Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 2. Những ô cửa nhìn ra cuộc sống có đáp án
21 câu hỏi
Phương án nào dưới đây nếu không đúng thể loại ưa chuộng của phong cách sáng tác hiện thực?
A. tiểu thuyết
B. truyện ngắn
C. phóng sự
D. thơ trữ tình
Chọn đáp án: D. thơ trữ tình
Phương án nào dưới đây nêu đúng đặc điểm của phong cách hiện thực?
A. đề cao cảm xúc và trí tưởng tượng của con người
B. chú trọng việc khắc hoạ bức tranh chân thực về cuộc sống, môi trường xã hội
C. có khuynh hướng phá vỡ các quy phạm thu
D. đề cao tính chất khuôn mẫu trong chuẩn mực về tư tưởng và nghệ thuật
Chọn đáp án: B. chú trọng việc khắc hoạ bức tranh chân thực về cuộc sống, môi trường xã hội
Phương án nào dưới đây nêu không đúng về đặc điểm của phong cách lãng mạn?
A. phá vỡ các chuẩn mực và quy phạm
B. đề cao trí tưởng tượng, sự bay bổng
C. chú trọng sự phóng khoáng, tự do
D. sử dụng nhiều điển tích, điển cố
Chọn đáp án: D. sử dụng nhiều điển tích, điển cố
Tóm tắt các sự kiện chính được kể trong truyện Lão Hạc. Phân tích một nét tính cách mà theo bạn là nổi bật nhất ở nhân vật lão Hạc.
1) Tóm tắt:
– Lão Hạc sang nhà ông giáo tâm sự về việc đã bán chó; ngỏ ý gửi vườn và một số tiền nhờ ông giáo lo hậu sự cho mình; chấp nhận cuộc sống tằn tiện (ăn củ ráy trừ bữa,...).
– Nghe Binh Tư nói về việc lão Hạc xin bả chó, ông giáo đã có lúc hiểu lầm, thất vọng
về lão Hạc.
– Nhưng hoá ra Lão Hạc xin bả chó để tự tử. Chứng kiến cái chết của lão Hạc, ông giáo hiểu hơn về lão; tự hứa sẽ giữ gìn mảnh vườn cẩn thận để giao lại cho con trai lão.
2) Nét tính cách nổi bật nhất của nhân vật lão Hạc:
Bạn có thể chọn phân tích một trong hai nét khá nổi bật sau đây ở nhân vật lão Hạc:
a) Nhân hậu, giàu tình thương
b) Giàu lòng tự trọng
Tuy nhiên, việc phân tích không chỉ là đơn giản nêu tên nét tính cách mà phải tìm được các chi tiết thuyết minh cho nét tính cách ấy.
Chẳng hạn, nếu chọn ý (a), có thể phân tích:
(a) Lão Hạc là người nhân hậu, giàu tình thương. Nét tính cách này thể hiện qua nhiều chi tiết:
– Lão toan lo mọi thứ cho cuộc đời con; cố giữ bằng được mảnh vườn dành dụm cho tương lai của con.
– Lão đau khổ vì sợ mất con khi con nộp thẻ đi phu.
– Lão thương “cậu vàng” như thương con.
–…
Nếu chọn ý (b), có thể phân tích:
(b) Lão Hạc là người giàu lòng tự trọng. Nét tính cách này thể hiện qua các chi tiết:
– Dù nghèo đói vẫn dành dụm tiền để lo hậu sự cho bản thân, không để phiền luy đến hàng xóm; không nhận giúp đỡ của ông giáo vì biết ông giáo cũng không khá giả gì.
– Tự trách móc dằn vặt khi đã lừa gạt một con chó.
– Chọn cái chết bằng bả chó để không phiền luỵ đến ai.
Bạn có nhận xét gì về thái độ, tình cảm của ông giáo đối với lão Hạc?
(a) Những biểu hiện thái độ, tình cảm của ông giáo, chẳng hạn:
– Cảm động khi nhớ lại nguồn gốc của con chó và hoàn cảnh khốn khó của lão Hạc;
– Xót xa, đồng cảm khi lão Hạc cho biết đã bán “cậu Vàng” của lão.
– Thương cảm xen lẫn trách móc khi lão Hạc ăn khoai ráy qua ngày và từ chối sự giúp đỡ của ông.
– Đau xót, thất vọng khi nghe Binh Tư nói lão Hạc xin bả chó với mục đích đáng ngờ.
– Xúc động đau buồn nhưng càng quý trọng lão Hạc hơn khi chứng kiến cái chết của lão Hạc.
(b) Nhận xét về thái độ, tình cảm của ông giáo đối với lão Hạc:
– Thái độ, tình cảm của ông giáo dành cho lão Hạc xuất phát từ tấm lòng của một người trí thức nghèo, gần gũi, thân thiện với một lão hàng xóm, nghèo khó, đơn độc;
– Thái độ, tình cảm của ông giáo dành cho lão Hạc có những thay đổi theo diễn biến truyện (qua: việc lão Hạc bán chó; việc lão Hạc ăn khoai ráy qua ngày và từ chối sự giúp đỡ của ông; việc lão Hạc xin bả chó; việc chứng kiến cái chết của lão Hạc).
– Chính sự gần gũi, thân thiện và thái độ, tình cảm chân thành ấy đã giúp ông giáo rút ra được bài học quý: cần phải làm gì, bằng cách nào để hiểu đúng “những người quanh ta”.
Theo bạn, truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam được viết theo phong cách sáng tác nào? Dựa vào đâu để bạn khẳng định như vậy?
Nội dung xem xét | Phong cách lãng mạn | Phong cách hiện thực | Biểu hiện qua văn bản Hai đứa trẻ |
Đề tài và cảm hứng | Tình cảm chủ quan và trí tưởng tượng bay bổng (hiện thực được miêu tả một cách chủ quan thông qua lăng kính tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng) | Hiện thực khách quan của đời sống hằng ngày (hiện thực được miêu tả một cách khách quan như nó đang tồn tại, trong tính quy luật của nó) | Thạch Lam miêu tả vừa khách quan cuộc đời của những người dân phố huyện lầm than, vừa chủ quan qua thế giới nội tâm và những cảm xúc trong trẻo, trắc ẩn của Liên. |
Nguyên tắc tổ chức hệ thống hình ảnh, từ ngữ, nhân vật | Sự phóng khoáng, tự do, bay bổng, phá vỡ các chuẩn mực và quy phạm | Tính điển hình cao, đại diện cho những số phận, cảnh đời có thực và thể hiện những mâu thuẫn xã hội gay gắt | - Những hình ảnh rực rỡ, bay bổng đại diện cho ước mơ, khát vọng: đoàn tàu đêm - Những hình ảnh chân thực điển hình cho những cảnh đời có thực: hàng nước chị Tí, bà cụ Thi hơi điên, những đứa trẻ nghèo,... |
Đọc văn bản Đời thừa và thực hiện các yêu cầu nêu phía dưới:
ĐỜI THỪA
Nam Cao
Từ ngửng mặt lên nhìn Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói, nhưng lại không dám nói. Hắn đang đọc chăm chú quá. Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút. Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra. Cái trán rộng hơi nhăn. Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy. Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy. Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn. Từ thấy sợ...
Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình của một con chó đối với người nuôi. Từ bản tính rất dịu dàng, rất tận tâm. Vả lại Hộ, đối với Từ, còn là một ân nhân nữa. Hộ đã cúi xuống nỗi khổ đau của Từ. Hộ đã cúi xuống và đã đưa một bàn tay cầm lấy cái bàn tay mềm yếu của Từ, giữa lúc Từ đau đớn không bờ bến: Từ bị tình nhân bỏ với một đứa con vừa mới đẻ. Gã tình nhân vô liêm sỉ ấy, Từ đã yêu hắn bằng cả tấm lòng yêu lúc ban đầu. Từ đã tin như người ta tin một vị thần. Từ đã hiến mình một cách dè dặt tâm hồn và xác thịt. Và khi biết mình sắp có một đứa con, Từ không hề hối hận một mảy may: Từ rất bằng lòng. Ấy thế mà hắn đã phụ Từ, phụ một cách hèn nhát và khốn nạn, ngay chính vào lúc Từ cần đến hắn để bảo tồn sự sống và danh dự, lúc đứa con ra đời. Từ sửng sốt vô cùng. Từ không tin ở sự thật rành rành. Rồi khi sự sửng sốt qua thì Từ khóc. Từ khóc như mưa, khóc tưởng chẳng bao giờ còn lặng được. Từ khóc, và ôm con ngồi nhịn đói, bởi vì Từ chẳng còn biết trông cậy vào ai, trừ bà mẹ già mù và quanh năm, nay ốm, mai đau, mà Từ vẫn phải nuôi. Bà mẹ già biết làm sao? Bà chỉ còn một cách là còn được ít nước mắt nào thì rỏ cả ra mà khóc với con và cả mẹ lẫn con chỉ còn một cách là khóc cho đến khi nào bao nhiêu xương thịt đều chảy ra thành nước mắt hết, để rồi cùng chết cả. Giữa lúc ấy thì Hộ mở rộng đôi cánh tay ra, đón lấy Từ. Hộ nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ. Hộ nhận làm bố cho đứa con thơ. Vì muốn yên ủi Từ và cứu lấy danh dự của Từ, Hộ đã chính thức nhận Từ làm vợ. Rồi Hộ đứng làm ma cho bà mẹ Từ, khi bà cụ mất. Biết bao nhiều là ân nghĩa! Từ có yêu Hộ đến đâu, có chịu khó đến đâu, có làm nô lệ cho Hộ suốt đời Từ nữa, thì cũng chưa đủ để mà đền ơn. Bởi thế, nên luôn mấy năm trời, Hộ thấy Từ là một người vợ rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm. Và đáng lẽ thì Hộ phải sung sướng lắm. [1]
Nhưng Hộ chỉ sung sướng được ít lâu thôi. Sau cái hành vi đẹp của hắn, và thấy cái hành vi ấy được trả công bằng một tình yêu rất êm đềm, hắn chỉ còn nghĩ đến gia đình, chỉ cốt làm sao nuôi được gia đình. Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Đói rét không có nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn'. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời... Thế rồi, khi đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hắn hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi khổ đau của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách. Những bận rộn đẹp nhẹp, vô nghĩa lí, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn. Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn kí tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn... Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương! Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là để tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt phèo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có... Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư? Hắn bỏ liều, hắn ruồng rẫy chúng, hắn hi sinh như người ta vẫn nói ư? Đã một vài lần hắn thấy ý nghĩ trên đây thoáng qua đầu. Và hắn nghĩ đến câu nói hùng hồn của một nhà triết học kia: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ. Nhưng hắn lại nghĩ thêm rằng: Từ rất đáng yêu, rất đáng thương, hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường; nhưng hắn vẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái. Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình. Vả lại hèn biết bao là một thằng con trai không nuôi nổi vợ, con thì còn mong làm nên trò gì nữa?... Hắn tự bảo: “Ta đành phí đi một vài năm để kiếm tiền. Khi Từ đã có một số vốn con để làm ăn! Sự sinh hoạt lúc này chẳng dễ dàng đâu!”. Từ khi đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc. Từ săn sóc chúng đã đủ ốm người rồi, chẳng còn có thể làm thêm một việc khác nữa. Hộ điên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên lên vì, nhà không lúc nào được yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng văng mát ở bên ngoài đã làm cái trán nóng bừng nguội bớt đi và lòng trút nhẹ được ít đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn. Hắn đi lang thang, không chủ đích. Rồi khi gió nhiều uất giận, hắn tạt vào một tiệm giải khát nào mà uống một cốc bia hay cốc nước chanh. Hắn tìm một người bạn thân nào để nói chuyện văn chương, ngỏ ý kiến về một vài quyển sách mới ra, một vài tên kí mới trên các báo, phác hoạ một cái chương trình mà hắn biết ngay khi nói là chẳng bao giờ hắn có thể thực hành, rồi lặng lẽ nghĩ đến các tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán. Hắn thừ mặt ra, như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì rất xa xôi... những mộng đẹp ngày xưa... một con người rất đáng yêu đã chẳng còn là mình nữa. Hắn lắc đầu tự bảo: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi”. Và hắn nghĩ đến cái tên hắn đang mờ dần đằng sau những tên khác mới trồi ra, rực rỡ hơn... Rồi hắn ra về, thờ thẫn. Những sự bực tức đã chìm đi. Lòng : việc được kể từ điểm hắn không còn sôi nổi nữa, nhưng rũ buồn... [2]
***
Ít lâu nay, mỗi lần ra đi, Hộ không chỉ trở về buồn bã mà thôi. Hắn say mềm. Thường thường hắn đã ngủ một nửa ngay từ khi còn ở dọc đường; và vừa về đến nhà, chưa kịp thay quần áo, tháo giày, đã đổ như một khúc gỗ xuống bất cứ một cái giường nào, ngủ say như chết. Từ phải chờ khi con ngủ mê, rón rén lừa con, dậy lại tháo giày, cởi quần tây cho hắn, luồn một cái gối xuống gáy hắn, và cố nhắc chân, nhắc tay hắn, đặt cho hắn nằm ngay ngắn lại... Nhưng cũng có đêm hắn chưa ngủ vội. Hắn lảo đảo bước vào nhà, mắt gườm gườm, đôi môi mím chặt. Hắn đi thẳng lại trước mặt Từ. Hắn cúi xuống, quắc mắt nhìn Từ, gõ gõ một ngón tay trỏ vào trán Từ và doạ như người ta doạ trẻ con:
– Ngày mai... mình có biết không?... Chỉ ngày mai thôi! – Là tôi đuổi tất cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này... Tôi đuổi tất, không chừa một đứa nào, kể cả con bé Thảo là con ngoan nhất... Mấy đứa kia đều đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn với hét! Cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy... cũng đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn rồi ngồi ôm con như nhện ôm khư khư bọc trứng, không chịu làm thêm việc gì cho có tiền. Chỉ khổ thằng này thôi!
Hắn rít lên như vậy. Rồi hắn lại mím chặt môi, đôi mắt ngầu ngầu nhìn vào tận mặt Từ. Từ chẳng dám cãi nửa lời, chỉ lẳng lặng cúi mặt nhìn xuống, như một đứa trẻ con biết mình có lỗi khi người ta quở phạt. Bởi vậy hắn trừng trị một lúc rồi quay ra, loạng choạng cởi quần, cởi áo, hắn vứt bừa bộn xuống giường. Rồi hắn tháo giày, quăng từng chiếc một vào một xó nhà. Có khi máy tay, hắn quăng cả những vật gì thấy trên bàn, rồi lải nhải mắng Từ về tội không biết thu dọn nhà cho gọn ghẽ. Hắn nói chán rồi đi ngủ. Bấy giờ Từ mới dám đứng lên, treo quần áo cho hắn lớn mắc và thu dọn tất cả những thức hắn đã vất lổng chổng ra đầy nhà.
Lần đầu, Từ sửng sốt. Từ chẳng hiểu ra sao, Tử đoán chồng nghe ai nói nên ghen bóng, ghen gió chi đây, Từ khóc suốt đêm và dự định sẵn những câu để sáng hôm sau nói. Nhưng sáng hôm sau, hắn không để cho Tử phải nói. Hắn bẽn lẽn kêu mình đã quá chén tối hôm qua, hỏi Từ về những thủ đoạn vũ phu của mình rất buồn cười, rồi xin lỗi Từ, hôn hít các con như một người cha tốt. Hắn tuyên bố từ giờ chừa rượu và giữ được khá lâu, nhưng rồi lại uống và say như lần trước để làm những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước. Cứ thế mãi Từ quen đi, không giận nữa. Nhưng Từ lờ mờ hiểu nỗi đau khổ mà có lẽ chính Từ đã gây ra cho chồng. Từ hiểu và Từ buồn lắm, buồn lắm lắm. Còn gì buồn cho bằng mình biết mình làm khổ cho người mà mình yêu? Nhưng Từ biết làm sao được? Đã nhiều lần Từ muốn ẵm con đi. Đã nhiều lần, Từ muốn bỏ liều con để đi làm, Từ muốn hi sinh. Nhưng lòng Từ mềm yếu biết bao! Từ là vợ! Từ là mẹ. Từ sống với những tình cảm thông thường của đàn bà. Từ rất yêu chồng và thường nhận ra rằng chồng Từ cũng yêu Từ, cũng muốn có Từ. Những khi Từ ốm đau chẳng hạn. Hộ lo xanh mắt và thức suốt đêm để trông coi thuốc thang cho vợ. Đối với các con cũng vậy. Chỉ xa chúng mấy ngày, Hộ đã nhớ và lúc về thấy các con chạy ra reo mừng và nắm lấy áo mình, thường thường Hộ cảm động đến ứa nước mắt. Hắn hôn hít chúng vô vập lắm... Biết đâu hắn sẽ sung sướng khi không con, không vợ? Từ nghĩ về hắn; nghĩ thế nhưng Từ cũng chẳng dám tìm cách mà xa hắn. Mới nghĩ đến sự xa hắn, Từ đã phải thổn thức đến bật tiếng khóc ra được rồi... Từ đành chỉ cố ngoan ngoãn hơn, đáng yêu hơn. Từ nhịn mặc, nhịn ăn để bớt những món tiêu. Từ thu xếp cửa nhà ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng. Nhất là Từ hết sức ngăn những tiếng khóc, tiếng nô đùa của lũ con. Từ sợ cả nói với chồng. Bởi vậy ba lần nhìn chồng để toan nói, Từ thấy chồng đang đọc sách chăm chú quá, không dám nói lại cúi mặt xuống nhìn đứa con đang nằm trong lòng Từ.
