yếu tố kì ảo
Trong các truyện dân gian dưới đây, truyện nào không sử dụng yếu tố kì ảo?
A. Thần Trụ Trời
B. Ăn khế trả vàng
C. Sọ Dừa
D. Em bé thông minh
Chọn đáp án: D. Em bé thông minh
Điền các từ ngữ thích hợp vào các vị trí còn trống để hoàn tất đoạn văn nói về thế giới nghệ thuật trong truyện truyền kì:
Trong truyện truyền kì, thế giới con người giao thoa và kết nối với thế giới của …….. Tuy nhiên, đằng sau những tình tiết kì ảo, phi hiện thực, người đọc có thể tìm thấy những ….... cũng như những quan niệm và thái độ của tác giả đối với ………..
Trong truyện truyền kì, thế giới con người giao thoa và kết nối với thế giới của thánh thần, ma, quỷ. Tuy nhiên, đằng sau những tình tiết kì ảo, phi hiện thực, người đọc có thể tìm thấy những vấn đề cốt lõi của hiện thực cũng như những quan niệm và thái độ của tác giả đối với đời sống đương thời.
Điền các từ ngữ thích hợp vào các vị trí còn trống để hoàn tất đoạn văn nói về thế yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì và truyện dân gian:
Quan niệm, mục đích, cách thức sử dụng yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì khác với truyện dân gian. Yếu tố kì ảo trong truyện dân gian gắn với ………... của tác giả dân gian về sự hiện hữu và vai trò của các thế lực siêu nhiên trong đời sống của con người. Thế giới trong truyện truyền kì là một thế giới ……….. Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì chủ yếu được sử dụng như là ………., giúp nhà văn dựng nên trong truyện kể một thế giới kì lạ hoang đường, qua đó đề cập đến những vấn đề đáng quan ngại của ……….
Quan niệm, mục đích, cách thức sử dụng yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì khác với truyện dân gian. Yếu tố kì ảo trong truyện dân gian gắn với niềm tin của tác giả dân gian về sự hiện hữu và vai trò của các thế lực siêu nhiên trong đời sống của con người. Thế giới trong truyện truyền kì là một thế giới tưởng tượng. Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì chủ yếu được sử dụng như là phương tiện nghệ thuật, giúp nhà văn dựng nên trong truyện kể một thế giới kì lạ hoang đường, qua đó đề cập đến những vấn đề đáng quan ngại của xã hội đương thời.
Dòng nào dưới đây nêu đúng trình tự các phần trong bố cục thông thường của một bài văn tế?
A. Lung khởi – Ai vãn – Thích thực – Kết
B. Thích thực – Lung khởi – Ai vãn – Kết
C. Lung khởi – Thích thực – Ai vãn – Kết
D. Ai vãn – Lung khởi – Thích thực – Kết
Chọn đáp án: C. Lung khởi – Thích thực – Ai vãn – Kết
Bình luận về một trong hai chi tiết sau trong truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên:
a. Hình phạt mà Diêm Vương dùng để trừng trị tội lừa dối của “người đội mũ trụ”
b. Chức phán sự mà Tử Văn được Thổ Công tiến cử sau vụ kiện ở Minh Ti
a. Hình phạt mà Diêm Vương dành cho “người đội mũ trụ”: Hình phạt này nhằm trừng trị tội lừa dối và xảo trá của hồn ma tên tướng giặc, người đã chiếm đoạt đền thờ của Thổ Công. Diêm Vương xử phạt tội ác này bằng cách bắt hắn chịu cực hình và đày đi nơi xa, đây là biểu tượng cho sự trừng trị nghiêm minh, phù hợp với tội lỗi của kẻ ác. Hình phạt này không chỉ thể hiện công lý mà còn phản ánh quan niệm về nghiệp báo, rằng kẻ ác dù chết cũng không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của âm ti.
b. Chức phán sự mà Tử Văn được Thổ Công tiến cử: Đây là phần thưởng xứng đáng dành cho Tử Văn sau khi anh dũng cảm đứng lên chống lại bất công, quyết kiện đến cùng để đòi lại công lý. Chức phán sự đền Tản Viên thể hiện sự tín nhiệm của Thổ Công và sự công nhận của thế giới tâm linh với người ngay thẳng, dũng cảm. Việc Tử Văn nhận chức này còn mang ý nghĩa tôn vinh lòng chính trực, góp phần giữ gìn trật tự, công lý cho dân gian. Đồng thời, chi tiết này còn thể hiện niềm tin rằng người chính trực sẽ được vinh danh và bảo vệ, dù ở trần gian hay thế giới bên kia.
Nhận xét về cách kết thúc truyện và lời bình của người kể chuyện ở cuối văn bản truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.
- Về cách kết thúc truyện: Văn bản truyện kết thúc ở câu: Đến nay con cháu Tử Văn hãy còn, người ta truyền rằng đó là “nhà quan phán sự” khiến cho truyện gần gũi với kết thúc của truyền thuyết dân gian (truyền thuyết hoá), nhân vật sẽ mang dáng dấp nhân vật truyền thuyết, bất tử trong “bia miệng”, tín ngưỡng, tâm thức dân gian.
- Về lời bình: Lời văn cổ kính, cô đúc, giàu hình ảnh và tính triết lí luận đề đề cao cái cứng cỏi vì chính nghĩa của nhân vật. Đức tính và cách hành xử của Tử Văn được mọi người tôn vinh, ủng hộ. Nó đối lập với những gì đen tối, giả dối, với thói ngu tối, bịp bợm, vì đút lót mà bênh che kẻ gian hãm hại người ngay.
Lời bình cũng cho thây nhân vật Tử Văn không chỉ là hiện thân cho cái Thiện nói chung trong truyện cổ tích mà hiện thân cho cốt cách “cứng cỏi, trung thực, nghĩa khí” được đặc biệt để cao ở người trí thức Nho học (thường gọi là “kẻ sĩ”).
Nêu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)
- Chủ để: thể hiện hình ảnh cao đẹp và bi tráng người nghĩa sĩ Cần Giuộc.
- Cảm hứng chủ đạo: ngợi ca những phẩm chất anh hùng, xả thân cứu nước của người nghĩa sĩ nông dần Cần Giuộc, đồng thời thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước sự hi sinh cao cả của các nghĩa sĩ.
Đồ vật kì ảo nào xuất hiện nhiều lần nhất trong tác phẩm Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân)? Theo bạn, điều đó thể hiện dụng ý gì của tác giả?
- Trong Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân, đồ vật kỳ ảo xuất hiện nhiều lần nhất là chiếc áo tơi lá. Đây không chỉ là một vật dụng thông thường mà còn mang tính biểu tượng, gắn liền với vẻ đẹp tự nhiên và hoang sơ của đỉnh Tản Viên. Chiếc áo tơi lá, được tạo nên từ lá cây rừng, tượng trưng cho sự gắn bó, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, là sự giản dị và mộc mạc của những người dân miền sơn cước.
