Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 1. Những sắc điệu thi ca có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 1. Những sắc điệu thi ca có đáp án

A
Admin
VănLớp 1249 lượt thi
26 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Phong cách được tạo thành từ:

A. các phương tiện hình thức đặc thù; quan niệm đời sống riêng của tác giả; trường phái, thời đại hay dân tộc

B. quan niệm đời sống riêng của tác giả, hệ thống ngôn ngữ đặc trưng, văn hoá riêng của từng quốc gia

C. các phương tiện hình thức đặc thù; thế giới quan của tác giả; hệ thống tác giả trong các giai đoạn cụ thể

D. quan niệm đời sống riêng của tác giả; thời đại mà tác giả đang sống; thể loại mà tác giả chọn lựa để viết

Xem đáp án

Chọn đáp án: A. các phương tiện hình thức đặc thù; quan niệm đời sống riêng của tác giả; trường phái, thời đại hay dân tộc

2. Tự luận
1 điểm

Ở Trung Quốc và Việt Nam, phong cách cổ điển thường gắn với:

A. quan niệm thiên nhân hợp nhất

B. hệ thống ngôn ngữ giàu tính ước lệ, giàu điển tích, điển cố

C. một số thể thơ nhất định

D. ý A và B

Đ. ý A và C

Xem đáp án

Chọn đáp án: D. ý A và B

3. Tự luận
1 điểm

Phong cách lãng mạn xuất phát từ:

A. quan điểm coi nghệ thuật là tiếng nói của con người cá nhân và đời sống cảm xúc

B. sự phóng túng, tự do trong đời sống cá nhân của tác giả

C. tình yêu đôi lứa và những cung bậc cảm xúc trong tình yêu

D. quan niệm coi cái đẹp là trên hết, tôn sùng cái đẹp với những đỉnh cao khó vượt qua trong quá khứ

Xem đáp án

Chọn đáp án: A. quan điểm coi nghệ thuật là tiếng nói của con người cá nhân và đời sống cảm xúc

4. Tự luận
1 điểm

Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ trống (làm vào vở):

Việt Nam, phong cách lãng mạn phát triển thành một trào lưu lớn vào khoảng những năm …... với phong trào ….... và tiểu thuyết .......

Xem đáp án

Ở Việt Nam, phong cách lãng mạn phát triển thành một trào lưu lớn vào khoảng những năm 1932 – 1935với phong tràoThơ mới và tiểu thuyết  Tự lực văn đoàn.

5. Tự luận
1 điểm

Tìm những từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống để hoàn thành nội dung sau (làm vào vở):

Lịch sử/ tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nay gồm …... và ......

Xem đáp án

Lịch sử/ tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nay gồm văn học trung đại (viết bằng chữ Hán, chữ Nôm)văn học hiện đại (viết bằng chữ Quốc ngữ).

6. Tự luận
1 điểm

Hãy viết tên một số tác phẩm của văn học Việt Nam được sáng tác theo phong cách cổ điển mà bạn đã được học.

Xem đáp án

Hãy viết tên một số tác phẩm của văn học Việt Nam được sáng tác theo phong cách cổ điển mà bạn đã được học.

7. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản 1, văn bản 2 và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Văn bản 1

ĐÂY MÙA THU TỚI

Xuân Diệu

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;

Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng. [1]

 

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;

Những luồng run rẩy rung rinh lá...

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

 

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…

Non xa khởi sự nhạt sương mờ…

Đã nghe rét mướt luôn trong gió…

Đã vắng, người sang những chuyến đò…

 

Mây vẩn từng không, chim bay đi,

Khí trời u uất hận chia li, [2]

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì. [3]

(In trong Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học Hà Nội, 1988, tr. 109)

[1] Tưởng tượng

Bạn hình dung như thế nào về bức tranh thu trong dòng thơ này?

[2] Suy luận

Bức tranh tả mùa thu vào thời điểm nào trong ngày?

[3] Suy luận

Bạn hiểu như thế nào về tâm trạng của “ít nhiều thiếu nữ” trong hai dòng cuối bài thơ?

 

Văn bản 2

THU VỊNH

Nguyễn Khuyến

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trống như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. [1]

(In trong Nguyễn Khuyến – tác phẩm chọn lọc,

Lại Văn Hùng giới thiệu và tuyển chọn, NXB Giáo dục, 2009, tr. 48 – 49)

[1] Suy luận

Vì sao tác giả lại viết “thẹn với ông Đào”?

Phân tích bức tranh mùa thu trong hai khổ thơ đầu của bài thơ Đây mùa thu tới. Bạn có nhận xét gì về cách miêu tả bức tranh thu ấy?

Xem đáp án

Khổ thơ đầu tiên đã vẽ lên một bức tranh thu đẹp, thơ mộng mà thấm đượm nỗi buồn mơ hồ. Chất thơ trong khổ thơ thứ hai là sự lay động xôn xao từ cảnh vật, từ hoa lá, hơi may thấm vào hồn thi sĩ. Điều này tạo nên một bức tranh mùa thu đầy ý nghĩa và cảm xúc, mang phong vị riêng rất Xuân Diệu.

8. Tự luận
1 điểm

Theo bạn, nét độc đáo của bài thơ Đây mùa thu tới là gi? Liên hệ với một bài thơ viết về mùa thu bạn đã đọc để làm rõ nét độc đáo đó.

Xem đáp án

Bài thơ Đây mùa thu tới miêu tả một cảnh thu đẹp, có sức gợi cảm nhưng lại man mác buồn, gắn với sự chia lìa, li tán. Đó là bởi Xuân Diệu đặc biệt nhạy cảm với sự rụng rơi, rời bỏ và ông ý thức mạnh mẽ về bước đi của thời gian. Nỗi buồn của Xuân Diệu cũng là nỗi buồn thời đại, nỗi buồn của riêng Thơ mới. Vì vậy, có thể nói bài thơ mang vẻ đẹp độc đáo của một “điệu hồn Thơ mới” trước những đổi thay của tạo vật.

9. Tự luận
1 điểm

Bài thơ Thu vịnh đã đáp ứng các yêu cầu về thi luật của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường như thế nào?