Nhưng Hộ bỗng ngoảnh mặt lên. Hắn vừa gặp được một đoạn hay lắm nên ngừng đọc, ngẫm nghĩ và để cho cái khoái cảm ngân ra trong lòng. Đôi mắt hắn, tuy mới rời trang sách đã nhìn ngay lại phía Từ. Hắn mỉm cười, Từ cũng mỉm cười.
Hắn bảo:
– Này, Từ ... Nghĩ cho kĩ, đời tôi không đáng khổ mà hoá khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? Mình tính: người ta tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có ba câu, đúng ba câu!... Mình có hiểu không? ... Ba câu giản dị một cách không ngờ – mà hay được đến như thế này...
Hắn đọc lại đoạn văn. Hắn dịch nghĩa để Từ nghe. Hắn giảng giải cho Từ. Tuy Từ chẳng hiểu được bao nhiêu, nhưng cũng tin lời hắn lắm. Từ giữ mãi nụ cười hiền dịu trong khi nghe hắn nói. Khi hắn ngừng nói đã được một lúc khá lâu, Từ mới làm như chợt nhớ ra:
– Có lẽ hôm nay đã là mồng hai, mồng ba tây rồi, mình nhỉ?
– À phải! Hôm nay mồng ba... Giá mình không hỏi tôi thì tôi quên... Tôi phải đi xuống phố.
Từ nhắc khéo:
– Hèn nào mà em thấy người thu tiền nhà sáng nay đã đến...
Hộ sầm mặt lại:
– Tiền nhà... tiền giặt... tiền thuốc... tiền nước mắm... còn chịu tất! Tháng vừa rồi tiêu tốn quá, mới mồng mười đã hết tiền. May mà còn có đất mua chịu được.
Hắn nghĩ đến món tiền hắn đã tiêu phí mấy hôm đầu tháng. Mỗi lần bực tức hay chán nản, hắn lại đi uống rượu, thành thử tiền hết sớm. Từ không hé môi phàn nàn nửa tiếng, nhưng cả tháng Từ ăn và bắt các con ăn khem khổ, thường thường đói nữa! Quà sáng thì bỏ hẳn, có khi bữa tối cũng chịu nhịn cơm, ăn cháo. Hộ trông thấy thế, thương vợ, thương con quá, và ân hận vì mình đã tiêu quá trớn. Bởi vậy suốt từ mồng mười đến hết tháng, hắn không ra khỏi nhà để chẳng phải tiêu thêm tí gì...
Hắn vừa mặc quần áo, vừa nhắc thầm trong trí:
– Nhất định hôm nay không đi đâu cả... Lấy tiền xong là về ngay...
Nhưng Từ bảo:
Mình đi phố thì đi ăn nhé. Còn có ít gạo chỉ đủ cho lũ trẻ. Em chả đong thêm nữa, để mai trả tiền rồi lấy luôn thêm một thể... Em không để cơm mình đâu đấy... Nhà chẳng còn gì ăn...
Hộ hơi cau mày. Bởi vì hắn sợ bước vào tiệm ăn lắm. Hắn có thể gặp ở đây một vài người bạn... và khi ấy thì... ôi thôi! Mặc kệ gia đình và những cái gì còn lại.... Hắn sẽ uống rất khoẻ, nói toàn những chuyện vá trời lấp biển, rồi đi la cà đến hết đêm mới về. Hắn nghĩ ngợi một chút rồi hắn bảo:
– Được! Tôi sẽ mua cái gì về để cả nhà cùng ăn.
– Đừng phiền nữa! Em cứ cho chúng nó ăn cơm trước rồi đi ngủ.
– Đừng ăn trước... Đợi tôi đem thức ăn về, ăn một thể. Tôi về sớm. Cả tháng chúng nó đói khát, khổ sở, hôm nay có tiền cũng nên cho chúng nó một bữa ăn ra hồn.
Vẽ chuyện!
Hắn mỉm cười, đáp lại. Hắn lại gần Từ, cúi xuống nắm lấy tay đứa bé và gọi nó. Mặt hắn và mặt Từ ghé sát. Hắn cố ý khẽ chạm môi mình vào má Từ một cái. Từ vờ rũ mấy cái bụi ở tay áo hắn. Vợ chồng nhìn nhau âu yếm. Hắn vuốt má Từ một cái rồi ra đi.
***
Ở toà báo ra, Hộ đi thẳng tới một hiệu thịt quay. Hắn định mua mấy hào thịt vài cái bánh tây, gói đem về. Lòng hắn sáng bừng. Hắn tưởng tượng ra cái cảnh lũ con háu ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật to, miệng phụng phịu và mỗi bóng nhờn những mỡ. Cái cảnh thô tục và cảm động! Hắn sẽ cười thoả thích. Còn Từ sẽ ngồi bên hắn mà nhìn chúng, đôi mắt sung sướng và thương hại loang loáng ướt... Đến trước cửa hiệu thịt quay, Hộ dừng lại. Hắn cẩn thận nhìn trước, nhìn sau, trước khi vào. Một người quen có thể đi qua, và nếu họ bắt gặp hắn đang cố nhét một gói thịt vào túi áo!... Không! Không có gì đáng ngại, ngoài đường phố... Nhưng trong hiệu, một thiếu nữ đẹp đang mặc cả... Hắn đành đợi vậy. Trong khi đợi, hai tay chắp sau lưng, hắn làm ra vẻ đợi một người bạn vừa vào một nhà nào gần đấy. Bỗng một bàn tay đập vào vai khiến hắn giật mình quay lại. Trung nhếch cười lặng lẽ và Mão cười ầm ĩ, cùng đưa tay cho hắn bắt:
– Mải ngắm nàng thơ nào mà ngây người ra thế?
Hộ ấp úng:
– À! Các anh!...
– Không theo gót sen nào đấy chứ?
– Cái ấy không quan hệ! Thi sĩ là người giữ được mình trẻ mãi và đến muôn năm vẫn còn trinh bạch.
– Cũng may tôi lại cũng không là thi sĩ nốt.
– Nghĩa là chẳng theo nàng nào cả?
– Chẳng theo nàng nào cả!
– Thế thì đi theo hai thằng này! [3]
Hộ nhìn Trung và Mão một thoáng rồi mới hỏi:
– Làm chi?
– Chẳng làm chi cả!
– Thế thì đệ kiếu. Đệ phải về kẻo hết tàu điện.
Trung cau mày nhìn Hộ một cách kinh ngạc và khinh bỉ:
– Sao lại có người điên đến thế. Về giữa lúc chiều thì đẹp mà phố thì vui thế này.
Họ trở nên đứng đắn:
– Không đùa nữa... Thật ra thì tôi có việc phải về, thế thôi.
– Ờ! Nói vậy còn dễ nghe... Thôi thế anh về nhé.... Nhưng mà... này! Anh đã biết gì chưa:
Hộ đã toan đi, quay đầu lại nhìn Trung...
– Đường về sắp được dịch ra tiếng Anh đấy nhé! Bản quyền tác giả ba nghìn đồng. Hộ trợn mắt lên. Người hắn bồi hồi. Một lúc lâu hắn mới hỏi được Trung:
– Có đích không?
– Đích xác rồi. Chính Quyền đưa cái thư điều đình cho chúng tôi xem.
Hộ có vẻ hoài nghi:
– Không mà lại.... Tôi biết lắm... Nhưng lại đăng này đã, về làm gì vội? Chúng mình làm cốc bia...
Hộ đã quên hẳn vợ con. Hắn chỉ còn háo hức muốn biết thêm về việc quyển Đường về của Quyền được dịch ra tiếng Anh. Hắn bám lấy Mão và Trung. Ba người vào một tiệm giải khát ở Bờ Hồ. Và chỉ độ nửa giờ sau, Mão và Trung đã thấy Hộ đỏ tai, giộng một cái vỏ chai bia xuống mặt bàn:
– Cuốn Đường về chỉ có giá trị địa phương thôi, các anh có hiểu không? Người ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi. Nó chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội. Tôi cho là xoàng lắm! Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu! Rồi các anh xem... Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyền ấy sẽ ăn giải Nô-ben (Nobel) và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu!