- Nguyễn Tuân dùng hình ảnh này để thể hiện dụng ý về sự trân trọng, tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết, mộc mạc của thiên nhiên và con người Việt Nam. Chiếc áo tơi lá cũng gợi lên tinh thần phiêu lưu, lãng mạn của tác giả khi ông tìm đến đỉnh Tản Viên để tìm hiểu, khám phá và chiêm ngưỡng vẻ đẹp bất tận của đất trời, núi non.
Đọc văn bản Tịch Phương Bình và thực hiện các yêu cầu nêu phía dưới.
TỊCH PHƯƠNG BÌNH
Bồ Tùng Linh
Tịch Phương Bình, người huyện Đông An. Cha tên là Liêm, tính tình ngay thẳng nhưng vụng ăn nói. Ở trong làng, Liêm có hiềm khích với một người nhà giàu họ Dương. Họ Dương chết trước. Vì thế, mấy năm sau, khi Liêm bệnh nặng sắp nguy kịch, nói với người ta rằng: “Lão Dương nay đang hối lộ dưới âm phủ sai đánh đập tôi đó”. Chốc lát, mình mẩy sưng phù bầm tím, kêu gào rồi chết. Tịch đau xót thảm thiết, không chịu ăn uống, nói: “Cha ta là người chất phác, nay bị bọn quỷ : Tình cảm và câu nói dữ lấn ép, ta xuống âm ti thay cha xin minh oan”. Từ đó, không nói gì nữa cả, khi đứng hoặc ngồi, vẻ như người ngây. Thì ra hồn đã lìa khỏi xác.
Tịch vừa thấy mình ra khỏi cửa, chưa biết đi đâu. Nhưng thấy người đi trên đường, liền hỏi đường đến thành ấp. Một lúc sau, vào thành. Thấy cha mình đã bị giữ ở trong ngục. Tịch đến cửa ngục, thấy cha nằm dưới mái hiên, bộ dạng hết sức khốn khổ. Cha Tịch ngẩng mắt lên, nhìn thấy con từ xa, chảy nước mắt giàn giụa, liền nói: “Bọn ngục lại đều ăn đút lót, ngày đêm đánh đập cha, chân cẳng đui về nát bấy cả rồi”. Tịch nổi giận lớn tiếng mắng bọn ngục tốt: “Cha ta nếu như có tội, thì đã có pháp luật âm phủ, há để bọn quỷ mị chúng bay tự tiện ngang ngược hay sao!”. Rồi lấy bút ra viết đơn kiện. Thì vừa gặp đúng buổi chầu sớm ở sở quan Thành Hoàng, liền đưa đơn vào.
Họ Dương sợ, đem hối lộ từ trong lẫn ngoài, rồi mới ra đối chất. Thành Hoàng coi rằng đơn tụng không có bằng chứng, không cho Tịch vào chầu. Tịch tức giận không biết lại kêu oan vào đâu, đi thêm một trăm dặm nữa tới quận, đem đơn kiện báo cho Quận Ti. Lâu cả nửa tháng mới được vào cật vấn. Quận Ti ra lệnh đánh đòn Tịch một trận và phê cho Thành Hoàng xét xử lại. Tịch tới ấp, thân bị cùm kẹp, không thể tự mình bày tỏ oan khuất. Thành Hoàng sợ Tịch lại đưa kiện nữa, sai quân hầu áp giải về nhà. Bọn sai dịch (đưa Tịch) tới cửa rồi bỏ về. Tịch không chịu vào nhà, lẻn trốn về âm phủ, tố cáo Quận Ti tham ô. Diêm Vương (vua âm phủ) liền cho câu lưu đối chất. Hai quan bí mật sai kẻ tâm phúc đến điều đình với Tịch, hứa cho một ngàn lạng vàng. Tịch không nghe. Được mấy ngày, chủ quán (chỗ Tịch bị giam giữ) bảo: “Ông cứng đầu quá, phủ quan muốn giải hoà mà không chịu nhận. Nghe nói các quan mang thư tới trước Diêm Vương. Tôi e việc không tốt đầu”. Tịch cho là lời đồn đại vô căn cứ nên không tin lắm. Một chốc có người áo đen gọi vào. Lên sảnh đường thấy Diêm Vương có vẻ giận dữ, không cho phép nói gì cả, ra lệnh đánh Tịch hai mươi đòn. Tịch lớn tiếng hỏi “Tôi có tội gì?” Diêm Vương làm như không nghe thấy. Tịch chịu đòn, la to: “Bị đòn là đáng kiếp! Ai bảo ngươi không có tiền”. Diêm Vương càng giận thêm, sai đem đặt lên giường lửa. Hai con quỷ lôi Tịch xuống, thấy thêm bên cạnh có đặt cái giường sắt, bên dưới có lửa đốt, mặt giường đỏ rực. Quỷ lột áo Tịch ra, đặt lên đó, lăn qua lăn lại, dày vò đè ép. Tịch cực kì đau đớn, xương thịt cháy đen, khó muốn chết mà không được. Khoảng hai giờ sau, một con quỷ nói: “Đủ rồi”. Đoạn kéo Tịch khỏi giường, cho mặc áo; may mà còn khập khễnh đi được. Tịch lại đi lên sảnh đường, Diêm Vương hỏi: “Dám kiện nữa thôi?”. Tịch nói: “Oan uống chưa bày giải xong, tấc lòng này chưa chết; nếu bảo không kiện nữa, tức là dối gạt ngài. Vậy sẽ kiện nữa”. Diêm Vương lại hỏi: “Kiện điều gì?”. Tịch nói: “Thân này phải chịu đựng những gì, đều nói ra hết”. Diêm Vương lại nổi giận, sai đem Tịch ra cưa xẻ thân thể. Hai con quỷ lôi đi, Tịch thấy một cây gỗ dựng đứng, cao chừng tám, chín thước, trên có hai tấm gỗ, ở trên ở dưới, máu đọng bê bết. Hai con quỷ sắp sửa trói Tịch vào đó, bỗng nghe trên sảnh đường hô lớn: “Tên Tịch!”. Hai con quỷ lại áp giải Tịch trở lại (chỗ cũ). Diêm Vương lại hỏi: “Còn dám kiện tụng nữa thôi?” Tịch đáp: “Vẫn kiện”. Diêm Vương ra lệnh tức tốc mang đi. Dưới cây gỗ, hai con quỷ lấy hai tấm gỗ kẹp Tịch lại, buộc lên cây gỗ. Cái cưa vừa hạ xuống, Tịch có cảm giác như óc trên đỉnh đầu từ từ nứt ra, đau đớn không chịu nổi, nhưng vẫn cắn răng không kêu la. Nghe một con quỷ nói: “Tên này cứng cỏi thiệt!”. Tiếng của soàn soạt xuống tới dưới ngực, lại nghe một con quỷ nói: “Người này chí hiếu vô tội, cưa xiên qua một bên, đừng hại vào tim”. Tịch nghe lưỡi cưa quẹo quành xuống dưới, càng đau đớn gấp bội. Một lúc sau, thân đứt làm hai. Khi hai tấm gỗ mở ra, hai nửa mình đổ xuống đất. Hai con quỷ lên sảnh đường cất tiếng thông báo (đã cưa xong). Sảnh đường truyền lệnh ráp hai nửa thân hình lại rồi đem lên xem. Hai con quỷ liền ấn hai phần thân thể dính lại với nhau và lôi đi. Tịch có cảm giác chỗ đường của đau muốn xé ra, mỗi nửa bước lại té nhào. Một con quỷ rút từ lưng ra một sợi dây đưa cho Tịch nói: “Tặng anh báo hiếu”. Tịch cầm lấy buộc vào lưng, bỗng thấy mình khoẻ khoắn, không còn chút đau đớn nào nữa. Rồi lên sảnh đường quỳ xuống. Diêm Vương lại hỏi như lần trước. Tịch khiếp sợ lại bị tra tấn khốc liệt, liền nói: “Không kiện nữa”. Diêm Vương tức thì ra lệnh dẫn Tịch đưa về dương gian.