Xem đáp án

Bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến tuân theo các đặc điểm cơ bản của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Về bố cục, bài thơ có 8 cấu, mỗi câu có 7 chữ, gồm bốn phần: Đề – thực – luận – kết.

Đây là bài thơ thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng. Phân tích luật, niềm, vấn, nhịp, đối của bài thơ:

– Luật: Luật bằng vì tiếng thứ hai của câu 1 là tiếng thanh bằng (thu).

– Niềm: Câu 1 niềm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, cầu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7.

Vần: Chỉ hiệp theo một vần là vần bằng, gieo ở cuối câu 1 (ao) và các câu chẵn là 2, 4, 6 và 8 (hiu – vào – nào – Đào).

– Nhịp: Chủ yếu ngắt nhịp 4/3, đôi khi ngắt nhịp 2/2/3. Đây là cách ngắt nhịp tiêu biểu của thơ thất ngôn bát cú luật Đường, tạo âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng.

– Đối: Hai câu thực và luận cũng tuân thủ việc đối khá chặt chẽ... Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

Có thể nói, Thu vịnh được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường với niêm luật khá chặt chẽ. Tuy nhiên, ta cũng thấy được sự cách tân qua việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (chữ Nôm) với những hình ảnh dân dã, bình dị giúp mang lại giá trị thẩm mĩ cao cho bài thơ.

10. Tự luận
1 điểm

Xác định chủ thể trữ tình của bài thơ Thu vịnhĐây mùa thu tới. Chủ thể ấy xuất hiện theo dạng thức nào (chủ thể có từ nhân xưng rõ ràng; chủ thể hoá thân vào nhân vật; chủ thể ẩn)?

Xem đáp án

Chủ thể trữ tình của cả bài Thu vịnh và bài Đây mùa thu tới đều là chủ thể ẩn, không có từ nhân xưng rõ ràng cũng không phải là hoá thân vào nhân vật nào.

11. Tự luận
1 điểm

Theo bạn, cách thể hiện tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trước bức tranh mùa thu trong hai bài thơ có điểm gì tương đồng, khác biệt? Vì sao có sự tương đồng, khác biệt đó?

Xem đáp án

 

- Tương đồng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tình cảm, cảm xúc buồn của chủ thể trữ tình trước bức tranh mùa thu.

- Khác biệt: Tình thu thể hiện qua bài Thu vịnh là tình yêu thiên nhiên của một người mang nặng nỗi ưu thời mẫn thế nên buồn man mác. Còn Đây mùa thu tới lại thể hiện nỗi buồn của một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên, yêu cuộc sống nên trân quý thời gian, sợ mọi thứ trôi chảy nhanh qua mất.

12. Tự luận
1 điểm

Đọc phần chú thích giới thiệu về tác giả Nguyễn Khuyến, bạn cho biết bài thơ Thu vịnh thuộc thời kì/ giai đoạn văn học nào trong lịch sử văn học Việt Nam? Bối cảnh sáng tác đó có ảnh hưởng đến phong cách sáng tác bài thơ không? Vì sao?

Xem đáp án

Qua phần chú thích giới thiệu về tác giả Nguyễn Khuyến, chúng ta có thể thấy bài thơ Thu vịnh ra đời vào giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX thuộc thời kì văn học trung đại trong lịch sử văn học Việt Nam. Vì vậy, việc bài thơ chịu ảnh hưởng của thi pháp văn học trung đại mà cụ thể là thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường là điều dễ hiểu. Điều này cũng sẽ tác động quyết định đến phong cách sáng tác của bài thơ.

13. Tự luận
1 điểm

Xác định phong cách sáng tác của bài thơ Thu vịnh, Đây mùa thu tới và cho biết căn cứ vào đâu để bạn xác định được như vậy.

Xem đáp án

- Thu vịnh: Phong cách sáng tác cổ điển. Biểu hiện của phong cách này thể hiện qua việc tuân thủ khá chặt chẽ các đặc điểm cơ bản của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường, về tính chất khuôn mẫu, công thức trong việc miêu tả mùa thu (bầu trời, mặt nước, màu sắc,...).

- Đây mùa thu tới: Phong cách sáng tác lãng mạn. Biểu hiện của phong cách này thể hiện qua việc đề cao cảm xúc và trí tưởng tượng của con người, phá vỡ các quy phạm nhằm giải phóng con người cá nhân, bộc lộ sự nhạy cảm rất riêng với sự rụng rơi, rời bỏ và ý thức mạnh mẽ về bước đi của thời gian, thể hiện vẻ đẹp độc đáo của một “điệu hồn Thơ mới” trước những đổi thay của tạo vật.

14. Tự luận
1 điểm

Theo bạn, phong cách sáng tác ảnh hưởng như thế nào đến cách thể hiện chủ đề, tư tưởng của mỗi bài thơ trên?

Xem đáp án

Phong cách sáng tác có ảnh hưởng lớn đến cách thể hiện chủ đề, tư tưởng của mỗi bài thơ trên. Phong cách cổ điển để cao tính chất khuôn mẫu, chuẩn mực về tư tưởng (như đạo lí, lí tưởng sống,...) nên Thu vịnh cũng không ngoại lệ. Tình thu thể hiện qua bài thơ là tình yêu thiên nhiên của một người mang nặng nỗi ưu thời mẫn thế. Còn phong cách lãng mạn đề cao cảm xúc và trí tưởng tượng của con người, giải phóng con người cá nhân, bộc lộ cá tính một cách tự do nhất. Vì vậy, Đây mùa thu tới thể hiện tình yêu cuộc sống, thái độ trận quý thời gian của một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên.

15. Tự luận
1 điểm

Ngôn ngữ trang trọng là gì? Loại ngôn ngữ này có thể xuất hiện ở những dạng nào?

Xem đáp án

- Ngôn ngữ trang trọng là kiểu ngôn ngữ được sử dụng trong các tình huống yêu cầu sự nghiêm túc, chính xác và mang tính chất chính thống. 

- Ngôn ngữ trang trọng có thể xuất hiện trong văn bản học thuật, công việc hoặc khi giao tiếp với những người địa vị cao hoặc xa lạ.