Trung gật gù cười, vẫn cái cười lặng lẽ của y. Mão thì cười hô hố. Hộ không cười, mặt căng lên vì hứng khởi. Hắn nói say sưa lắm. Và đến lúc đèn phố bật, Trung và Mão muốn về, Hộ bảo luôn:
– Thong thả đã! Đi đâu mà vội? Chúng mình đi uống rượu... Tôi có tiền...
Sáng hôm sau. Hắn thức dậy trên cái giường nhà hắn. Hắn thấy mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng. Cổ thì ráo và rát cháy. Hắn đưa tay với ấm nước ở trên bàn để uống. Ấm nước đầy và nước hãy còn ấm. Đó là sự ý tứ của Từ. Hộ hiểu thế, và lòng buồn nao nao. Bởi hắn lờ mờ nhớ ra rằng: hình như đêm qua hắn say rượu, đi la cà chán rồi về, lại gây sự với Từ; hình như hắn lại đánh cả Từ, đuổi Từ đi, rồi mới đóng cửa lại và đi ngủ... Hắn đột nhiên hoảng sợ, nhổm dậy, mắt nhớn nhác tìm Từ. Nhưng không! Từ vẫn còn nhà... Chắc hẳn trong lúc quá say, hắn gài cửa nhưng chưa gài được, thành thử khi thấy hắn ngủ mệt rồi, Từ lại bế con vào. Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Đầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xoè ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng: một đôi lúc, nếu nhìn kĩ thì Từ khó mặt lắm. Đột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bấy giờ ra sao? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lắm. Da mặt Từ xanh nhợt; môi nhợt nhạt; mi mắt hơi tim tím và chung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại. Hắn dịu dàng nắm lấy tay sẽ xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra, làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc. Cái cổ tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực... Một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật, cần được hắn vỗ về an ủi... Thế mà hắn đã làm gì để cho đời Từ đỡ khổ hơn? Hắn đã làm gì để cho Từ khỏi khổ? Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc... Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng níu hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc: [4]
– Anh... anh... chỉ là một thằng... khốn nạn!...
– Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà anh khổ...
Từ bảo thế. Tay Từ níu mạnh hơn một chút. Ngực Từ thổn thức. Từ chực ngả đầu sát vào vai Hộ. Nhưng đứa con, bị giằng, khóc thét lên. Từ vội buông chồng ra để vỗ con. Tiếng vẫn còn ướt lệ, Từ dỗ nó:
A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình... Mợ thương.
Hộ đã tránh chỗ để Từ đưa võng... Từ vừa đưa vừa hát:
Ai làm cho gió lên giời,
Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;
Ai làm Nam, Bắc phân kì,
Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân...
(Đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 490 (4/12/1943)
(Trích trong Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học 1993, tr. 5 –17)
Tóm tắt các sự kiện được kể trong văn bản; nhận xét về cách đặt nhan đề của văn bản.
1) Về những sự kiện chính trong truyện Đời thừa, có thể liệt kê:
- Là một nhà văn nghèo, giàu mộng ước nhưng cũng giàu tình thương, Hộ dang tay cứu vớt cuộc đời của Từ và đứa con riêng của Từ, cưới Từ làm vợ, chu toàn đám tang khi mẹ Từ mất,...
- Hộ phải làm việc cật lực để nuôi sống một gia đình ngày càng đông, do đó anh phải viết nhanh, viết nhiều một cách cẩu thả và điều này trái với lương tâm anh.
- Đau đớn nhận ra hoài bão văn chương chính đáng, cao đẹp càng ngày càng xa vời, bản thân ngày càng chìm sâu vào cảnh sống “đời thừa”, Hộ sinh ra cáu gắt, tìm rượu giải buồn,... và nhiều khi đối xử phũ phàng, vô lí với vợ con. Cứ sau mỗi lần như vậy, Hộ đều tự trách mình, tự hứa với mình sẽ thay đổi, yêu thương vợ con hơn. Nhưng rồi Hộ vẫn “chứng nào, tật đó”.
- Một lần, Hộ đi lĩnh nhuận bút, dự định sẽ về sớm để cùng ăn cơm với gia đình. Nhưng khi nghe tin có một cuốn truyện khá tầm thường mới được dịch ra tiếng Anh, nhân mới lĩnh tiền, anh lại cùng bạn quá chén, sa đà đàm đạo và sa đà vào cuộc say. Về đến nhà trong cơn say, anh lại trút buồn giận lên người vợ đáng thương.
- Khi tỉnh rượu, Hộ rất ân hận về cách hành xử phũ phàng, vô lí của mình. Nhìn hình ảnh người vợ gầy guộc, xanh xao nằm ôm con ngủ trong dáng vẻ khổ não trên chiếc võng, lòng Hộ lại trào lên tình yêu thương, niềm ân hận. Anh tự mắng nhiếc mình và bật khóc.
- Truyện kết thúc bằng câu hát ru buồn của Từ.
2) Về nhan đề Đời thừa
- “Đời thừa” là một cụm từ được tạo ra bởi cách kết hợp độc đáo, chỉ tình trạng sống của con người không được xem là có giá trị, sống vô ích, vô vị…
- Nhan đề này rất phù hợp với nội dung tự nhận thức của nhà văn Hộ về tình trạng sống của bản thân nhân vật này trong văn bản truyện. Hộ vòn là nhà văn có hoài bão, có nhân cách, chỉ vì gánh nặng cơm áo, gia đình, đành phải gác lại hoài bão, tự thấy mình đã và đang đánh mất giá trị, ý nghĩa trong cuộc đời mình, đề sống vô ích, tầm thường như một “kẻ bất lương” một “thằng khốn nạn”. Hơn ai hết, anh hiểu rằng đó chính là tình trạng “đời thừa”, sống mà như đã chết – một cái chết về mặt tinh thần, gắn với bi kịch tình thần đau đớn.
Xác định ngôi kể và điểm nhìn được sử dụng trong văn bản. Cách sử dụng ngôi kể điểm nhìn như vậy, theo bạn, có ưu thế/ giới hạn gì so việc sử dụng ngôi kể, điểm nhìn khác?
- Truyện Đời thừa sử dụng người kể chuyện ngôi thứ ba toàn trị.
- Tác dụng:
+Giúp người kể chuyện có được tầm nhìn bao quát (toàn tri) để quan sát câu chuyện, sự việc, nhân vật từ nhiều vị trí không gian, thời gian khác nhau; nàng cao tính khách quan của lời kể, bổ sung nhiều thông tin phong phú về các sự kiện, nhân vật.
+ Giúp người kể chuyện có thể khai thác sâu đời sống nội tâm của nhiều nhân vật. Trong Đời thừa, cả Hộ và Từ đều hiện lên với nội tâm sinh động là nhờ ưu thế của ngôi kể, điểm nhìn này.
Kẻ bảng sau vào vở. Chỉ ra một số biểu hiện về sự thay đổi của Hộ khi phải đối mặt với thực tế cuộc sống:
| Quan niệm, khát vọng của Hộ | Sự thay đổi của Hộ khi phải đối mặt với thực tế |
Với hoài bão viết văn |
|
|
Với lẽ sống vì tình thương |
|
|
| Quan niệm, khát vọng của Hộ | Khi Hộ phải đối mặt với thực tế |
Với hoài bão viết văn | Xem văn chương như lẽ sống, “nghệ thuật là tất cả, hoài bão viết một tác phẩm để đời; khi viết phải viết một cách cẩn thận, không được dễ dãi, cẩu thả, vì “sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (Quan niệm về nghệ thuật). | Vì hoàn cảnh nuôi cả một gia đình, Hộ dần xa rời lí tưởng, viết vội, viết nhanh, hời hợt, cạn kiệt ý nghĩa. Những hoài bão trở nên xa vời mà ngay cả anh cũng biết mình không bao giờ hoàn thành được nó. Đây là thực tế đưa đẩy; quan niệm, khát vọng đó không hề thay đổi hay mất đi, và vì như vậy Hộ mới lâm vào bi kịch tinh thần đau đớn. |
Với lẽ sống vì tình thương | Bản thân có thể thiệt thòi, nhưng nhất định nghe theo lí tưởng sống vì lòng nhân từ, bác ái, giúp đỡ kẻ yếu thế, kẻ thân cô thế cô (Quan niệm về cuộc sống). | Ban đầu, Hộ cứu vớt Từ vì tình thương, lòng bác ái. Nhưng rồi những khổ cực của đời thường đã khiến anh trở nên cáu bẳn, mắng nhiếc, hành hạ vợ con và tự cho rằng bi kịch của mình là do vợ con gây ra. Thậm chí anh còn sa vào rượu chè. Khi tỉnh dậy, anh có hối lỗi nhưng rồi đâu lại hoàn đấy, Hộ vẫn trong một cái vòng luẩn quẩn bi kịch không lối thoát. |
àNhững thay đổi trong cách hành xử của Hộ là một minh chứng về sự xung đột giữa một bên là lí tưởng và một bên là thực tế. Lí tưởng thì cao đẹp nhưng để thực hiện được nó thì không dễ và khi đối mặt với thực tế, lí tưởng đó đã bị “vỡ mộng” một cách không thương tiếc.