Lính canh dẫn Tịch ra cửa phía bắc, chỉ cho đường về, rồi quay trở lại (âm phủ). Tịch nghĩ âm ti còn ám muội hơn cả trần gian, nhưng khốn nỗi không biết đường nào kêu tới Thượng Đế. Tục truyền Nhị Lang ở Quán Khẩu là người có công huân với Thượng Đế, là bậc thần thông minh, chính trực, cầu xin chắc được linh ứng. Mừng thấy hai tên lính canh đã đi khỏi rồi, Tịch liền xoay mình đi về hướng nam. Trong lúc đang tất tả chạy, thì có hai người đuổi theo:“Diêm Vương đã ngờ nhà ngươi không chịu về, quả nhiên là thế!”. Chúng nó liền dẫn trở về gặp lại Diêm Vương. Tịch thầm nghĩ Diêm Vương sẽ nổi nóng hơn nhiều, tai vạ càng dữ dội thêm nữa. Nhưng Diêm Vương không có vẻ giận chi cả, bảo Tịch rằng: “Ngươi thật chí hiếu. Còn oan khuất của cha ngươi, ta đã rửa sạch như tuyết rồi. Bây giờ đã được đầu thai ở nhà giàu sang, thì ngươi còn kiện cáo âm phủ làm chi. Nay đưa ngươi về, cho ngươi nghìn lạng vàng làm tài sản, tăng thêm tuổi thọ, ngươi bằng lòng chưa?”. Rồi ghi vào sổ, đóng con dấu thật to, đưa cho Tịch xem tận mắt. Tịch lạy tạ, lui xuống. Hai con quỷ cùng ra theo, tới ngoài đường, vừa xua đi vừa chửi Tịch: “Thằng giặc gian trá, bao lần tráo trở, làm bọn tao vất vả muốn chết. Mi mà làm như thế nữa, sẽ bắt mi bỏ vào cối xay, nghiền thành bột. Tịch trợn mắt quát lớn: “Đồ quỷ tầm bậy. Tính ta sợ dao cưa, chứ không sợ đánh đập. Cứ về hỏi lại Diêm Vương; Diêm Vương ra lệnh cho ta tự về, sao lại mất công dẫn đi theo làm gì?”. Đoạn chạy ngược lại. Hai con quỷ sợ, xuống giọng khuyên nhủ Tịch trở về. Tịch cố ý đi chậm chạp, đi vài bước lại nghỉ bên đường. Hai con quỷ nuốt hận, không dám nói gì nữa.
Khoảng nửa ngày, đến một xóm nọ, có một cửa hé mở, hai con quỷ dẫn Tịch cùng ngồi. Tịch liền ngồi ở bậc cửa. Hai con quỷ thừa dịp bất ngờ, đẩy Tịch vào trong cửa. Khi định thần nhìn lại thì mình đã hoá thành một đứa bé sơ sinh. Phẫn uất kêu khóc, ba ngày không bú rồi chết non. Hồn vất vưởng không quên Quán Khẩu. Đi được chừng mấy chục dặm, bỗng thấy lọng kích ngang đường. lịch vì muốn tránh, vượt qua đường, nên phạm phải nghi trượng, bị lính đi trước ngựa bắt, trói đem giải lên trước xe. Ngẩng lên trông thấy trong xe có một người trẻ tuổi, dáng dấp khôi ngô tuấn tú. Người thiếu niên hỏi Tịch: “Ai đấy?”. Tịch chính vì oan khuất chưa biết bày tỏ nơi đâu, nghĩ rằng đây là một viên quan to, có thể tác oai tác phúc, nên nói ra hết mọi điều oan ức khổ sở mà mình đã chịu dựng. Người trong xe ra lệnh cởi trói cho Tịch và sai cho đi theo xe. Một lúc sau đến một nơi, có cả hơn chục quan viên nghênh đón bên trái đường. Người trong xe hỏi thăm từng người. Xong chỉ Tịch và nói với một ông quan rằng: Đây là một người dưới trần vừa muốn kêu nài, nên xét xử ngay lập tức”. Tịch hỏi người được dặn bảo chính là Nhị Lang. Tịch nhìn Nhị Lang, thân hình cao lớn, mặt theo hầu mới biết người trong xe là Cửu Vương điện hạ của Thượng Đế, và người mày râu ria rậm rạp, không giống như thế gian truyền tụng. Cửu Vương đi rồi, Tịch theo Nhị Lang đến một sở quan, chính là chỗ cha Tịch và lão họ Dương bị giam giữ. Chốc lát trong xe tù có tù nhân chui ra, thì là Diêm Quận Ti và Thành Hoàng. Mọi lời thẩm vấn đối chất đều không sai khác những lời Tịch đã khai. Ba quan run sợ, trông như chuột mắc bẫy. Nhị Lang cầm bút phán quyết. Một lát sau, bản án truyền xuống, cho mọi người trong vụ án xem. Quyết định như sau:
Xét rằng Diêm Vương, được phong tước vương, thụ ơn Thượng Đế. Lẽ ra phải giữ mình trong sạch để dẫn dắt thuộc quan, không được tham ô mà bị chê bai, chỉ trích. Thế mà y nghi trượng nghênh ngang, chỉ khoe khoang cấp bậc cao sang; tham lam, ác độc như giống cừu loài sói, làm nhơ nhuốc phẩm cách bề tôi. Búa đánh, dao chặt, cha con xương thịt còn chi. Cá lớn nuốt cá bé, cá ăn tôm; đàn kiến nhỏ nhoi đáng xót. Phải vốc nước Tây giang đem mi ra rửa ruột; đem đốt nóng giường đông, cho ngươi vào hũ.
Xét rằng Thành Hoàng, Quận Ti, là quan cha mẹ dân đen, chăn dắt bò dê cho Thượng Đế. Tuy chức phận ở hàng dưới, (nhưng là) người tận tuỵ há chịu khom lưng; dù bị quan trên chèn ép, kẻ vững chí phải nên cứng cổ. Thế mà lại làm tay chân cho loài diều loài ó, quên nghĩ tới thân phận dân nghèo. Lại còn vênh váo thói khi vượn gian manh, chẳng hiềm làm loài quỷ đói. Chuyên ăn bòn đút lót làm điều trái phép, đúng là bầy mặt người dạ thú. Phải cho rút tuỷ thay lông, lột da đổi vỏ mà đi đầu thai kiếp khác.