16. Tự luận
1 điểm

Trình bày đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng. Phân tích một ví dụ để minh hoạ.

Xem đáp án

- Đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng:

+ Sử dụng cấu trúc ngữ pháp phức tạp: Các câu trong ngôn ngữ trang trọng thường dài và có cấu trúc ngữ pháp chuẩn mực, chính xác hơn so với ngôn ngữ không trang trọng.

+ Phong thái diễn đạt nghiêm túc: Lời nói và cách diễn đạt trong ngôn ngữ trang trọng thường mang tính chính thức, không sử dụng từ ngữ suồng sã hay mang tính thân mật.

+ Từ ngữ chọn lọc và trau chuốt: Từ vựng được sử dụng thường là các từ ngữ chuyên ngành, ít thông dụng hoặc mang tính trang trọng cao.

- Ví dụ minh họa:

+ Trong văn bản hành chính hoặc bài diễn thuyết, ngôn ngữ thường được sử dụng một cách trang trọng. Ví dụ: "Học sinh, sinh viên, trí thức trẻ phải biết cách học để trở thành những công nhân, chuyên viên giỏi, những kĩ sư, bác sĩ..."

à  Câu này không chỉ sử dụng từ ngữ trang trọng mà còn có cấu trúc câu dài, logic và chặt chẽ để diễn đạt rõ ràng nội dung.

17. Tự luận
1 điểm

Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng trong các trường hợp sau:

a. Ngọn lửa mùa hè mang bao căm phẫn chính đáng của người da đen sẽ không bao giờ tắt nguội nếu như làn gió mùa thu của tự do và công bằng không thổi tới. Năm 1963 không phải là một kết cục, mà là một khởi đầu. Nước Mỹ sẽ không có bình an, sẽ không có yên tĩnh, nếu như người da đen chưa giành được quyền công dân.

(Mác-tin Lu-thơ Kinh, Tôi có một giấc mơ)

b. Công nghệ trí tuệ nhân tạo AI có thể là chìa khoá để tiến tới việc cải tiến, cải cách hành chính hiệu quả, triệt để, giúp thay đổi đáng kể và giải quyết nhiều vấn đề hiện nay về quản lí và điều hành của các cơ quan quản lí nhà nước các cấp. Điển hình là việc ứng dụng AI vào hệ thống chatbot (trả lời tự động) và trợ lí ảo tại các trung tâm hành chính. Điều này cho phép người dân truy vấn thông tin và nhận được câu trả lời nhanh chóng, hiệu quả cũng như hạn chế tình trạng xếp hàng, chờ đợi như trước kia.

(Theo Công nghệ AI của hiện tại và tương lai, https://www.most.gov.vn/, ngày 09/9/2021)

c. Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.  

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

Xem đáp án

 

Đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng

 

Thường sử dụng từ ngữ có sắc thái nghiêm trang, tôn kính, tao nhã; không dùng tiếng lóng, khẩu ngữ

Sử dụng câu có cấu trúc đầy đủ, rõ ràng

Câu a

ngọn lửa mùa hè, bao căm phẫn chính đáng, làn gió mùa thu của tự do và công bằng, kết cục, khởi đầu, bình an, quyền công dân,...

– Ngọn lửa mùa hè mang bao căm phẫn chính đáng của người da đen sẽ không bao giờ tắt nguội nếu như làn gió mùa thu của tự do và công bằng không thổi tới.

–…

Câu b

công nghệ trí tuệ nhân tạo AI, cải cách hành chính, cơ quan quản lí nhà nước, trợ lí ảo,...

– Công nghệ trí tuệ nhân tạo AI có thể là chìa khoá để tiến tới việc cải tiến, cải cách hành chính hiệu quả, triệt để, giúp thay đổi đáng kể và giải quyết nhiều vấn đề hiện nay về quản lí và điều hành của các cơ quan quản lí nhà nước các cấp.

–….

Câu c

binh pháp, “Binh thư yếu lược”, kẻ nghịch thù...

– Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.

–….

18. Tự luận
1 điểm

Trong các trường hợp sau, người viết có sử dụng ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp không? Vì sao?

a. Tuổi trẻ thời @ phải nổi loạn hơn hơn một tí, độc, dị, quậy, chảnh sẽ giúp cuộc sống ngạc nhiên, thú vị hơn, cần gì hot girl, hot boy sống ảo tưởng trên Facebook.

(Hoàn cảnh giao tiếp: Bài làm môn Ngữ văn của học sinh trong một kì thi, kiểu văn bản nghị luận xã hội)

b. Kính thưa ngài Tổng thư kí,

Muốn có giáo dục thì cần phải có hoà bình. Còn biết bao nhiêu nơi nữa trên thế giới này, nhất là ở Pa-kít-xtan và Áp-ga-nít-xtan, trẻ em vẫn không được đến trường vì khủng bố, chiến tranh và xung đột. Chúng tôi đã thật sự mệt mỏi vì những cuộc chiến này. Ở nhiều nơi trên thế giới, dưới nhiều hình thức khác nhau, phụ nữ và trẻ em vẫn phải đang chịu đựng bao khốn khổ.

 (Ma-la-la Diu-sa-phdai, Một cây bút và một quyển sách có thể thay đổi thế giới)

(Hoàn cảnh giao tiếp: Diễn văn trước Đại hội đồng Giới trẻ Liên hợp quốc, ngày 12/7/2013)

Xem đáp án

a. Ngôn ngữ được sử dụng trong bài làm văn chưa phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (một kì thi) vì người viết đã sử dụng tiếng lóng, khẩu ngữ (hơn một tí, độc, dị, quậy, chảnh,...). Khi viết bài văn kiểu nghị luận xã hội trong một kì thi, HS cần sử dụng loại ngôn ngữ trang trọng, phù hợp với kiểu văn bản nghị luận xã hội và tính chất nghiêm túc của kì thi.

b Ngôn ngữ được sử dụng trong bài phát biểu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp là bài diễn văn trước Đại hội đồng Giới trẻ Liên hợp quốc. Bài phát biểu sử dụng từ ngữ có sắc thái trang trọng (Kính thưa ngài Tổng thư kí, giáo dục, hoà bình, khủng bố, chiến tranh, xung đột,...); sử dụng cấu trúc câu đầy đủ, rõ ràng.