Qua cuộc sống của nhân vật Hộ trong truyện ngắn, bạn nhận xét thế nào về cuộc đời của bộ phận trí thức tiểu tư sản Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Cuộc sống của bộ phận trí thức tiểu tư sản Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 bị đời sống thực tế trước mắt làm thui chột hi vọng, niềm tin, phải lao vào kiếm tiền một cách vội vã, hời hợt để nuôi sống bản thân và gia đình. Họ ý thức được bị kịch “sống mòn” đó nên luôn khổ sở, chán nản, lâm vào bế tắc. Lí tưởng cao đẹp
dần dần lụi tàn.
Bi kịch tinh thần của những người trí thức nghèo như Hộ có thể tìm thấy trong rất nhiều tác phẩm khác của Nam Cao, học sinh có thể tìm đọc thêm như Trăng sáng, Lão Hạc, Sống mòn,...
Các chi tiết miêu tả nước mắt của Hộ, của Từ, nước mắt trong câu hát ở cuối văn bản có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của truyện?
Trong văn bản, có nhiều lần Hộ khóc, và Từ khóc. Học sinh có thể thống kê để thấy trong toàn văn bản, có bốn lần Từ khóc và ba lần Hộ khóc. Ngoài ra, Nam Cao còn kết thúc thiên truyện bằng một câu hát có từ “nước mắt” Những chi tiết này cho thấy dụng ý của Nam Cao trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của truyện. Truyện cho ta thấy chủ đề về một cuộc sống tù túng, chật hẹp, quẩn quanh không lối thoát của trí thức nghèo thành thị giai đoạn 1932 – 1945, những con người có hoài bão, ước mơ cao đẹp nhưng lại bị cơm áo gạo tiền đòi hỏi, không còn đủ sức để thực hiện những lí tưởng của mình.
Nước mắt tượng trưng cho sự đau khổ. Ở đây Hộ khổ, Từ cũng khổ, và không biết khi nào họ mới hết khổ. Truyện của Nam Cao kết thúc bằng một câu hát đầy đau khổ cho thấy tư tưởng bế tắc của nhà văn lúc bấy giờ.
Từ đó, chúng ta hiểu và cảm thông hơn với họ, những trí thức nghèo trong xã hội Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945. Đó chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.
Theo bạn, truyện Đời thừa của Nam Cao được viết theo phong cách sáng tác nào? Căn cứ vào đâu để bạn khẳng định như vậy?
Truyện Đời thừa được sáng tác theo phong cách hiện thực.
Căn cứ nhận biết:
– Đời thừa đã khắc hoạ tỉ mỉ, sinh động bức tranh chân thực về xã hội và cuộc sống của người trí thức nghèo Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với cảm hứng phê phán sâu sắc. Cái xã hội ấy đã đẩy những trí thức nghèo như văn sĩ Hộ đến chỗ cùng quẫn, tự đánh mất mình vì “gánh nặng áo cơm” và lâm vào bi kịch tinh thần đau đớn, không lối thoát.
- Đề tài của tác phẩm gắn với cái hằng ngày, sinh hoạt hằng ngày, những lo toan, buồn vui hằng ngày của con người. Đây là một đề tài ưa chuộng của phong cách hiện thực nói chung, sáng tác của các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 – 1945 nói riêng.
- Trong tác phẩm, hoàn cảnh sống của nhân vật Hộ là hoàn cảnh điển hình; Hộ là nhân vật điển hình – điển hình cho bi kịch tinh thần của những trí thức, văn nghệ sĩ nghèo, nạn nhân của xã hội đương thời.
Trích dẫn và giải thích ý nghĩa của một số câu văn/ đoạn văn thể hiện quan niệm của nhân vật Hộ về hoạt động sáng tác văn chương.
Truyện ngắn này là một truyện ngắn có tính chất luận đề của Nam Cao, qua đó ông bộc lộ những quan niệm về nghệ thuật của mình một cách đầy đủ và sâu sắc.
Có thể trích dẫn và giải thích ngắn gọn một số câu văn/ đoạn văn sau:
“Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời”: đây là đoạn văn cho thấy lí tưởng viết văn của Hộ. Anh muốn sáng tác một tác phẩm lớn, có ý nghĩa, có giải thưởng lớn, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Và muốn vậy anh phải lao tâm khổ tứ với nó.
“Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”: Hộ quan niệm viết văn phải cẩn thận, trau chuốt, kĩ lưỡng, không chấp nhận lối viết cẩu thả.
“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”: văn chương đòi hỏi phải sáng tạo, có cá tính, có chiều sâu và độc đáo.
“Những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? Mình tính: người ta tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có ba câu, đúng ba câu!... Mình có hiểu không? ... Ba câu giản dị một cách không ngờ – mà hay được đến như thế này...: văn chương là niềm vui, hạnh phúc, lẽ sống của Hộ. Anh đề cao sự tiếp nhận của độc giả.
“Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn”: đối với Hộ, một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm mang tính nhân văn, phải vượt biên giới một quốc gia lan toả ra thế giới, giúp con người hướng thiện và xích lại gần nhau.
Nhìn chung, những quan niệm nghệ thuật trên đây của Hộ (cũng chính là của Nam Cao) rất xác đáng, sâu sắc và thâm thuý. Có lẽ văn chương muôn đời nay đều mong mỏi đạt được cái đích như thế.
Trình bày những loại câu mơ hồ thường gặp và cho biết cách sửa đổi với từng loại.
- Mơ hồ về ngữ nghĩa: Câu có thể hiểu theo nhiều nghĩa do từ ngữ gây nhầm lẫn.
+ Ví dụ: "Anh ấy thích cô ấy hơn tôi."
+ Cách sửa: Làm rõ ý nghĩa, ví dụ: "Anh ấy thích cô ấy hơn là thích tôi" (ý 1) hoặc "Anh ấy thích cô ấy hơn tôi thích cô ấy" (ý 2).
- Mơ hồ về cấu trúc cú pháp: Câu có nhiều cách phân tích ngữ pháp, dẫn đến các ý nghĩa khác nhau.
+ Ví dụ: "Học sinh giỏi toán lý hóa."
+ Cách sửa: Thêm dấu phẩy hoặc từ nối để rõ nghĩa, ví dụ: "Học sinh giỏi toán, lý và hóa" (liệt kê môn) hoặc "Học sinh giỏi toán và lý hóa" (cụm từ).
- Mơ hồ về đại từ: Sử dụng đại từ không rõ đối tượng.
+ Ví dụ: "Lan gặp Mai và cô ấy nói chuyện rất vui."
+ Cách sửa: Đổi đại từ thành tên riêng, ví dụ: "Lan gặp Mai và Lan nói chuyện rất vui" hoặc "Lan gặp Mai và Mai nói chuyện rất vui."
- Mơ hồ do thiếu thông tin bối cảnh: Không đủ ngữ cảnh làm câu khó hiểu.
+ Ví dụ: "Cô ấy đến trước."
+ Cách sửa: Bổ sung bối cảnh, ví dụ: "Cô ấy đến trước tôi trong buổi hẹn" hoặc "Cô ấy đến trước cuộc họp."
- Mơ hồ do sắp xếp từ: Trật tự từ làm cho câu trở nên không rõ ràng.
+ Ví dụ: "Anh ấy lái xe máy cũ."
+ Cách sửa: Điều chỉnh trật tự từ, ví dụ: "Anh ấy lái chiếc xe máy đã cũ" để rõ ràng hơn.