Xét rằng mấy tên sai dịch, đã ở cùng lũ quỷ, đâu phải loài người. Cửa công nên gắng tu sửa, hòng mong trở lại kiếp người. Cớ sao biển khổ dậy sóng, gây nên oan nghiệt tày trời? Vênh vang ngang ngược, mặt chó (tạo điều oan khuất) khiến cho sương rơi tháng hạ. Náo loạn kêu gào, oai hổ cắt ngang đường lớn. Phóng túng doạ dẫm nơi âm phủ, ai ai đều biết cai tù đáng nể. Theo hùa giúp rập bọn quan tham tàn ác độc, mọi người cùng khiếp phường đồ tể. Đáng đưa chúng nó ra pháp trường chặt đứt chân tay; lại đem bỏ vào vạc sôi dầu bỏng, vớt ra chỉ còn Xét rằng lão họ Dương, giàu có nhưng không có lòng nhân; gian giảo nhiều mánh lới. Ánh vàng bạc rọi đất, khiến cho hết thảy điện đài ở cõi âm cũng phải lu mờ. Hơi đồng ngút trời, làm cho những người chết oan trong thành không còn thấy được mặt trời, mặt trăng. Mùi tiền bạc tanh tưởi sai khiến được quỷ, sức mạnh của nó làm lay động tới cả bậc thần. Nên truyền lệnh tịch biên gia sản họ Dương, đem tưởng thưởng lòng chí hiếu của ông Tịch. Tức khắc giao phó cho thần núi Thái Sơn.
(In trong Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị,
Cao Tự Thanh dịch, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005, tr. 122 – 125)
Xác định đề tài, chủ đề của truyện và nếu căn cứ để xác định chủ đề.
- Đề tài: truyện viết về lòng hiếu nghĩa, cốt cách cương trực.
- Chủ đề: truyện thể hiện lòng hiếu nghĩa và hành trình đấu tranh của Tịch Phương Bình nhằm giải nỗi oan, đòi công lí cho cha mình.
Phân tích nét tính cách nổi bật của nhân vật Tịch Phương Bình. Phân tích một số chi tiết tiêu biểu trong việc góp phần thể hiện tính cách ấy.
- Nhân vật Tịch Phương Bình trong truyện của Bồ Tùng Linh là một con người có tính cách mạnh mẽ và ngay thẳng. Những chi tiết góp phần thể hiện tính cách mạnh mẽ và ngay thẳng của nhân vật Tịch Phương Bình:
+ Khi phủ quan muốn giải hòa với Tịch Phương Bình để Tịch Phương Bình không gửi đơn kiện nữa thì Tịch Phương Bình nhất quyết không nhận: “Hai quan bí mật sai kẻ tâm phúc đến điều đình với Tịch, hứa cho một ngàn lạng vàng. Tịch không nghe”.
+ Bị Diêm Vương tra tấn, hành hình nhưng Tịch Phương Bình vẫn nhất quyết kiện lên để kêu oan cho cha: “... Tịch cực kì đau đớn, xương thịt cháy đen, khổ muốn chết mà không được...”
+ Tịch Phương Bình quyết liệt phản đối cái ác và không bao giờ thỏa hiệp với sự giả dối, sai trái: “Chính vì oan khuất chưa biết bày tỏ nơi đâu, nghĩ rằng đây là một viên quan to có thể tác oai, tác phúc, nên nói ra hết mọi điều oan ức khổ sở mà mình đã chịu đựng”. Dù đã chết và là hồn ma vất vưởng nhưng Tịch Phương Bình vẫn nhất quyết kêu oan, may mắn là ông đã gặp được Cửu Vương điện hạ của Thượng Đế và Nhị Lang thần.
Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong văn bản. Chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt về cách sử dụng yếu tố kì ảo trong văn bản so với cách sử dụng yếu tố này trong một truyện kể dân gian.
- Yếu tố kì ảo trong Tịch Phương Bình:
+ Sự hiện diện của hồn ma: Hồn ma của Tịch Phương Bình hiện ra để trả thù sau khi bị bức hại, một chi tiết phi thường mà không thể xảy ra trong đời thực.
+ Cuộc đối thoại giữa người sống và hồn ma: Việc nhân vật chính có thể giao tiếp với hồn ma là yếu tố kì ảo, đưa người đọc vào thế giới huyền bí, nơi người sống và người chết có thể tương tác.
- Vai trò của yếu tố kì ảo:
+ Phản ánh hiện thực xã hội: Yếu tố kì ảo trong tác phẩm nhấn mạnh sự bất công và sự đàn áp trong xã hội phong kiến. Qua đó, tác giả phê phán chế độ tàn bạo đã gây ra đau thương cho những người vô tội.
+ Tăng cường tính hấp dẫn và gợi mở: Yếu tố kì ảo giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn, mở ra một thế giới đầy bí ẩn và kích thích trí tưởng tượng của người đọc.
- So sánh với truyện kể dân gian:
+ Tương đồng: Yếu tố kì ảo trong cả Tịch Phương Bình và truyện dân gian đều phục vụ việc truyền tải thông điệp đạo đức hoặc phản ánh hiện thực xã hội. Chúng cũng giúp người đọc đi vào thế giới siêu nhiên, gợi lên những bài học triết lý.
+ Khác biệt: Trong khi truyện kể dân gian thường dùng yếu tố kì ảo để dạy những bài học cuộc sống đơn giản, Tịch Phương Bình của Bồ Tùng Linh lại mang tính triết lý sâu sắc hơn, phản ánh hiện thực xã hội đen tối của thời đại, cũng như sự trả thù và đấu tranh chống lại áp bức.
Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết Tịch Phương Bình là một truyện truyền kì? Phát biểu suy nghĩ của bạn về hiện thực đời sống xã hội đương thời và thái độ, quan điểm của tác giả trước hiện thực ấy.
- Dấu hiệu nhận biết Tịch Phương Bình là một truyện truyền kì:
+ Yếu tố kì ảo: Truyện chứa những yếu tố siêu nhiên như sự xuất hiện của hồn ma và cuộc đối thoại giữa người sống và người chết, điều này điển hình cho thể loại truyền kì.
+ Kết cấu truyện: Tác phẩm có cốt truyện đơn giản, với các sự kiện phi thường xảy ra trong bối cảnh đời sống thường nhật. Điều này cũng thường thấy trong các truyện truyền kì, nơi hiện thực và huyền ảo đan xen.
+ Thông điệp đạo đức: Tương tự các truyện truyền kì khác, Tịch Phương Bình không chỉ kể lại câu chuyện mà còn truyền tải thông điệp về công lý và phê phán những bất công trong xã hội
- Hiện thực đời sống xã hội và thái độ của tác giả:
+ Hiện thực xã hội: Tác phẩm phản ánh một xã hội phong kiến bất công, nơi quyền lực và sự áp bức lan rộng. Những người dân lương thiện phải chịu đựng sự đàn áp và đối xử tàn nhẫn từ giai cấp thống trị.