19. Tự luận
1 điểm

Khi trình bày bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trong tiết học Nói và nghe ở lớp, bạn cần lưu ý những gì về việc sử dụng ngôn ngữ?

Xem đáp án

Khi trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trong tiết học Nói và nghe ở lớp, bạn cần lưu ý: 

+ Sử dụng ngôn ngữ trang trọng, tránh những từ ngữ suồng sã. 

+ Đảm bảo rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, tránh sử dụng câu quá dài hoặc phức tạp 

+ Phân tích có căn cứ: Khi so sánh và đánh giá hai tác phẩm, bạn cần cung cấp những dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm để hỗ trợ cho lập luận của mình. Việc này không chỉ giúp tăng tính thuyết phục mà còn thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về tác phẩm.

+ Sử dụng thuật ngữ chuyên môn: Để bài trình bày của bạn có chiều sâu hơn, hãy cố gắng sử dụng các thuật ngữ chuyên môn liên quan đến thơ ca, ví dụ như thể thơ, biện pháp tu từ, hình ảnh, âm điệu, v.v.

+ Tôn trọng quan điểm cá nhân: Trong quá trình so sánh, hãy chú ý tôn trọng những quan điểm khác biệt, không nên áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác.

+ Tương tác với người nghe: Hãy cố gắng tạo sự tương tác với người nghe bằng cách đặt câu hỏi hoặc mời họ đưa ra ý kiến. Điều này giúp bài trình bày của bạn trở nên sinh động hơn.

20. Tự luận
1 điểm

Thế nào là bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ?

Xem đáp án

Bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ là một bài phân tích nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm thơ. Mục tiêu chính là đánh giá giá trị của mỗi tác phẩm thông qua sự so sánh các yếu tố như nội dung, hình thức nghệ thuật, cảm hứng, tư tưởng, và phong cách sáng tác.

21. Tự luận
1 điểm

Vẽ sơ đồ bố cục của bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.

Xem đáp án

Vẽ sơ đồ bố cục của bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ. (ảnh 1)

22. Tự luận
1 điểm

Dùng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ để đánh giá ngữ liệu tham khảo “Phong vị có điển trong bài thơ Giang tuyết (Liễu Tông Nguyên) và tính hiện đại trong bài thơ Mộ (Hồ Chí Minh)” trong sách giáo khoa. Từ đó, rút ra những điều cần lưu ý khi viết để đáp ứng yêu cầu của kiểu bài này.

Xem đáp án

Khi dùng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá để đánh giá ngữ liệu tham khảo “Phong vị cổ điển trong bài thơ Giang tuyết (Liễu Tông Nguyên) và tính hiện đại trong bài thơ Mộ (Hồ Chí Minh)”, ta có thể thực hiện theo các bước sau:

1. Đánh giá ngữ liệu theo Bảng kiểm kĩ năng

+ Giới thiệu và xác định vấn đề nghị luận: Đề tài đã xác định rõ ràng hai tác phẩm cần so sánh và đưa ra vấn đề về phong cách cổ điển và hiện đại.

+ Phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật: Ngữ liệu đã phân tích chi tiết về phong cách cổ điển trong Giang tuyết và tính hiện đại trong Mộ, nêu rõ sự khác biệt về tư tưởng, phong cách nghệ thuật.

+ So sánh, đối chiếu các điểm tương đồng và khác biệt: Có sự so sánh, đối chiếu rõ ràng giữa hai tác phẩm từ góc độ nội dung đến hình thức.

+ Tổng kết và đánh giá: Kết luận đưa ra cái nhìn tổng quan và nhận xét về giá trị của từng tác phẩm.

2. Những điều cần lưu ý khi viết đề nghị luận so sánh, đánh giá

Xác định rõ đối tượng và khía cạnh so sánh: Cần chọn những tác phẩm có giá trị tương đương hoặc có điểm tương đồng để so sánh.

Phân tích cả nội dung và hình thức nghệ thuật: Nên tập trung vào những điểm đặc trưng của từng tác phẩm.

Đưa ra nhận xét khách quan, hợp lý: Tránh thiên vị, nên dựa vào các yếu tố nghệ thuật và nội dung cụ thể.

Kết bài nên có nhận định tổng quát và đánh giá giá trị: Đây là phần quan trọng để kết thúc vấn đề.

* Khi viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ, bạn cần chú ý đến các yếu tố sau:

- Lựa chọn tác phẩm phù hợp: Chọn hai tác phẩm có sự tương đồng hoặc khác biệt rõ ràng về phong cách, nội dung, hoặc cảm xúc để tạo nền tảng so sánh cụ thể và sâu sắc.

- Phân tích kỹ lưỡng từng tác phẩm: Trước khi so sánh, cần phân tích chi tiết nội dung, nghệ thuật, và ý nghĩa của từng bài thơ. Từ đó, làm rõ các luận điểm chính giúp bạn dễ dàng so sánh và đánh giá.

- Xác định điểm tương đồng và khác biệt: Để so sánh, bạn cần chỉ ra những điểm chung và khác nhau giữa hai tác phẩm. Các điểm này có thể là về chủ đề, cảm xúc, hình ảnh, bút pháp, hoặc quan điểm của tác giả.

- Bố cục rõ ràng: Bài viết cần có bố cục mạch lạc gồm mở bài, thân bài, và kết bài. Trong thân bài, nên chia thành các đoạn tương ứng với từng tiêu chí so sánh.

- Lập luận logic, thuyết phục: Sử dụng dẫn chứng từ chính các tác phẩm để minh chứng cho các luận điểm của bạn. Lập luận phải có sự logic, liên kết chặt chẽ giữa các ý.

- Kết bài nêu đánh giá chung: Sau khi so sánh, hãy đưa ra nhận định cá nhân về giá trị và ý nghĩa của hai tác phẩm trong bối cảnh văn học hoặc xã hội.

23. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Đề bài: Báo Hoa học trò tổ chức cuộc thi viết với chủ đề “Tác phẩm văn học – từ góc nhìn so sánh”. Hãy viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cùng phong cách hoặc khác phong cách sáng tác mà bạn yêu thích để tham gia cuộc thi.