Phân tích lỗi câu mơ hồ trong các trường hợp sau và nêu cách sửa:
a. Đêm hôm qua cầu gãy.
b. Mẹ nó đi chợ chiều mới về.
c. Cô ấy đã đến Hà Nội chưa? Lẽ ra giờ này cô ấy phải có mặt ở đó rồi chứ
d. Anh cho em biết anh muốn ăn cơm không.
đ. Âm thanh của chiếc máy này nghe được không chị?
a. Lỗi câu mơ hồ: Trong câu trên, hôm có thể được hiểu là thành phần kết hợp với qua tạo thành từ hôm qua (ngày liền trước ngày hôm nay), hôm cũng có thể được hiểu là thành phần kết hợp với đêm tạo thành từ đêm hôm (Thời gian về đêm, trong quan hệ với hoạt động của con người; trong trường hợp này, “quả là một động từ). → Loại câu mơ hồ về cấu trúc.
Cách sửa: Thêm từ ngữ, điều chỉnh trật tự từ ngữ cho câu rõ nghĩa hơn: Đêm hôm thế này mà phải đi qua cầu gãy./ Khuya (Tối) hôm qua cầu đã gãy rồi.
b. Lỗi câu mơ hồ: Trong câu trên, chiều có thể được hiểu thành phần bổ nghĩa cho danh từ chợ (chợ họp buổi chiều); cũng có thể hiểu là thành phần bổ sung ý nghĩa về thời gian cho hành động về. Điều này tạo nên sự mơ hồ về nghĩa cho câu.) → Loại câu mơ hồ về cấu trúc.
Cách sửa: Thêm từ ngữ cho câu rõ nghĩa hơn: Mẹ nó đi chợ chiều đến giờ mới về./ Mẹ nó đi chợ, đến chiều mới về.
c. Lỗi câu mơ hồ: Trong câu trên, hiện tượng đa nghĩa của từ phải (nghĩa vụ bắt buộc/ chắc chắn) khiến câu mơ hồ về nghĩa. → Loại câu mơ hồ về từ vựng.
Cách sửa: Thêm/ thay thế từ ngữ để câu rõ nghĩa: Lẽ ra giờ này cô ấy buộc phải có mặt ở đó rồi chứ?/ Lẽ ra giờ này cô ấy chắc chắn có mặt ở đó rồi chứ?
d. Lỗi câu mơ hồ: Trong câu trên, hiện tượng đa nghĩa của từ không (cách hiểu 1: từ không là tính từ (ở trạng thái hoàn toàn không có thêm những gì khác như thường thấy hoặc như đáng lẽ phải có), bổ sung ý nghĩa cho từ cơm; cách hiểu 2: từ không có thể được hiểu là phụ từ, biểu thị ý hỏi “muốn ăn cơm hay không”) khiến câu mơ hồ về nghĩa. → Loại câu mơ hồ từ vựng.
Cách sửa: Thêm từ ngữ để câu rõ nghĩa: Anh cho em biết anh muốn ăn cơm hay không./ Anh cho em biết anh muốn ăn cơm không, không ăn thêm thịt, thêm rau gì cả.
đ) Lỗi câu mơ hồ: Trong câu trên, hiện tượng đa nghĩa của từ được (cách hiểu 1: được (hay); cách hiểu 2: được (từ biểu thị điều vừa nói đến là có khả năng thực hiện) khiến câu mơ hồ về nghĩa. → Loại câu mơ hồ từ vựng.
Cách sửa: Thêm/ thay thế từ ngữ để câu rõ nghĩa: Âm thanh của chiếc máy này nghe hay không chị?/ Âm thanh của chiếc máy này nghe rõ không chị?
Theo bạn, những trường hợp in đậm sau đây có phải là lỗi câu mơ hồ không? Vì sao bạn nhận định như vậy?
a.
Còn trời, còn nước, còn non,
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa!
(Ca dao)
b.
Bà già đi chợ Cầu Đông,
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
(Ca dao)
a. Từ say sưa trong ngữ liệu này có thể được hiểu theo hai cách:
– Cách hiểu 1: say rượu.
– Cách hiểu 2: chỉ trạng thái bị cuốn hút hoàn toàn vào một việc/ điều hứng thú nào đó, trong trường hợp này là cô bán rượu.
→ Sự mơ hồ từ vựng trong trường hợp này lại là một cách bày tỏ tình cảm rất tinh tế, ý nhị của chàng trai dành cho cô bán rượu, nhờ đó không khiến cô gái tỏ ra ngượng ngùng.
b. Từ lợi trong bài ca dao có thể được hiểu theo những cách:
- Cách hiểu 1: cái có ích mà con người thu được.
- Cách hiểu 2: phần thịt bao giữ xung quanh chân răng.
Hiện tượng đồng âm trên đã tạo ra tiếng cười mỉa mai, châm biếm cho bài ca dao. → Nhận xét: Hai trường hợp trên không phải là lỗi câu mơ hồ mà do người nói cố tình tạo ra những cách diễn đạt đa nghĩa như vậy để đạt được mục đích giao tiếp cụ thể của họ trong từng ngữ cảnh cụ thể.
Kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ có điểm gì giống và khác với kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội mà bạn đã học ở lớp 11?
- Điểm giống: Đều là kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội.
- Điểm khác: Vấn đề nghị luận của kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ được xác định cụ thể hơn kiểu bài nghị luận xã hội đã học ở lớp 11. Đó là những vấn đề liên quan trực tiếp đến tuổi trẻ.
Đọc lại ngữ liệu tham khảo Trách nhiệm người trẻ với Tổ quốc, đối chiếu với Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ để trả lời các câu hỏi sau:
a. Bài viết đã sử dụng cách nào để tạo ấn tượng cho phần mở bài?
b. Người viết đã trình bày những nội dung gì để thực hiện thao tác giải thích vấn đề cần bàn luận?
c. Phân tích tính thuyết phục của lí lẽ và bằng chứng được sử dụng trong bài viết.
d. Người viết đã phê phán biểu hiện tiêu cực nào của vấn đề?
đ. Chỉ ra yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự (nếu có) và tác dụng của chúng trong bài viết.
a. Để tạo ấn tượng cho phần mở bài, người viết đã trình bày những biểu hiện khác nhau, thậm chí dường như đối lập, của một số người trẻ tuổi đối với cuộc chiến chống Covid-19 để đặt ra vấn đề cần bàn luận: trách nhiệm của những người trẻ tuổi với Tổ quốc. Ngoài ra, tác giả còn nhắc đến bối cảnh viết bài là tháng Thanh niên (tháng Ba năm 2020), đây là thời điểm mà cả xã hội thường bàn nhiều về những vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.
b. Để giải thích vấn đề cần bàn luận, người viết đã thực hiện những thao tác sau;
- Giải thích hai khái niệm liên quan đến vấn đề cần bàn luận: tuổi trẻ và trách nhiệm của những người trẻ tuổi với Tổ quốc.
- Liệt kê một số biểu hiện trách nhiệm cụ thể của thế hệ trẻ đối với Tổ quốc.
c. Tính thuyết phục của lí lẽ, bằng chứng trong bài viết được thể hiện cụ thể như sau:
- Lí lẽ thể hiện được việc nhìn nhận vấn đề với những cơ sở vững chắc:
+ Lí lẽ 1: Từ xưa đến nay, theo lẽ thường, những người trẻ tuổi luôn giữ vai trò quan trọng đối với đất nước vì họ có những đặc điểm và ưu thế riêng.
+ Lí lẽ 2: Đặc biệt trong xu thế phát triển về khoa học công nghệ, kĩ thuật của thế giới như hiện nay, những người trẻ với những ưu thế của riêng mình (nhanh nhạy, linh hoạt, dễ thích nghi) lại càng xứng đáng nhận lãnh trọng trách đối với đất nước.
- Bằng chứng phù hợp, tiêu biểu, cụ thể, xác thực, đủ sức khái quát và chứng minh được trách nhiệm của tuổi trẻ đối với Tổ quốc ở tất cả các giai đoạn của lịch sử và trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
d. Người viết đã phê phán cách sống hưởng thụ, lười biếng, dựa dẫm của một số bạn trẻ.