+ Thái độ của tác giả: Bồ Tùng Linh bày tỏ thái độ phê phán xã hội phong kiến tàn bạo. Ông sử dụng yếu tố kì ảo để nhấn mạnh sự phản kháng và mong muốn phục hồi công lý cho những người bị áp bức.
Giải thích nguyên nhân thắng kiện của Tịch Phương Bình. Liên hệ với nhân vật Ngô Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) và chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt về:
a. tỉnh cách của hai nhân vật Tịch Phương Bình và Ngô Tử Văn;
b, cách tạo tình huống truyện và thể hiện tính cách của nhân vật trong hai tác phẩm.
- Nguyên nhân thắng kiện của Tịch Phương Bình:
+ Tịch Phương Bình thắng kiện nhờ vào sự thông minh và kiên trì của mình. Ông không chấp nhận sự bất công, ngay cả khi đã qua đời. Ông tận dụng yếu tố siêu nhiên và khả năng của hồn ma để đấu tranh cho công lý, nhờ vào sự kết hợp giữa yếu tố kỳ ảo và tính cách cương quyết, ông cuối cùng đạt được sự công bằng.
- So sánh với Ngô Tử Văn:
a. Tính cách:
- Tương đồng: Cả Tịch Phương Bình và Ngô Tử Văn đều là những nhân vật chính trực, dũng cảm, không chấp nhận sự bất công. Họ dám đối đầu với cái ác và đấu tranh đến cùng vì lẽ phải.
- Khác biệt: Tịch Phương Bình dùng trí tuệ và sự bền bỉ để giành lại công lý sau khi chết, trong khi Ngô Tử Văn thể hiện tính cương trực qua hành động mạnh mẽ và quyết đoán trong cuộc sống, đặc biệt là khi chàng dám đốt đền để diệt trừ cái ác.
b. Cách tạo tình huống truyện và thể hiện tính cách nhân vật:
- Tương đồng: Cả hai tác phẩm đều sử dụng yếu tố kỳ ảo để xây dựng tình huống truyện, từ đó bộc lộ tính cách của nhân vật. Nhân vật chính phải đối mặt với những thử thách siêu nhiên để khẳng định lòng dũng cảm và sự chính trực.
- Khác biệt: Tịch Phương Bình tạo tình huống truyện dựa trên sự đấu tranh của linh hồn sau khi chết, tập trung vào cuộc chiến tinh thần, trong khi Chuyện chức phán sự đền Tản Viên nhấn mạnh hành động mạnh mẽ của Ngô Tử Văn khi còn sống, với các tình huống thử thách chủ yếu diễn ra trong thế giới hiện thực.
Theo sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một, trường hợp nào dưới đây không phải là loại câu sai logic thường gặp:
A. Câu có quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần, các vế không logic do dùng sai từ ngữ liên kết.
B. Câu chứa các thành phần đẳng lập không cùng phạm trù ngữ nghĩa.
C. Câu có quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần, các vế không logic do dùng sai từ ngữ liên kết.
D. Câu có các hành động được sắp xếp không theo một trật tự hợp lí.
Chọn đáp án: C. Câu có quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần, các vế không logic do dùng sai từ ngữ liên kết.
Chỉ ra lỗi logic trong các câu dưới đây và nêu cách sửa:
a. Người viết đã lấy các ví dụ trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều để chứng minh cho nhận định này.
b. Mặc dù đến muộn nhưng nó không kịp lên chiếc xe buýt cuối cùng.
c. Vì quá đói, nó xúc từng muỗng nhai ngấu nghiến và mở hộp cơm trưa ra.
a. Người viết đã lấy các ví dụ trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều để chứng minh cho nhận định này.
Phân tích lỗi: Việc các thành phần đẳng lập (“Nguyễn Trãi”, “Hồ Xuân Hương”, “Truyện Kiều”) không tương đồng về phạm trù ngữ nghĩa khiến câu sai logic. Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương là tên tác giả trong khi Truyện Kiều là tên tác phẩm. Cách sửa: Thêm bớt, thay đổi từ ngữ để các thành phần đẳng lập tương đồng về phạm trù ngữ nghĩa. Chẳng hạn:
(1) Người viết đã lấy các ví dụ trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du để chứng minh cho nhận định này.
(2) Người viết đã lấy các ví dụ trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều của Nguyễn Du để chứng minh cho nhận định này.
b. Mặc dù đến muộn nhưng nó không kịp lên chiếc xe buýt cuối cùng.
Phân tích lỗi: Câu sai logic do dùng sai cặp từ ngữ liên kết “mặc dù …. nhưng”.
Cách sửa: Thay đổi cặp từ ngữ liên kết. Vì đến muộn nên nó không kịp lên chiếc xe buýt cuối cùng.
c. Vì quá đói, nó xúc từng muỗng nhai ngấu nghiến và mở hộp cơm trưa ra.
Phân tích lỗi: Việc sắp xếp các hành động không theo một trật tự hợp lí dẫn đến câu sai logic.
Cách sửa: Sắp xếp các hành động theo một trật tự hợp lí. Vì quá đói, nó mở hộp cơm trưa ra, xúc từng muỗng nhai ngấu nghiến.
Hãy tìm ít nhất ba câu sai logic trên báo chí hoặc trong lời nói hằng ngày và nêu cách sửa.
- Câu: "Anh ấy cao nhất lớp nhưng lại không cao bằng Huy."
+ Sai logic: Câu nói này mâu thuẫn vì nếu "cao nhất lớp" thì không thể "không cao bằng Huy".
+ Cách sửa: "Anh ấy cao gần nhất lớp, nhưng không cao bằng Huy."
- Câu: "Năm nay số lượng sinh viên giảm nhiều hơn so với năm trước, nhưng số sinh viên nhập học vẫn tăng."
+ Sai logic: Câu này không hợp lý vì nếu "số lượng sinh viên giảm" thì không thể "sinh viên nhập học tăng".
+ Cách sửa: "Mặc dù số lượng sinh viên tốt nghiệp giảm, số lượng sinh viên nhập học lại tăng so với năm trước."
- Câu: "Tôi thấy cái áo này hơi đắt nhưng rẻ hơn các cửa hàng khác."
+ Sai logic: Mâu thuẫn vì đã cho rằng "áo này hơi đắt" nhưng lại "rẻ hơn các cửa hàng khác".
+ Cách sửa: "Mặc dù cái áo này không rẻ, nó vẫn rẻ hơn các cửa hàng khác."
Theo bạn, lỗi sai logic có phải chỉ xuất hiện trong nội bộ một câu hay không Vì sao?
Logic được hiểu là: (1) trật tự chặt chẽ, tất yếu giữa các hiện tượng; (2) sự gắn bó chặt chẽ giữa các ý, cách suy luận chặt chẽ. Lỗi sai logic xảy ra khi quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế, các các bộ phận trong câu; giữa các câu trong đoạn; giữa các đoạn trong văn bản bị mâu thuẫn, không hợp logic. Như vậy, lỗi logic không chỉ xuất hiện trong nội bộ một câu mà còn xuất hiện trong các trường hợp khác nữa.