Gợi ý:

- Phân tích, so sánh hai tác phẩm thơ để làm rõ điểm tương đồng/ khác biệt về đặc điểm/ giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm.

- Sử dụng lí lẽ và bằng chứng thuyết phục lấy từ hai tác phẩm thơ.

- Sắp xếp luận điểm, lí lẽ, bằng chứng theo trình tự hợp lí; diễn đạt rõ ràng, mạch lạc.

Xem đáp án

Bước 1: Chuẩn bị viết

- Lựa chọn hai tác phẩm thơ cùng phong cách hoặc khác phong cách sáng tác mà bạn yêu thích để so sánh, đánh giá. Bạn có thể lựa chọn hai tác phẩm có cùng phong cách cổ điển hoặc lãng mạn, hoặc một bài thơ có phong cách cổ điển và một bài thơ có phong cách lãng mạn theo gợi ý trong sách giáo khoa. Ví dụ: So sánh, đánh giá bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến và bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu.

- Xác định mục đích viết, người đọc, định hướng về nội dung và hình thức trình bày bài viết theo hướng dẫn trong sách giáo khoa.

- Sau khi chọn được đề tài, tiến hành thu thập tư liệu có liên quan, đọc và ghi chép để phục vụ cho việc viết bài.

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý

- Tìm ý cho bài viết bằng cách trả lời các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa.

- Chọn lọc và sắp xếp các ý thành dàn ý hoàn chỉnh, dựa vào Tri thức về kiểu bài trong sách giáo khoa.

Lưu ý: Thân bài cần trình bày ít nhất hai luận điểm về điểm tương đồng/ khác biệt của hai tác phẩm thơ.

Ví dụ về dàn ý của bài văn nghị luận so sánh, đánh giá bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến và bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu.

1. Mở bài:

- Giới thiệu hai tác phẩm thơ: Bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) được sáng tác theo phong cách cổ điển, bài Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) được sáng tác theo phong cách lãng mạn.

- Nêu nội dung, vấn đề cần so sánh, đánh giá nét tương đồng (đề tài, thi liệu) và khác biệt của hai tác phẩm thơ (thể thơ; nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh, điển cổ, điển tích).

2. Thân bài:

- Điểm tương đồng: Đề tài mùa thu và thi liệu cổ điển (trời thu, trăng hoa, chim,...).

- Điểm khác biệt:

Phương diện so sánh

Thu vịnh

Đây mùa thu tới

Thể thơ

Thất ngôn bát cú luật Đường

Thơ bảy chữ

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh, điển cố, điển tích

- Hệ thống ngôn từ tao nhã, trang trọng (xanh ngắt, mấy tầng cao, để mặc, toan cất bút, thẹn,...)

- Hình ảnh ước lệ, dụng từ ngữ, tượng trưng (trời thu, nước biếc, ánh trăng hoa năm ngoái, ngỗng nước nào,...)

- Sử dụng điển cố, điển tích (ông Đào)

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

- Từ ngữ giản dị, gần gũi nhưng bộc lộ được những cảm nhận tinh vi của chủ thể trữ tình (đìu hiu, run rẩy, rét mướt luồn trong gió, mây vẩn từng không, hận chia li,...); cách diễn đạt mới mẻ, “rất Tây” so với thời điểm sáng tác (hơn một loài hoa, non xa khởi sự,...)

- Hình ảnh mới mẻ, độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân, không theo những công thức ước lệ của thi ca cổ điển (rặng liễu đìu hiu, nàng trăng tự ngẩn ngơ, thiếu nữ buồn không nói,...)

- Không sử dụng điển cố, điển tích.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại đặc điểm thể loại của mỗi tác phẩm.

- Khẳng định những giá trị chung và nét độc đáo ở mỗi bài thơ.

- Nêu cảm nghĩ về phong cách sáng tác của mỗi tác giả.

Bước 3: Viết bài

Từ dàn ý, bạn viết bài văn hoàn chỉnh, chú ý đảm bảo chính tả, diễn đạt. Có thể tham khảo Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trong sách giáo khoa trước khi viết để đảm bảo bài viết đi đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu của kiểu bài.

Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

Đọc lại bài viết, dựa vào Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trong sách giáo khoa để tự đánh giá và chỉnh sửa bài viết (nếu có). Ghi lại các kinh nghiệm bản thân thu nhận được để viết tốt hơn trong những lần sau.

Bài văn mẫu tham khảo:

Mùa thu xứ Bắc, mùa thu đẹp tiêu biểu cho mùa thu của quê hương Việt Nam, đã trở thành cảm hứng cho các nhà thơ xưa nay. Tùy theo quan điểm thẩm mĩ mà cảnh thu, tình thu hiện lên trong thơ với vẻ đẹp riêng. Hai nhà thơ lớn trong nền văn học nước nhà là Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu đã có hai bài thơ đặc sắc về mùa thu là Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) và Đây mùa thu tới (Xuân Diệu). Có gì khác nhau và giống nhau trong cảnh thu, tình thu của hai bài thơ nổi tiếng đó?

Chỗ giống nhau của hai bài thơ là Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu, hai nhà thơ lớn của dân tộc đều thể hiện cảnh thu, tình thu đẹp nhưng buồn. Nỗi buồn của thi nhân thấm đẫm trong cảnh vật và được biểu hiện trong những hình thức nghệ thuật mĩ lệ. Chỉ một khổ thơ đầu của hai bài thơ, chúng ta nhận ra sự giống nhau đó:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

(Thu vịnh)

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buôn xuống lệ ngàn hàng

Đây mùa thu tới - mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.

(Đây mùa thu tới)

Song cảnh thu, tình thu trong hai bài thơ có nhiều nét khác nhau. Vì hai bài thơ đó là sản phẩm nghệ thuật của hai con người, hai tâm hồn khác nhau, hai thời đại khác nhau, hai quan điểm thẩm mĩ khác nhau. Nguyễn Khuyến là nhà nho uyên bác, bất đắc chí (là quan nhà Nguyễn, đã cáo quan trở về), ông quen thuộc với đồng quê. Xuân Diệu là một trí thức mới, Tây học, đã cảm sâu được nỗi đau của thời thế Tôi đi giữa đời như một kẻ bị lột da. Quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến còn trong phạm trù cổ điến. Còn Xuân Diệu là một nhà tho' lãng mạn, một nhà thơ mới nhất của thơ mới, một nhà thơ hiện đại với bao nhiêu đổi thay trong nếp sống, nếp cảm và xảo năng thi ca.