đ. Yếu tố miêu tả được sử dụng trong bài viết: những chàng trai, cô gái luôn hăm hở, nhiệt tình trong những hoạt động tình nguyện của chiến dịch Mùa hè xanh; những thầy cô giáo trẻ sẵn sàng băng rừng, vượt suối mang con chữ đến với trẻ em vùng sâu, vùng xa; những người lính trẻ luôn vững chắc tay súng, kiên cường bảo vệ từng tấc đất, vùng trời, biển đảo quê hương,…
Yếu tố tự sự được sử dụng trong bài viết: Người bác sĩ làm việc ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương vừa dương tính với SARS-CoV-2 có tuổi đời cũng còn rất trẻ. Anh đã có hai tháng trực tiếp tiếp xúc với những bệnh nhân nhiễm bệnh. Tuy đã lường trước được nguy cơ bị lây nhiễm, nhưng những bác sĩ và điều dưỡng ấy vẫn kiên cường bám trụ, không hề chùn bước; một người mẹ kể về quá trình “giải cứu” con mình khỏi châu Âu mà cứ đi một chặng, thì cô cậu sinh viên ấy lại phải nhắn tin, gọi điện để hỏi mẹ tiếp theo nên làm gì. Một số bạn trẻ khi trở về nước và được cách li tập trung đã phàn nàn từ khu vệ sinh đến việc thiếu nước nóng để tắm.
Yếu tố biểu cảm được sử dụng trong bài viết: Tháng Ba này, xin được tôn vinh những người trẻ đầy nhiệt huyết và sự hi sinh ấy!; Đất nước, gia đình có thể kì vọng gì ở họ?;...
Tác dụng của việc sử dụng kết hợp các yếu tố ấy trong bài viết: Yếu tố miêu tả thể hiện các đặc điểm, tính chất nổi bật của các đối tượng được đề cập; yếu tố tự sự thuật lại các sự việc làm bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm; yếu tố biểu cảm để bày tỏ tình cảm, cảm xúc, thái độ của người viết với vấn đề nghị luận.
Thực hiện đề bài sau:
Đề bài:
Tình huống: Để tham gia buổi toạ đàm “Tuổi trẻ với sử Việt” do Thành đoàn địa phương tổ chức, anh/ chị hãy viết bài nghị luận để trình bày suy nghĩ của bạn về vấn đề tuổi trẻ với lịch sử dân tộc.
Bước 1: Chuẩn bị viết
Xác định đề tài, mục đích viết, đối tượng người đọc
- Đề tài bài viết là vấn đề tuổi trẻ với lịch sử dân tộc. Với đề tài này, bạn cần xác định rõ vấn đề cụ thể hơn mà bản thân muốn bàn luận (luận đề), chẳng hạn như vai trò của thế hệ trẻ với lịch sử dân tộc, thái độ của thế hệ trẻ với lịch sử dân tộc, giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ,...
- Mục đích viết của bài văn nghị luận là thuyết phục người đọc về những ý kiến, quan điểm của người viết. Ở bài viết này, mục đích viết chính là khẳng định quan điểm của bạn về một vấn đề cụ thể liên quan đến tuổi trẻ với lịch sử dân tộc, từ đó, hướng đến những nhận thức đúng đắn, có giải pháp phù hợp để mỗi người trẻ giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa họ với lịch sử dân tộc.
- Cuộc thi viết do Thành đoàn địa phương tổ chức để hưởng ứng Tháng ) Thanh niên, người đọc có thể là thầy/cô trợ lí thanh niên trong trường hoặc tại địa phương, các bạn học sinh hoặc các bạn trẻ ở địa phương.... Những đối tượng người đọc này sẽ mong đợi điều gì từ bài viết của bạn? Bạn sẽ chọn cách viết nào để khơi gợi được sự đồng cảm và thuyết phục được người đọc?
Thu thập tư liệu
Bạn tìm kiếm những tư liệu phù hợp như sách, báo, tạp chí, thông tin truyền thông liên quan đến luận đề; lập bảng thống kê, lưu giữ thông tin tài liệu và ghi chú lại những ý kiến, lí lẽ, bằng chứng mà bạn thấy cần dùng cho bài viết hoặc ấn tượng, thú vị. Bạn nên tham khảo định hướng nội dung thu thập tư liệu liên quan đến vấn đề nghị luận được trình bày trong sách giáo khoa. Dựa trên nguồn tư liệu này, bạn sẽ có định hướng tìm ý và sắp xếp ý.
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
Tìm ý: Bạn ghi ra những ý tưởng liên quan đến một vấn đề cụ thể của đề tài tuổi trẻ với lịch sử dân tộc mà bạn lựa chọn để viết. Bạn có thể dựa vào những câu hỏi hướng dẫn tìm ý được trình bày trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một để thực hiện.
Chẳng hạn, với vấn đề vai trò của thế hệ trẻ với lịch sử, bạn có thể tìm ý bằng cách đặt ra các câu hỏi và điền vào sơ đồ:
- Vai trò của thế hệ trẻ đối với lịch sử dân tộc được biểu hiện cụ thể như thế nào trong thực tiễn cuộc sống?
- Quan điểm, ý kiến của bạn về vấn đề này là gì?
- Vì sao bạn lại đưa ra quan điểm, ý kiến ấy?/ Bạn nên sử dụng những lí lẽ và bằng chứng gì để làm sáng tỏ quan điểm, ý kiến của mình?
- Vai trò ấy có luôn luôn đúng và phù hợp trong mọi hoàn cảnh, thời đại không? Vì sao?/ Hiện nay có (những) biểu hiện tiêu cực hay ý kiến trái chiều nào liên quan đến vấn đề vai trò của thế hệ trẻ với lịch sử dân tộc? Quan điểm của tôi về (những) biểu hiện/ ý kiến đó là gì? Tôi sẽ trao đổi như thế nào với (những) biểu hiện/ ý kiến ấy?
- Làm thế nào để thực hiện được vai trò ấy trong cuộc sống hôm nay?
- Tôi đã thay đổi nhận thức và hành động của bản thân như thế nào sau khi suy ngẫm, trao đổi về vấn đề?
Lập dàn ý: Từ các ý tìm được, bạn sắp xếp thành dàn ý hoàn chỉnh dựa vào sơ đồ trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một.
Bước 3: Viết bài
Bạn viết bài văn hoàn chỉnh, đảm bảo đúng yêu cầu của kiểu bài dựa vào một số lưu ý trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một.
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa
sử dụng bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ để đọc lại và chỉnh sửa bài viết của mình. Lưu ý điều chỉnh bài viết sao cho phù hợp với bối cảnh của buổi toạ đàm.
* Bài văn mẫu tham khảo:
Tuổi trẻ là giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người, không chỉ vì sức trẻ và nhiệt huyết mà còn vì khả năng tiếp thu, học hỏi và cống hiến. Vai trò của tuổi trẻ trong việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử dân tộc là không thể phủ nhận. Sự kết nối giữa tuổi trẻ và lịch sử dân tộc không chỉ giúp bảo tồn những di sản văn hóa quý báu mà còn góp phần xây dựng tương lai vững chắc cho đất nước.
Trước hết, tuổi trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu và tiếp nối các giá trị lịch sử của dân tộc. Lịch sử không chỉ là các sự kiện đã xảy ra mà còn là bài học quý giá về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và sự hy sinh vì lý tưởng chung. Thế hệ trẻ cần nắm bắt và hiểu rõ những bài học này để không chỉ tôn vinh quá khứ mà còn áp dụng vào thực tiễn trong cuộc sống và công việc hiện tại. Việc học hỏi và nghiên cứu lịch sử giúp các bạn trẻ hình thành nhận thức sâu sắc về nguồn gốc dân tộc, từ đó xây dựng lòng tự hào và trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước.
Hơn nữa, tuổi trẻ với sức sống và sự sáng tạo của mình có khả năng tạo ra những cách tiếp cận mới mẻ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử. Các bạn trẻ có thể sử dụng công nghệ và các phương tiện truyền thông hiện đại để phổ biến các kiến thức lịch sử, từ đó giúp các thế hệ kế tiếp hiểu và quý trọng di sản văn hóa của dân tộc. Chẳng hạn, việc sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin, tổ chức các hoạt động tưởng niệm và truyền thống, hay tham gia vào các dự án nghiên cứu lịch sử đều là những cách hiệu quả để kết nối và phát huy giá trị lịch sử.
Tuổi trẻ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển các truyền thống văn hóa. Các hoạt động văn hóa, lễ hội và phong tục tập quán là phần không thể thiếu trong bản sắc dân tộc. Sự tham gia tích cực của thanh niên vào các hoạt động này không chỉ giúp duy trì các giá trị truyền thống mà còn tạo cơ hội để các giá trị đó được truyền đạt một cách sống động và hấp dẫn. Tuổi trẻ có thể đóng góp vào việc tổ chức các sự kiện văn hóa, bảo tồn các di tích lịch sử, và tham gia vào các hoạt động cộng đồng để gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng này, tuổi trẻ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng phù hợp. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục và các tổ chức xã hội phải có những chương trình đào tạo và hoạt động giáo dục lịch sử đầy đủ và hiệu quả. Ngoài ra, sự kết hợp giữa học hỏi và thực hành là rất quan trọng, giúp các bạn trẻ không chỉ lý thuyết mà còn có cơ hội trải nghiệm thực tế để cảm nhận sâu sắc về lịch sử dân tộc.
Tóm lại, tuổi trẻ đóng vai trò quyết định trong việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử dân tộc. Bằng cách hiểu và tiếp nối các giá trị lịch sử, tham gia vào việc bảo tồn truyền thống văn hóa, và áp dụng sự sáng tạo trong việc phổ biến thông tin, thế hệ trẻ có thể góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Sự kết nối giữa tuổi trẻ và lịch sử dân tộc không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn tạo động lực cho tương lai, xây dựng một xã hội phát triển và thịnh vượng.
Vẽ sơ đồ tóm tắt quy trình trao đổi về một vấn đề liên quan đến cơ hội và thách thức đối với đất nước.
1. Xác định vấn đề: + Chọn chủ đề: Xác định vấn đề cụ thể cần trao đổi (VD: Cơ hội và thách thức của đất nước trong thời đại số). + Thu thập thông tin: Nghiên cứu, thu thập dữ liệu liên quan từ các nguồn đáng tin cậy. |
2. Chuẩn bị ý kiến: + Phân tích cơ hội: Đưa ra các cơ hội tiềm năng mà vấn đề mang lại (VD: Phát triển kinh tế, cải thiện giáo dục). + Phân tích thách thức: Đưa ra các thách thức mà đất nước phải đối mặt (VD: Bất ổn xã hội, biến đổi khí hậu). |
3. Thảo luận nhóm: + Trình bày ý kiến: Mỗi thành viên trong nhóm chia sẻ ý kiến của mình về cơ hội và thách thức. + Phản biện: Thảo luận, đặt câu hỏi và đưa ra các quan điểm trái chiều để làm rõ vấn đề. |
4. Kết luận: + Tổng hợp: Đưa ra kết luận chung từ các ý kiến đã được thảo luận. + Đề xuất giải pháp: Đề xuất các hành động hoặc giải pháp để tối ưu hóa cơ hội và giảm thiểu thách thức. |
5. Báo cáo và đánh giá: + Soạn báo cáo: Tổng hợp nội dung thảo luận và giải pháp đề xuất thành báo cáo. + Đánh giá: Xem xét lại quy trình trao đổi để cải thiện cho lần sau. |
Thực hiện đề bài sau:
Tình huống: Trong buổi sinh hoạt đầu tuần, giáo viên chủ nhiệm tổ chức buổi trao đổi về chủ đề: “Rác thải nhựa ở Việt Nam”.
Nhiệm vụ: Để tham gia buổi thảo luận, bạn cần thực hiện một trong hai nhiệm vụ ứng với từng vai cụ thể sau:
- Vai người thuyết trình: Chọn một vấn đề liên quan đến chủ đề “Rác thải nhựa ở Việt Nam” mà bạn quan tâm và thuyết trình về vấn đề ấy.
- Vai người nghe: Nghe, nắm bắt được nội dung và quan điểm của bài thuyết trình; nhận xét, đánh giá được nội dung và cách thức thuyết trình.
Quy trình thực hiện | Các thao tác cần thực hiện của học sinh đóng vai trò người nói | Các thao tác cần thực hiện của học sinh đóng vai trò người nghe |
Bước 1 | Chuẩn bị nói: - Xác định đề tài, người nghe, mục đích, không gian và thời gian: - Đề tài thuyết trình: một vấn đề cụ thể có liên quan đến chủ đề “Rác thải nhựa ở Việt Nam”. Để phù hợp với thời gian, cần lưu ý chọn những vấn đề cụ thể hơn như Thực trạng rác thải nhựa ở bờ biển Việt Nam, Tác hại của rác thải nhựa đến môi trường biển ở Việt Nam, Thực trạng xử lí rác thải nhựa hiện nay ở nước ta, Ý thức của một bộ phận giới trẻ với các sản phẩm nhựa dùng một lần,... - Mục đích của bài nói: Trình bày về một vấn đề có liên quan đến cơ hội và thách thức đối với đất nước. - Đối tượng người nghe là giáo viên chủ nhiệm, các bạn trong lớp. - Không gian và thời gian nói: Bạn sẽ tham gia trao đổi trong lớp học vào buổi sinh hoạt đầu tuần, thời gian trình bày từ 8 đến 10 phút Tìm ý và lập dàn ý Từ đề tài đã chọn, bạn tìm ý và lập dàn ý cho bài nói theo hướng dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một Luyện tập: - Xem lại các tiêu chí đánh giá kĩ năng thuyết trình (sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một) trước khi luyện tập. - Nên luyện tập một mình trước gương hoặc theo nhóm đôi để có thể đánh giá lẫn nhau nhằm hoàn thiện kĩ năng thuyết trình của bản thân. Có thể ghi âm, ghi hình lại bài thuyết trình của cá nhân trong quá trình luyện tập và tự đánh giá, điều chỉnh (nếu cần) - Học cách sử dụng kết hợp các phương tiện phi ngôn ngữ và các phương tiện hỗ trợ trực quan trong quá trình luyện tập | Chuẩn bị nghe: - Tìm hiểu đề tài của buổi trao đổi: Rác thải nhựa ở Việt Nam - Xác định những vấn đề cụ thể liên quan đến đề tài có thể được mang ra trao đổi, liệt kê những điều bạn đã biết và mong muốn biết thêm về những vấn đề ấy. Có thể liệt kê một số vấn đề liên quan đến chủ đề mà bạn có thể trao đổi với các bạn trong lớp/ nhóm. - Xem lại những hướng dẫn về kĩ năng nắm bắt ý kiến quan điểm của người nói nhận xét, đánh giá về nội dung và cách thức trình bày. Nhớ lại những kinh nghiêm có được khi thực hiện kĩ năng này ở lớp 10, 11
|
Bước 2 | Trình bày bài nói: Xem lại những hướng dẫn trình bày bài nói trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một. | Nghe, nắm bắt nội dung quan điểm của bài thuyết trình: Xem lại những hướng dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một để thực hiện. |
Bước 3 | Trao đổi, đánh giá: Xem những hướng dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một để thực hiện. | Trao đổi, đánh giá: Xem những hướng dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một để thực hiện. |
Chào thầy/ cô và các bạn. Hôm nay, em xin trình bày chủ đề Chúng ta với cơ hội và thách thức của đất nước.
Thanh niên Việt Nam với vị trí, vai trò là người chủ tương lai của nước nhà, là lực lượng đông đảo và sung mãn về thể lực, giàu khát vọng, hoài bão, có nhu cầu, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới, năng động sáng tạo, chủ động học hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại. Vì vậy, cùng với sự phát triển của đất nước, thái độ và ý thức chính trị của thanh niên đã có những chuyển biến tích cực, thanh niên ngày càng quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với những vấn đề của quê hương, đất nước, những vấn đề trong khu vực và trên thế giới. Ý thức lập nghiệp của thanh niên cũng cao hơn, tinh thần xung phong, tình nguyện, ý thức chia sẻ, tinh thần tương thân, tương ái đã được khơi dậy với một chất lượng mới, thanh niên đã chủ động và tự tin hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, lực lượng thanh niên cũng đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của thanh niên nhìn chung còn thấp. Trong thanh niên nhận thức về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đề bức xúc trong thanh niên. Rồi sức khoẻ và thể chất của thanh niên nước ta còn thấp hơn các nước trong khu vực và trên thế giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ trong thanh niên thiếu ý thức rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn…
Trước những thuận lợi và khó khăn của đất nước cũng như của bản thân mình, hơn lúc nào hết thanh niên Việt Nam phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nước. Phải nhận thức được khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ để đạt tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ quản lý. Để vượt qua được khó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở thanh niên là phải tự học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tham gia thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với vai trò là chủ thể tích cực, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để cùng đất nước vượt qua những khó khăn, trước mắt mỗi thanh niên phải nỗ lực nhiều hơn, đặc biệt là phải mở rộng tầm hiểu biết của mình về tình hình thế giới để có tư duy, hành động phù hợp hơn. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của thanh niên, của tổ chức đoàn để cùng đất nước gặt hái được nhiều thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên đây là toàn bộ bài thuyết trình của em, cảm ơn thầy/ cô và các bạn đã lắng nghe. Em mong nhận được góp ý của thầy cô và các bạn về bài trình bày của mình. Em xin cảm ơn ạ!