Chỉ ra điểm chung về lỗi sai logic trong các trường hợp sau và nêu cách sửa:
a. Sách không chỉ giúp chúng ta nâng cao kiến thức mà còn là kho tàng tri thức vô tận về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.
b. Tôi muốn học nhạc cụ dân tộc hoặc đàn tranh.
a. Sách không chỉ giúp chúng ta nâng cao kiến thức mà còn là kho tàng tri thức vô tận về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.
b. Tôi muốn học nhạc cụ dân tộc hoặc đàn tranh.
Lập bảng đối chiếu yêu cầu nội dung các phần trong bố cục của bài viết so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ và bài viết so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện kí hoặc kịch. Có thể sử dụng mẫu bảng sau (làm vào vở):
Các phần (1) | So sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (2) | So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch (3) |
Mở bài |
|
|
Thân bài |
|
|
Kết bài |
|
|
Các phần (1) | So sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (2) | So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch (3) |
Mở bài | Giới thiệu hai tác phẩm thơ và nêu nội dung, vấn đề cần so sánh, đánh giá. | Giới thiệu hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch và nếu nội dung, vấn đề cần so sánh, đánh giá. |
Thân bài | - Phân tích, so sánh hai tác phẩm để làm rõ điểm tương đồng / khác biệt về đặc điểm/ giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm thơ. - Có thể lần lượt chỉ ra những điểm tương đồng/ khác biệt về nội dung/ hình thức hoặc điểm tương đồng/ khác biệt trên từng khía cạnh của nội dung, vấn đề trong hai tác phẩm thơ. | - Phân tích, so sánh hai tác phẩm để làm rõ điểm tương đồng/ khác biệt về đặc điểm/ giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch. - Có thể lần lượt chỉ ra những điểm tương đồng/ khác biệt về nội dung/ hình thức hoặc điểm tương đồng/ khác biệt trên từng khía cạnh của nội dung, vấn đề trong hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch. |
Kết bài | Khẳng định lại đặc điểm thể loại của tác phẩm thơ; những giá trị chung và nét độc đáo ở mỗi tác phẩm; nêu cảm nghĩ về phong cách sáng tác của mỗi tác giả. | Khẳng định lại đặc điểm thể loại của tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch; những giá trị chung và nét độc đáo ở mỗi tác phẩm; nêu cảm nghĩ về phong cách sáng tác của mỗi tác giả. |
Lập bảng đối chiếu so sánh, đánh giá các yếu tố thuộc nội dung, nghệ thuật trong hai tác phẩm truyện và hai tác phẩm kịch. Có thể sử dụng mẫu bảng sau (làm vào vở):
Nội dung/ hình thức | So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện | So sánh, đánh giá hai tác phẩm kịch |
So sánh các yếu tố nội dung | (Liệt kê các yếu tố cơ bản về nội dung của thể loại cần so sánh) …. | (Liệt kê các yếu tố cơ bản về nghệ thuật của thể loại cần so sánh) …. |
So sánh các yếu tố nghệ thuật
| (Liệt kê các yếu tố cơ bản về nội dung của thể loại cần so sánh) … | (Liệt kê các yếu tố cơ bản về nghệ thuật của thể loại cần so sánh) … |
Nội dung/ hình thức | So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện | So sánh, đánh giá hai tác phẩm kịch |
So sánh các yếu tố nội dung | Nội dung bao quát/ chủ đề/ tư tưởng, thông điệp | Nội dung bao quát/ chủ đề/ tư tưởng, thông điệp |
So sánh các yếu tố nghệ thuật | Cách xây dựng cốt truyện, nhân vật; cách lựa chọn sử dụng ngôi kể, điểm nhìn; sử dụng phối hợp lời của người kể chuyện, lời của nhân vật,... | Cách dẫn dắt xung đột/ xây dựng nhân vật qua đối thoại, độc thoại/ cách tổ chức các cảnh, các lớp kịch,... |
Lập dàn ý cho một trong các đề bài sau:
a. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá vai trò của yếu tố kì ảo trong hai tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) và Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân).
b. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hình tượng nhân vật Sơn Tinh trong hai tác phẩm Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân) và Sơn Tinh, Thuỷ Tinh của Nguyễn Nhược Pháp.
c. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá về cách xây dựng nhân vật bi kịch trong hai văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng đài (trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng) và Sống hay không sống – đó là vấn đề (trích Hăm-lét, U. Sếch-xpia).
a. Gợi ý:
1. Mở bài
* Giới thiệu chung::
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ và Nguyễn Tuân.
- Giới thiệu hai tác phẩm: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và Trên đỉnh non Tản.
- Nêu vấn đề nghị luận: So sánh và đánh giá vai trò của yếu tố kì ảo trong hai tác phẩm
2. Thân bài
- Vai trò của yếu tố kì ảo trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ):
+ Mô tả yếu tố kì ảo: Các yếu tố kỳ ảo như phép thuật, sự xuất hiện của các thần linh, và các hiện tượng không giải thích được.
+ Tác dụng: Tăng cường sự huyền bí và tạo nên không khí thần thoại, giúp làm nổi bật các bài học đạo đức và ý nghĩa xã hội trong câu chuyện.
- Vai trò của yếu tố kì ảo trong Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân):
+ Mô tả yếu tố kì ảo: Những mô tả về vẻ đẹp kỳ vĩ của núi Tản Viên, các yếu tố thần thoại như sự giao thoa giữa con người và thiên nhiên.
+ Tác dụng: Tạo nên hình ảnh phong cảnh hùng vĩ, làm nổi bật vẻ đẹp tự nhiên và tinh thần của con người trong mối liên hệ với thiên nhiên
- So sánh và đánh giá:
+ Tương đồng: Cả hai tác phẩm đều sử dụng yếu tố kỳ ảo để nâng cao giá trị nghệ thuật và thể hiện các ý tưởng trung tâm của tác phẩm.
+ Khác biệt: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên chú trọng vào các yếu tố thần thoại để phản ánh các giá trị đạo đức và xã hội, trong khi Trên đỉnh non Tản tập trung vào mô tả vẻ đẹp thiên nhiên và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên
3. Kết bài
- Tổng kết:
+ Tóm tắt những điểm nổi bật về vai trò của yếu tố kì ảo trong hai tác phẩm.
+ Đánh giá chung về cách mỗi tác giả sử dụng yếu tố kỳ ảo để đạt được mục tiêu nghệ thuật và ý nghĩa của tác phẩm
- Nhận xét và liên hệ:
+ Nhận xét về ảnh hưởng của yếu tố kì ảo trong việc làm nổi bật các chủ đề chính của từng tác phẩm.
+ Liên hệ với ảnh hưởng của yếu tố kì ảo trong văn học dân gian và hiện đại
b. Gợi ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung:
+ Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và Nguyễn Nhược Pháp.