Cảnh thu trong bài Thu vịnh là cảnh thu của làng quê Việt Nam thời thực dân phong kiến, dưới cái nhìn của một bậc đại trí đã lui về ẩn dật nơi thôn dã. Không gian hẹp, mở ra bằng chiều cao với sắc trời đặc trưng của mùa thu xứ Bắc.

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Đường nét đơn sơ, màu sắc thanh đạm, không khí hiu hắt, gió nhẹ, gió heo may mùa thu. Ao thu nước biếc với sương khói phủ nhạt nhòa. Trăng thân mật đến lặng lẽ với thi nhân như một tri kỉ: Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Hoa mùa thu không đổi, không sắc màu hoa năm ngoái và âm thanh thì lạc lõng với tiếng ngỗng trời lạnh cả không gian. Tình thu man mác, đượm buồn của một tâm hồn bỏ ngỏ, in đậm sắc màu và dội vang âm thanh của mùa thu.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào.

Buồn trước mùa thu, nhà thơ đã mất hết cảm giác về thời gian và không gian, ihời gian như ngưng đọng, không gian như lạc lõng. Thi hứng đến thì nhà thơ lại thẹn với ông Đào:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Nhà thơ nói thẹn với ông Đào cũng là một cách biểu hiện nỗi đau nhân thế trước mùa thu của xứ sở. Kể ra về tri thức cụ Nguyễn chẳng có gì phải thẹn với cụ Đào. Ông Đào là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) là một nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng về tài thơ lẫn khí phách, ông đã từng làm quan và chán ghét cuộc sống quan trường, ông đã từ quan và có bài thơ Quy khứ lai từ rất nổi tiếng, về tài hoa, cụ Nguyễn cũng chẳng có gì phải thẹn với cụ Đào. Có lẽ cụ Nguyễn thẹn với cụ Đào là ở nhân cách, ở khí tiết. Cụ Đào đã từ quan một cách dứt khoát, trở thành nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa. Còn cụ Nguyễn thì lúng túng khi ra làm quan, lừng khừng khi từ quan. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy thối nát, tàn bạo của bọn thực dân, phong kiến thời bấy giờ.

Tình thu trong Thu vịnh đượm buồn trong cảnh thu và cắn rứt trong lòng thi nhân.

Cảnh thu trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu là cảnh thu Hà Nội. Nếu hồn thu trong Thu vịnh là cây trúc thì hồn thu trong Đây mùa thu tới là cây liễu:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buôn xuống lệ ngàn hàng.

Cảnh buồn mà đẹp. Nỗi buồn mùa thu được miêu tả thật là hiện đại, những sợi liễu xanh mềm mại như những dòng lệ xanh buông xuống ngàn hàng, chịu tang cho những chiếc lá vàng ra đi. Hoa thì đã rụng cánh, màu sắc thì đang xung đột: Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh. Câu thơ tả sắc thu như vậy đứng bên cạnh câu thơ tả sắc thu của Nguyễn Khuyến thì chẳng khác gì một cụ nhà nho với áo lương khăn đóng, bên cạnh anh chàng thanh niên comlê cravat, giày da bóng lộn. Cảnh thu của Xuân Diệu cũng quạnh quẽ, đìu hiu, nhiễm linh hồn của thi nhân nặng hơn. Chẳng những là gió heo may rung rinh mà còn run rẩy, chẳng những là nhảnh khô gầy mà còn xương mỏng manh. Trăng thu thì tự ngẩn ngơ, non xa thì nhạt sương mờ, những chuyến đò thì vắng người sang. Cảnh thu nhiễm tinh thần cô đơn của thi nhân như vậy chưa thấy trong thơ cổ điển mà Nguyễn Khuyến là đại biểu xuất sắc.

Cảnh thu của Nguyễn Khuyến thì vắng ngắt, chỉ có cái tôi trữ tình của thi nhân. Cảnh thu của Xuân Diệu cũng vắng vẻ đìu hiu, nhưng lại còn có bóng dáng con người, tất nhiên với Xuân Diệu phải là bóng dáng thiếu nữ:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Tình thu của cụ Nguyễn buồn, xót xa, cắn rứt. Tình thu của chàng thi sĩ Xuân Diệu buồn, cô đơn, khao khát sự sống trần thế, tha thiết giao cảm với đời. Nếu tình thu trong Thu vịnh mà mất đi chữ thẹn thì còn gì là Nguyễn Khuyến, cũng như nếu tình thu trong Đây mùa thu tới mất đi hình ảnh của thiếu nữ thì còn gì là Xuân Diệu!

Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu là hai nhà thơ lớn của dân tộc. Nguyễn Khuyến, đại biểu xuất sắc của khuynh hướng thơ cổ điển. Xuân Diệu, đại biểu xuất sắc của khuynh hướng thơ lãng mạn. Cả hai tâm hồn lớn đều yêu say đắm mùa thu của xứ Bắc. Do điệu tâm hồn khác nhau và quan điểm thẩm mĩ khác nhau mà cảnh thu, tình thu của mỗi bài thơ mang một vẻ đẹp riêng. Mỗi vẻ đẹp đã tạo nên sức hấp dẫn kì lạ và đều bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương xứ sở sâu sắc, mặn nồng.

24. Tự luận
1 điểm

Thế nào là bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ?

Xem đáp án

Bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ là kiểu bài dùng lí lẽ và bằng chứng để làm rõ những điểm tương đồng/ khác biệt về đặc điểm/ giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm thơ.

25. Tự luận
1 điểm

Trình bày một số điều cần lưu ý ở bước 1 (Chuẩn bị nói) đối với kiểu bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.