+ Giới thiệu hai tác phẩm: Trên đỉnh non Tản và Sơn Tinh, Thủy Tinh
+ Nêu vấn đề nghị luận: So sánh và đánh giá hình tượng nhân vật Sơn Tinh trong hai tác phẩm
2. Thân bài
- Hình tượng Sơn Tinh trong Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân):
+ Mô tả hình tượng: Sơn Tinh được mô tả là một nhân vật hào hùng, gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên, đặc biệt là núi Tản Viên.
+ Đặc điểm và vai trò: Nhấn mạnh tính cách kiên cường, vẻ đẹp kỳ vĩ, và sự hòa hợp với thiên nhiên. Sơn Tinh không chỉ là một người bảo vệ núi non mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp tự nhiên và sức mạnh của thiên nhiên.
- Hình tượng Sơn Tinh trong Sơn Tinh, Thủy Tinh (Nguyễn Nhược Pháp):
+ Mô tả hình tượng: Sơn Tinh trong tác phẩm này thường được miêu tả với tính cách anh hùng, mạnh mẽ, và có khả năng siêu phàm.
+ Đặc điểm và vai trò: Sơn Tinh là người chiến thắng trong cuộc chiến chống lại Thủy Tinh, thể hiện sức mạnh và trí tuệ, đồng thời tượng trưng cho sự bảo vệ chính nghĩa và nhân dân.
- So sánh và đánh giá:
+ Tương đồng: Cả hai tác phẩm đều thể hiện Sơn Tinh như một nhân vật anh hùng với sức mạnh phi thường, bảo vệ công lý và chống lại các thế lực xâm lược.
+ Khác biệt: Trong Trên đỉnh non Tản, Sơn Tinh được nhấn mạnh như một biểu tượng của thiên nhiên và sự hòa hợp với nó, trong khi Sơn Tinh, Thủy Tinh tập trung vào khía cạnh anh hùng và chiến đấu của nhân vật
3. Kết bài
- Tổng kết:
+ Tóm tắt các điểm nổi bật về hình tượng Sơn Tinh trong từng tác phẩm.
+ Đánh giá chung về sự khác biệt và tương đồng trong cách xây dựng hình tượng Sơn Tinh của mỗi tác giả.
- Nhận xét và liên hệ:
+ Nhận xét về ảnh hưởng của hình tượng Sơn Tinh đối với ý nghĩa và chủ đề của từng tác phẩm.
+ Liên hệ với hình tượng Sơn Tinh trong văn học dân gian và các tác phẩm khác.
c. Gợi ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung:
+ Giới thiệu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng và William Shakespeare.
+ Giới thiệu hai tác phẩm: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài (trích từ Vũ Như Tô) và Hamlet (Sống hay không sống - đó là vấn đề).
+ Nêu vấn đề nghị luận: So sánh và đánh giá cách xây dựng hình tượng nhân vật bi kịch trong hai tác phẩm
2. Thân bài
- Hình tượng nhân vật bi kịch trong Vĩnh biệt Cửu Trùng đài (Nguyễn Huy Tưởng):
+ Mô tả nhân vật: Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch vĩ đại, bị giằng xé giữa lý tưởng và thực tại, giữa lòng yêu nước và tình yêu cá nhân.
+ Tính cách và xung đột: Nhấn mạnh những xung đột nội tâm, sự thất bại trong việc thực hiện lý tưởng xây dựng đài cửu trùng và sự phản bội từ những người xung quanh.
+ Đánh giá: Nhân vật bi kịch của Nguyễn Huy Tưởng thể hiện sự đấu tranh không ngừng với số phận và xã hội, đồng thời phản ánh những quan điểm sâu sắc về bản chất của con người và xã hội.
- Hình tượng nhân vật bi kịch trong Hamlet (William Shakespeare):
+ Mô tả nhân vật: Hamlet là nhân vật bi kịch nổi tiếng với sự phân vân, do dự, và cuộc đấu tranh nội tâm không dứt.
+ Tính cách và xung đột: Nhấn mạnh những xung đột nội tâm, sự tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự mâu thuẫn giữa trách nhiệm và cảm xúc cá nhân
+ Đánh giá: Hamlet đại diện cho sự đấu tranh cá nhân với bản chất của con người, những vấn đề về sự tồn tại và ý nghĩa cuộc sống, cùng với sự mâu thuẫn giữa lý trí và cảm xúc.
- So sánh và đánh giá:
+ Tương đồng: Cả hai nhân vật đều trải qua cuộc đấu tranh nội tâm sâu sắc và thể hiện sự xung đột giữa lý tưởng và thực tại. Họ đều phải đối mặt với sự thất bại và đau khổ.
+ Khác biệt: Vũ Như Tô là biểu tượng của sự thất bại trong việc đạt được lý tưởng xã hội và cá nhân, trong khi Hamlet đại diện cho sự phân vân và mâu thuẫn nội tâm về sự tồn tại và trách nhiệm cá nhân. Vũ Như Tô bị giam cầm trong các yếu tố xã hội và chính trị, còn Hamlet bị giằng xé bởi các yếu tố tâm lý và triết lý
3. Kết bài
- Tổng kết:
+ Tóm tắt các điểm nổi bật về hình tượng nhân vật bi kịch trong từng tác phẩm.
+ Đánh giá chung về sự khác biệt và tương đồng trong cách xây dựng hình tượng nhân vật bi kịch của mỗi tác giả.
- Nhận xét và liên hệ:
+ Nhận xét về ảnh hưởng của hình tượng nhân vật bi kịch đối với chủ đề và thông điệp của từng tác phẩm.
+ Liên hệ với các tác phẩm bi kịch khác trong văn học cổ điển và hiện đại.
Dựa vào dàn ý mà bạn đã lập khi thực hiện Bài tập 3, hãy chọn một ý phần thân bài trong dàn ý viết thành một đoạn văn khoảng 300 chữ (có câu mở đoạn, các câu thân đoạn và câu kết đoạn), chỉ ra điểm tương đồng/ điểm khác biệt giữa hai tác phẩm.
Đoạn văn mẫu tham khảo:
Trước hết, trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, yếu tố kỳ ảo xuất hiện qua các chi tiết như Tử Văn gặp gỡ Thổ Công, Diêm Vương hay hành trình đến âm phủ để đòi công lý. Yếu tố kỳ ảo ở đây có vai trò tôn vinh chính nghĩa, giúp Nguyễn Dữ thể hiện rõ tư tưởng đạo đức của mình. Nhân vật Tử Văn đại diện cho người chính trực, can đảm, không ngại đương đầu với cái ác để bảo vệ sự công bằng. Hành trình của Tử Văn đến âm phủ và chiến thắng tên tướng giặc là sự khẳng định niềm tin vào công lý, rằng cái ác dù mưu mô đến đâu cũng không thể thoát khỏi sự trừng phạt. Yếu tố kỳ ảo, vì thế, không chỉ làm tăng thêm kịch tính cho câu chuyện mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về luật nhân quả, về niềm tin rằng ở bất cứ đâu, thiện và ác đều được phân minh, con người chính trực sẽ được bảo vệ và tôn vinh. Câu chuyện mang một ý nghĩa giáo dục, hướng người đọc đến những giá trị đạo đức bền vững, giúp củng cố niềm tin vào sự công bằng và nhân quả trong cuộc sống. Trái ngược với cách dùng kỳ ảo của Nguyễn Dữ, trong Trên đỉnh non Tản, Nguyễn Tuân lại sử dụng yếu tố này để tạo nên bức tranh huyền bí, lãng mạn về thiên nhiên Tản Viên. Những tầng mây, sương khói, ánh nắng chuyển màu trên đỉnh núi được tác giả miêu tả như một thế giới kỳ diệu, thơ mộng, nơi con người như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Yếu tố kỳ ảo ở đây không nhằm phân định thiện – ác, mà chỉ nhằm làm nổi bật vẻ đẹp hùng vĩ, huyền ảo của thiên nhiên đất nước. Nguyễn Tuân nhìn thiên nhiên qua lăng kính lãng mạn, yêu mến, để từ đó khơi dậy lòng tự hào và tình yêu đất nước trong lòng người đọc. Qua các hình ảnh kỳ ảo, nhà văn khéo léo dẫn dắt độc giả vào một thế giới thơ mộng, đẹp đến mức siêu thực, để ai cũng có thể cảm nhận được sự tuyệt vời của thiên nhiên Tản Viên. Yếu tố kỳ ảo vì vậy mang tính thẩm mỹ và giúp truyền tải một cách tinh tế thông điệp về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ và trân trọng vẻ đẹp tự nhiên của dân tộc.
Nêu một số câu hỏi bạn cần đặt ra trong bước Chuẩn bị bài nói.
Các câu hỏi cần được đặt ra và trả lời để xác định mục đích nói, đối tượng người nghe, không gian, thời gian nói, trong khâu chuẩn bị:
• Tôi so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ nhằm mục đích gì?
• Người nghe bài nói của tôi là ai?
• Tôi sẽ trình bày bài nói ở đâu và trong thời gian bao lâu?
Nêu một số công việc hoặc lưu ý trong khi chuyển dàn ý bạn đã lập cho bài viết thành dàn ý của bài nói so sánh, đánh giá hai tác phẩm.
Lưu ý:
- Nhận thức rõ sự tương đồng khác biệt giữa dàn ý bài viết và đề cương bài nói ngay cả khi nói và viết cùng đề tài/ nội dung chính.
- Cần chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ.
Nêu một vài điểm mạnh, điểm yếu của bản thân trong khi trình bày bài nói trước nhiều người và cho biết bạn sẽ phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của mình như thế nào khi trình bày bài nói này.
* Điểm mạnh
- Giọng nói rõ ràng và truyền cảm:
+ Phát huy: Bạn có thể tận dụng giọng nói của mình để nhấn mạnh các ý quan trọng, tạo cảm hứng cho khán giả. Trong bài nói so sánh, hãy sử dụng giọng điệu truyền cảm để làm nổi bật sự khác biệt giữa hai tác phẩm và thu hút sự chú ý.
- Khả năng tổ chức và trình bày ý tưởng logic:
+ Phát huy: Tận dụng khả năng tổ chức logic để sắp xếp bài nói một cách mạch lạc. Điều này sẽ giúp khán giả dễ dàng theo dõi các luận điểm và so sánh của bạn. Trước khi trình bày, hãy lập một dàn ý rõ ràng và luyện tập để đảm bảo rằng các ý được chuyển tiếp một cách tự nhiên.
- Khả năng tương tác tốt với khán giả:
+ Phát huy: Sử dụng khả năng tương tác để đặt câu hỏi, gợi ý cho khán giả suy nghĩ về nội dung bài nói. Khi trình bày, bạn có thể nhìn vào khán giả, tạo kết nối thông qua ánh mắt và các câu hỏi mở, giúp tăng cường sự tham gia của họ
* Điểm yếu
- Cảm giác lo lắng, hồi hộp:
+ Khắc phục: Để giảm bớt lo lắng, hãy luyện tập bài nói nhiều lần trước gương hoặc trước bạn bè, đồng nghiệp. Kỹ thuật thở sâu cũng có thể giúp bạn thư giãn trước khi lên sân khấu. Ngoài ra, hãy tập trung vào nội dung bạn đang truyền đạt, thay vì lo lắng về sự phán xét từ khán giả.
- Khó kiểm soát thời gian:
+ Khắc phục: Để đảm bảo bạn không nói quá thời gian quy định, hãy tập luyện với đồng hồ bấm giờ. Bạn cũng có thể đặt ra các cột mốc thời gian cho từng phần của bài nói, giúp bạn điều chỉnh tốc độ trình bày khi cần thiết.
- Ngôn ngữ cơ thể chưa tự nhiên:
+ Khắc phục: Để cải thiện ngôn ngữ cơ thể, hãy luyện tập trước gương để điều chỉnh cử chỉ, ánh mắt và tư thế sao cho tự nhiên và phù hợp. Bạn cũng có thể ghi hình bài nói của mình để xem lại và phát hiện các điểm cần cải thiện. Thực hành nhiều sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn khi đứng trước đám đông.
* Kế hoạch phát huy và khắc phục trong bài nói:
- Phát huy: Tập trung vào việc sử dụng giọng nói truyền cảm và khả năng tổ chức logic để tạo ấn tượng với khán giả. Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu và tương tác một cách tự nhiên.
- Khắc phục: Luyện tập trước nhiều lần để giảm bớt lo lắng và làm quen với việc kiểm soát thời gian. Cố gắng sử dụng ngôn ngữ cơ thể tự tin và linh hoạt hơn trong quá trình trình bày.
Sử dụng Bảng kiểm kĩ năng so sánh, đánh giá hai tác phẩm văn học dưới đây, tự đánh giá bài nói của bạn khi luyện tập ở nhà.
Nội dung kiểm tra | Đạt | Không đạt | |
Mở đầu | Lời chào ban đầu và tự giới thiệu |
|
|
Giới thiệu khái quát về hai tác phẩm cần so sánh (tên tác phẩm, tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác,...) |
|
| |
Nêu khái quát nội dung cần so sánh, đánh giá |
|
| |
Nội dung chính | Trình bày ý kiến so sánh điểm tương đồng của hai tác phẩm |
|
|
Trình bày ý kiến so sánh điểm khác biệt của hai tác phẩm |
|
| |
Thể hiện ý kiến đánh giá của người nói về phong cách sáng tác của hai tác phẩm |
|
| |
Có lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu lấy từ hai tác phẩm |
|
| |
Kết thúc | Tóm tắt được nội dung so sánh, đánh giá hai tác phẩm |
|
|
Nêu vấn đề thảo luận và mời người nghe phản hồi, trao đổi |
|
| |
Kĩ năng trình bày, diễn đạt | Diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, đáp ứng yêu cầu của kiểu bài |
|
|
Kết hợp sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ để làm rõ nội dung trình bày |
|
| |
Tương tác tích cực với người nghe |
|
| |
Phản hồi thoả đáng những câu hỏi, ý kiến của người nghe |
|
| |
Em tự đánh giá bài nói của mình theo bảng kiểm đã đưa ra. Từ đó rút ra cho mình những kinh nghiệm cần thiết khi nói và nghe So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch.