Xem đáp án

- Một số điều cần lưu ý ở bước chuẩn bị đối với bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ:

+ Hiểu rõ tác phẩm: Trước khi so sánh, cần đọc kỹ và nắm vững nội dung, tư tưởng, phong cách nghệ thuật, hình tượng, và các yếu tố ngôn ngữ của cả hai tác phẩm thơ.

+ Xác định tiêu chí so sánh: Lựa chọn các tiêu chí phù hợp để so sánh như đề tài, chủ đề, phong cách ngôn ngữ, hình ảnh thơ, hay cảm hứng sáng tác. Điều này giúp bài phân tích có tính hệ thống và chặt chẽ.

+ Thu thập tư liệu: Tìm kiếm các tài liệu phân tích, đánh giá từ các nguồn tin cậy để hỗ trợ cho lập luận của mình. Cần chú ý sử dụng tư liệu một cách khách quan và chính xác.

+ Xây dựng dàn ý: Lập một dàn ý rõ ràng và chi tiết cho bài trình bày. Dàn ý cần thể hiện rõ các luận điểm, luận cứ chính và cách sắp xếp chúng sao cho logic, mạch lạc.

+ Chuẩn bị kỹ năng diễn đạt: Luyện tập cách trình bày mạch lạc, tự tin và có nhịp điệu. Sử dụng ngôn ngữ trang trọng, đúng chủ đề và tránh lan man.

26. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Đề bài: Bài viết của bạn được trao giải cuộc thi “Tác phẩm văn học – từ góc nhìn so sánh” của báo Hoa học trò. Ban tổ chức mời bạn so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ mà bạn yêu thích trong buổi lễ trao giải.

Hãy chuẩn bị bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ để tham dự lễ trao giải này.

Gợi ý:

- Trình bày ý kiến so sánh về điểm tương đồng, khác biệt của hai tác phẩm thơ.

- Thể hiện ý kiến đánh giá về phong cách sáng tác của hai tác phẩm thơ.

- Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu lấy từ hai tác phẩm thơ.

Xem đáp án

Bước 1: Chuẩn bị nói

- Đề tài của bài nói có thể là hai tác phẩm thơ bạn đã so sánh, đánh giá trong bài viết hoặc hai tác phẩm thơ khác mà bạn yêu thích.

- Xác định các thành tố giao tiếp liên quan đến bài nói bằng cách tự trả lời câu hỏi: Mục đích nói là gì? Người nghe là ai? Bài nói sẽ được trình bày trong không gian nào? Thời gian bao lâu? Từ đó, chọn cách nói phù hợp, hiệu quả.

- Tìm ý, lập dàn ý: Trong trường hợp đề tài bài nói cũng là đề tài bài viết, bạn sử dụng lại các ý tưởng, thông tin, tư liệu đã có trong bài viết một cách có chọn lọc để lập dàn ý cho bãi nói. Bài nói cần có luận điểm, lí lẽ và bằng chứng. Nếu bạn chọn đề tài khác bài viết, cần dựa vào hướng dẫn tìm ý, lập dàn ý ở phần Thực hành viết theo quy trình để thực hiện.

- Đối chiếu dàn ý của bài nói với bảng kiểm trong sách giáo khoa để luyện tập trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cho khoa học, đáp ứng yêu cầu của kiểu bài nói.

- Có thể sử dụng kết hợp phương tiện phi ngôn ngữ để bài nói thêm sinh động, hấp dẫn.

- Dự kiến một số vấn đề mà người nghe có thể thắc mắc và dự kiến các câu trả lời tương ứng một cách thuyết phục.

Bước 2: Trình bày bài nói

Khi trình bày, cần tự tin, có sự tương tác tích cực với người nghe và bám sát nội dung bài nói đã chuẩn bị.

Bước 3: Trao đổi, đánh giá

Sử dụng Bảng kiểm kĩ năng trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ để tự đánh giá bài nói của bản thân và bài trình bày của các bạn cùng nhóm/ lớp.

* Bài nói mẫu tham khảo:

Chào thầy/cô cùng toàn thể các bạn. Tôi tên Nguyễn Văn A. Sau đây tôi xin được trình bày bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: Sóng – Xuân Quỳnh và Việt Bắc – Tố Hữu

Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một niềm thương, nỗi nhớ. Niềm thương, nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ta tạo nên những rung động mãnh liệt trong cảm xúc. Với các thi nhân, cảm xúc lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Nó giúp cho các nhà thơ làm nên những thi phẩm say đắm lòng người. Tiếng nói từ trái tim sẽ đến được với trái tim. Đoạn thơ:

"Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

trích trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu và đoạn thơ:

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương.”

trích trong bài thơ “Sóng“ của Xuân Quỳnh là những vần thơ dạt dào cảm xúc như thế.

Nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Xuân Quỳnh là hai nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại được nhiều bạn yêu thơ mến mộ. Nếu nhà thơ Tố Hữu là cánh chim đầu đàn, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam thì Xuân Quỳnh được mệnh danh là nữ hoàng của thơ tình.

Mỗi tác giả đã tạo ra thơ của mình với mỗi vẻ đẹp riêng. Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình, chính trị; mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu mang giọng điệu ngọt ngào, tâm tình tha thiết, giọng của tình thương mến; đậm đà tính dân tộc. Thơ Xuân Quỳnh lại in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết, luôn khát vọng về một hạnh phúc đời thường.

Bài thơ “Việt Bắc” viết về cách mạng, còn bài thơ “Sóng” hướng tới đề tài tình yêu lứa đôi.

Tháng 10/1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tình lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc” in trong tập thơ “Việt Bắc”. Đoạn thơ trích trong bài Việt Bắc là lời người ra đi đáp lại người ở lại.

Bốn câu thơ giống như một lời thề nguyền, lời khẳng định gắn bó thủy chung trước sau như một mà những cán bộ cách mạng miền xuôi muốn gửi tới đồng bào Việt Bắc. Lời thơ óng ả, dịu dàng, tình tứ và lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “mình - ta” được sử dụng một cách linh hoạt. Nỗi nhớ của người cách mạng về quê hương Việt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau. Sự sắp xếp từ liền đôi, quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léo khẳng định tấm lòng của “ta” cũng như “mình”. Tình cảm của người về với Việt Bắc là thứ tình cảm thắm thiết, mặn mà, gắn chặt trong tim, ghim chặt trong lòng. Tình cảm ấy còn được khẳng định bằng một hình ảnh thơ so sánh “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Trong tiềm thức của người Việt Nam nước trong nguồn là dòng nước không bao giờ vơi cạn, chảy bất tận. Ý thơ trở nên sâu sắc hơn khi tác giả sử dụng cặp từ so sánh tăng tiến “bao nhiêu,… bấy nhiêu”. Đó là sự so sánh giữa một cái vô tận với một cái bất tận.

Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào” (1968). Bài thơ được viết khi Xuân Quỳnh còn trẻ khoảng 25 tuổi nhưng đã trải qua không ít những thăng trầm, đổ vỡ trong tình yêu.

Ở khổ thơ trên “Sóng” được khám phá theo chiều rộng của không gian ở hai miền “xuôi”, “ngược”. Sóng dù xuôi về hướng Bắc, dù ngược về phương Nam thì cuối cùng vẫn hướng về bờ:

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương.”

Thông thường người ta hay nói xuôi Nam, ngược Bắc nhưng ở đây Xuân Quỳnh lại nói xuôi Bắc, ngược Nam, dường như cái lô-gic của lí trí thông thường đã bị lu mờ, chỉ còn lại hai miền xuôi ngược để trăn trở tìm nhau, để khao khát bên nhau. Cách nói ấy cũng khiến người đọc hình dung về những gian nan, cách trở mà trái tim yêu phải vượt qua.

Con “sóng” kia muôn đời thao thức để khắc khoải xuôi ngược tìm bờ thì em cũng chỉ duy nhất hướng về “phương anh”. Đây là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh khi đưa khái niệm không gian để nói về mức độ thủy chung, bốn phương Đông - Tây - Nam - Bắc là của vũ trụ này, chỉ có duy nhất nơi anh là phương trời của em. Giữa cuộc đời rộng lớn, thơ anh vẫn mới là bến bờ hạnh phúc, là nơi duy nhất em tìm về. Ý thơ bộc bạch rất thật, sáng lên vẻ đẹp của tình yêu chung thủy. Hóa ra ở trung tâm nỗi nhớ là anh nên dẫu có đi về phương nào thì em cũng hướng về phương anh. Câu thơ giống như một lời nguyện thề thủy chung, da diết, đằm thắm.

Nếu ở khổ 5 nhân vật trữ tình bộc bạch "lòng em nhớ đến anh” thì ở đây cảm xúc đã dâng lên một bậc “Nơi nào em cũng nghĩ”. “Nghĩ” có cả yêu thương, mong nhớ, có cả phấp phỏng lo âu, hờn ghen, giận dỗi. Anh trở thành ý nghĩ thường xuyên, thường trực trong lòng, canh cánh trong lòng. “Nhớ” là tình cảm, cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên thì “nghĩ” là sự suy tư, chín chắn, sâu sắc. Người con gái khẳng định sự duy nhất, tuyệt đối gắn bó thủy chung trong tình yêu.

Khổ thơ cho ta thấy tình yêu của người phụ nữ, sự thủy chung son sắt duy nhất. Nhân vật trữ tình đã trực tiếp thể hiện cảm xúc của mình. Khẳng định tình yêu thủy chung cũng là khao khát, là khát vọng người yêu thương phải xứng đáng với mình.

Cả hai đoạn thơ đều là những rung động, những xúc cảm nhớ thương của một tình yêu con người, đất nước trong lòng người bởi một tình cảm đẹp, sự thủy chung son sắt không đổi thay. Trên phương diện nghệ thuật, cả hai đoạn thơ đều là những ngôn từ giản dị nhưng lại giàu giá trị nghệ thuật. Giọng thơ trữ tình tha thiết nhưng cũng khẳng định mạnh mẽ, chắc chắn, đinh ninh như một lời thề.

Tình cảm trong đoạn thơ Việt Bắc là tình cảm lớn lao, tình cảm cách mạng, tình cảm chính trị. Nỗi nhớ ấy gắn liền với cuộc chia ly của người cán bộ cách mạng rời căn cứ địa kháng chiến để trở về thủ đô. Chủ thể của nỗi nhớ là những con người kháng chiến nhớ những kỉ niệm với quê hương Việt Bắc, đồng bào Việt Bắc ân tình đùm bọc, cưu mang trong suốt những tháng ngày gian khổ của cuộc kháng chiến. Còn tình cảm trong “Sóng” là tình yêu đôi lứa, cảm xúc của chủ thể trữ tình “em”, một phụ nữ đang yêu vừa gián tiếp, vừa trực tiếp. “Sóng” là hóa thân mà cũng là phân thân của chủ thể trữ tình. “Sóng” là ẩn dụ để diễn tả nỗi nhớ. Sắc thái của nỗi nhớ trong đoạn thơ chỉ duy nhất hướng về một nơi ở phương anh một cách chung thủy, sắt son.

Đoạn thơ “Việt Bắc” sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc. Giọng điệu ngọt ngào như một khúc trữ tình sâu lắng, da diết. Sóng - đoạn thơ sử dụng thể thơ năm chữ và ẩn dụ nghệ thuật sóng. Thể thơ và nhịp điệu thơ đã gợi hình hài và nhịp điệu bất tận vào ra của những con sóng nỗi nhớ tình yêu. Nhờ nghệ thuật ẩn dụ, nỗi lòng của người phụ nữ khi yêu được thể hiện chân thành, nữ tính, duyên dáng mà không kém phần mãnh liệt, sâu sắc.

Vẻ đẹp trong thơ Tố Hữu luôn gắn với ca dao đậm đà, còn Xuân Quỳnh thì mãnh liệt, nồng nàn. Từ hai nỗi nhớ được thể hiện trong đoạn thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được đặc sắc của hai giọng điệu thơ mà cũng thấy được vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam yêu thương đằm thắm, dịu dàng mà mãnh liệt, tình nghĩa thủy chung, son sắt.

Trên đây là phần trình bày của tôi về việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: Sóng – Xuân Quỳnh và Việt Bắc – Tố Hữu. Hi vọng nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn. Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe.