Giải SBT Ngữ văn 12 CD Bài 8: Thơ hiện đại có đáp án
29 câu hỏi
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
(THANH THẢO)
Hãy giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ.
Đàn ghi ta là một loại đàn có sáu dây, mặt cộng hưởng hình thắt cổ bồng, trên có lỗ thoát âm. Ghi ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu tượng cho nền nghệ thuật ở đất nước này. Không phải ngẫu nhiên mà nó còn được gọi là Tây Ban cầm.
Gar-xi-a Lor-ca (1898 – 1936) là nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông vừa là một nhà hoạt động xã hội có tiếng trong cuộc đấu tranh chống lại mọi thế lực phản động, vừa là người khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. Lor-ca cũng là người nghệ sĩ có những quan niệm nghệ thuật mới mẻ và tiến bộ. Sự nghiệp nghệ thuật của ông có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều thế hệ nghệ sĩ Tây Ban Nha.
Đàn ghi ta của Lor-ca được coi là biểu tượng cho nghệ thuật của Lor-ca, cho những cách tân nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ tài danh này. Và trên hết, nó chính là hiện thân của Lor-ca.
Nhưng nhan đề còn là một phần của sinh thể tác phẩm – sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ. Cùng với tác phẩm, nó bộc lộ tư tưởng nghệ thuật của người viết. Đàn ghi ta của Lor-ca, do đó, không chỉ là dòng tưởng niệm mà Thanh Thảo muốn dành cho Lor-ca với tất cả lòng kính trọng mà còn là cách phát biểu quan niệm nghệ thuật của nhà thơ: nghệ thuật phải sáng tạo, nghệ thuật phải không ngừng đổi mới.
Hình tượng “tiếng đàn” trong bài thơ mang ý nghĩa tượng trưng gì?
Trong bài thơ, hình tượng “tiếng đàn” mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Nó không phải là một tiếng đàn cụ thể nào mà là biểu tượng đa nghĩa.
- Tiếng đàn là biểu tượng cho số phận của Lor-ca — số phận mong manh của người nghệ sĩ giàu khát vọng cao đẹp nhưng “đơn độc”, “mỏi mòn” trong cuộc chiến với các thế lực đen tối: “những tiếng đàn bọt nước”.
- Tiếng đàn đủ các cung bậc như cuộc đời Lor-ca đã nếm trải đủ các ngọt ngào, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau: “tiếng ghi ta nâu / bầu trời cô gái ấy / tiếng ghi ta lá xanh biết mấy / tiếng ghi ta ròng ròng / máu chảy”.
- Tiếng đàn tượng trưng cho nghệ thuật của Lor-ca, cho khát vọng đổi mới nghệ thuật của người nghệ sĩ: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”, “không ai chôn cất tiếng đàn”.
Và trên hết, tiếng đàn là biểu tượng cho cái Đẹp cao cả, cho những giá trị chân chính trong cuộc đời.
(Câu hỏi 2, SGK) Hình tượng Lor-ca đã được nhà thơ khắc hoạ như thế nào qua các chi tiết về tiếng đàn, các hình ảnh, từ ngữ và biện pháp nghệ thuật? Từ đó, hãy chỉ ra tình cảm, suy nghĩ của Thanh Thảo về nhà thơ Lor-ca.
Hình tượng Gar-xi-a Lor-ca không xuất hiện trực tiếp trong những câu thơ mở đầu thi phẩm mà ẩn hiện thấp thoáng qua một thi ảnh có tính chất hoán dụ: “những tiếng đàn bọt nước”. “Những tiếng đàn” ở đây là tiếng đàn ghi ta, liên quan đến sự ra đi của Lor-ca qua câu nói nổi tiếng của ông mà sau đã trở thành đề từ của thi phẩm: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Tiếng đàn ở đây có một sắc diện thật lạ: “bọt nước”. Bọt nước là một hình ảnh (đám bong bóng nhỏ kết lại trên bề mặt nước) mang vẻ đẹp lung linh nhưng cũng rất mong manh, dễ tan và phiêu tán. “Những tiếng đàn bọt nước” phải chăng là một ám chỉ về số phận mong manh của Lor-ca?
- Lor-ca tiếp tục hiện ra một cách gián tiếp qua hình ảnh: “Tây Ban Nha ... áo choàng đỏ gắt ”. Nếu Tây Ban Nha là một hoán dụ nghệ thuật về Lor-ca – công dân ưu tú, người nghệ sĩ xuất sắc của đất nước ở Nam Âu này thì hình ảnh các võ sĩ đấu bò tót lại có thể tượng trưng cho cuộc chiến đấu giữa khát vọng cách tân nghệ thuật trong lòng người nghệ sĩ tài danh với nền nghệ thuật già nua.
- “Tiếng ghi ta ròng ròng / máu chảy” là hình ảnh tượng trưng cho cái chết của Lor-ca. Đây là sự tiếp nối mạch hình tượng Lor-ca đã được miêu tả trong những câu trước: “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt / áo choàng bê bết đỏ / tiếng ghi ta ròng ròng / máu chảy”.
- Tiếng đàn là biểu tượng của nghệ thuật. Gắn với di chúc của Lor-ca (“khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”), dòng thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” có nghĩa là không ai dám “chôn” nghệ thuật của Lor-ca để đi tới. “Cỏ mọc hoang” là có dại, cỏ mọc tự do, tự phát, không có ai chăm sóc, cắt tỉa. “Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” phải chăng là nền nghệ thuật “hậu Lor-ca” thiếu vắng người dẫn đường, không có người định hướng? Kì vọng của người nghệ sĩ giàu khát vọng sáng tạo đã chuyển thành nỗi thất vọng bởi dường như không ai thực sự hiểu Lor-ca, hiểu những suy nghĩ sâu sắc của người nghệ sĩ thiên tài gửi lại cho hậu thế.
- “Đường chỉ tay” là hiện thân của thiên mệnh. “Đường chỉ tay đã đứt” tượng trưng cho số mệnh đã hết của Lor-ca. Hành động “ném lá bùa”, “ném trái tim” của Lor-ca mang hàm ý tượng trưng về sự giã từ, về sự giải thoát nhưng là một sự giã từ và giải thoát chủ động. Lor-ca không thụ động đón đợi cái chết. Cái chết là tất yếu và Lor-ca chủ động chọn nó khi ông thấy mình cần phải ra đi để không trở thành “bệ thờ” cho những thế hệ đi sau.
Ý nghĩa tượng trưng của những hình ảnh thơ trên đã cho thấy tình cảm yêu mến, xót thương, trân trọng của Thanh Thảo đối với Lor-ca.
(Câu hỏi 3, SGK) Hãy chỉ ra yếu tố siêu thực trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca và nhận xét về tác dụng của yếu tố này đối với việc thể hiện nội dung, hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Yếu tố siêu thực được thể hiện qua:
- Những hình ảnh thơ mơ hồ, trừu tượng, khó hình dung, lí giải một cách tường minh. Chẳng hạn như:
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
hay:
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca boi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
hoặc:
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
- Những câu thơ không cần sử dụng dấu chấm câu, không tuân thủ trật tự ngữ pháp, các kết hợp từ theo hướng lạ hoá, mở ra những trường liên tưởng khác nhau, khó cắt nghĩa một cách tường minh, cụ thể: vầng trăng chếnh choáng, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, giọt nước mắt vầng trăng,...
- Những yếu tố trên đã góp phần thể hiện những cảm nhận, cảm xúc còn mơ hồ, khó định nghĩa, tường giải của Thanh Thảo về Lor-ca, về vẻ đẹp, cái chết của người thi sĩ này. Đối với Thanh Thảo, cũng như bất cứ ai, bên cạnh những tình cảm, cảm xúc rõ ràng, còn có những trạng thái tâm lí, tình cảm khó diễn tả một cách tường minh, nhất là trong những khoảnh khắc xuất thần, đột hứng của sáng tạo thi ca. Đó là những trạng thái có thật nhưng ở một thế giới tinh thần không dễ nắm bắt và diễn giải. Về nghệ thuật, yếu tố siêu thực đã đem lại những nét mới lạ cho văn bản thơ, tạo ra những lớp ngôn từ khác thường, mở ra những trường nghĩa vô cùng phong phú. Những yếu tố siêu thực này không chỉ giúp các nhà thờ mở rộng khả năng tái hiện và tái tạo thế giới – thế giới ở phần sâu thẳm, khó nắm bắt, mà còn giải phóng trí tưởng tượng, vượt thoát khỏi những ước lệ trói buộc cảm xúc, đưa thơ trở về với một trong những chức năng nguyên thuỷ của nó, đó là phương thức thể hiện một cách tự do đời sống tâm hồn, tình cảm của con người.
Nhạc tính của bài thơ được tạo nên từ những yếu tố nào?
Không chỉ là một nhà thơ lớn, Lor-ca còn là một nhạc sĩ. Ông thường thích đi khắp xứ như một gã Di-gan (Digan) đơn độc để hát lên những bài thơ của mình như những khúc rô-man (romance), ba-lát (ballad). Cũng bởi vậy mà nhiều bài thơ của Lor-ca thường sống cuộc đời kép thi phẩm và nhạc phẩm. Nghệ sĩ vốn dễ đồng bệnh tương lân. Do đồng bệnh mà đồng điệu. Cho nên, viết về Lor-ca, Thanh Thảo cũng chọn một hình thức thơ mà ở đó lời thơ đã cườm vào nét nhạc, nhạc đã lồng trong thơ để cùng bay lên.
Biểu hiện đầu tiên và rõ nét nhất là việc tác giả khám vào lời thơ những âm thanh như cách diễn tấu của nhạc công khi đệm đàn cho người hát. Đó là hai chuỗi “li-la li-la li-la” ở phần đầu và cuối bài thơ. Nếu chuỗi “li-la li-la li-la” đầu giống như một chuỗi nốt đần buông do người đệm đàn ghi ta lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo đầu, đánh dấu khoảng ngắt để người hát chính thức bắt lời trình diễn ca khúc thì chuỗi “li-la li-la li-la” cuối bài tựa như những tiếng đệm cuối cùng nhằm tạo ra những dư âm sau khi lời hát đã ngừng
Bài thơ còn có sự lặp lại giống như điệp khúc trong một bản nhạc, đó là cụm từ: “tiếng ghi ta”.
Để tạo nên âm hưởng điệp khúc còn phải kể tới thủ pháp lấy từ, điệp cấu trúc được Thanh Thảo khai thác khá thành công; “chàng ném lá bùa cô gái Di-gan / vào xoáy nước – chàng ném trái tim mình / vào lặng yên bất chợt”.
Thể thơ tự do, các đoạn thơ khi sáu dòng, khi bốn dòng, mỗi dòng không đều nhau về số chữ, cách ngắt dòng cũng rất phóng khoáng,... đã tạo cảm giác trường độ, tốc độ, cường độ của dòng cảm xúc đang trôi chảy.
(Câu hỏi 6, SGK) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 –10 dòng) thể hiện suy nghĩ của em về một triết lí nhân sinh được đặt ra trong văn bản.
Qua đoạn thơ Đàn ghi ta của Lor-ca đọng lại trong em hình tượng của một chàng nghệ sĩ với cuộc hành trình đi tìm khát vọng tự do. Người nghệ sĩ ấy mang trong mình cả cuộc sống dữ dội và giấc mơ lãng mạn, cả ý chí kiên cường và những xúc cảm say đắm. Một người nghệ sĩ cô đơn trên hành trình đi tìm cái đẹp trong thế giới bạo tàn, cô đơn trong chính cuộc đấu tranh vì tự do và nghệ thuật. Một con người với khát vọng đi tìm giá trị đẹp đẽ trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ tàn ác, lạnh lùng. Qua tác phẩm còn thể hiện lên nỗi kinh hoàng của dân tộc Tây Ban Nha không chỉ là vì cái chết của Lorca mà còn vì sự tàn bạo, vô nhân đạo trước khát vọng tự do của con người.
BÀI THƠ CỦA MỘT NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH
(TRẦN VÀNG SAO)
Trong bài thơ, đất nước hiện lên qua hình ảnh của những con người nào?
Trong bài thơ, đất nước hiện lên qua hình ảnh thiên nhiên và con người (những đứa trẻ, người mẹ, người yêu,...).
Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong những dòng thơ sau? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật ấy là gì?
Tôi yêu đất nước này như thế
Như yêu cây cỏ ở trong vườn
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương
– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong những dòng thơ là so sánh: “Tôi yêu đất nước này như thế / Như yêu cây cỏ ở trong vườn / Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương”.
– Tác dụng: giúp tác giả diễn đạt một cách cụ thể, sinh động tình yêu đối với đất nước. Đất nước là những điều thiêng liêng nhưng cũng rất đỗi gần gũi, thân thương. Đất nước là thiên nhiên xung quanh ngôi nhà, là mẹ. Đó là hình ảnh về một đất nước lam lũ, vất vả nhưng giàu sức sống và tình cảm yêu thương.
Những dòng thơ cuối bài cho thấy mong muốn, khát khao nào của nhân vật trữ tình về đất nước? (Hãy đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời và giải thích mong muốn, khát khao của nhân vật “tôi”.)
Những dòng thơ cuối bài cho thấy mong muốn, khát khao của nhân vật trữ tình về đất nước hoà bình thống nhất, Nam – Bắc chung vui một nhà, không phân biệt “người miền Nam” hay “người miền Bắc”. Bài thơ ra đời cuối những năm 60, đây là thời điểm đất nước bị chia cắt, cả dân tộc đang phải tiến hành cuộc kháng chiến ái quốc, chống đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mong ước (trông đất nước mình thống nhất) không chỉ là khát khao cháy bỏng của nhà thơ mà còn của nhiều người dân Việt Nam khác.
(Câu hỏi 2, SGK) Những từ ngữ, dòng thơ nào thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình với đất nước? Phân tích ý nghĩa của dòng thơ có tính chất như một điệp khúc trong bài thơ.
– Những từ ngữ, dòng thơ thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình với đất nước: Tôi yêu đất nước này như thế, Như yêu cây cỏ ở trong vườn, Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương, Yêu một giọng hát hay, Tôi yêu đất nước này lầm than, Tôi yêu đất nước này chân thật, Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi, Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi, Đất nước này còn chua xót....
– Tôi yêu đất nước này... được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài như một điệp khúc, mỗi lần là một sắc thái khác nhau:
+ Tôi yêu đất nước này như thế
+ Tôi yêu đất nước này áo rách
+ Tôi yêu đất nước này lầm than
+ Tôi yêu đất nước này chân thật
Dường như nhân vật trữ tình yêu tất cả những gì thuộc về đất nước mà mình biết được và có những trải nghiệm trong đời. Tuy có nhiều cung bậc, nhưng tựu chung lại điệp khúc trên nhấn mạnh tình yêu tha thiết của nhân vật trữ tỉnh đối với đất nước.
(Câu hỏi 3, SGK) Hãy tìm các biểu hiện về giọng điệu của nhân vật trữ tình trong văn bản Bài thơ của một người yêu nước mình. Qua đó, em có suy nghĩ gì về tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình đối với đất nước?
Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ (“Buổi sáng tối mặc áo đi giây ra đứng ngoài đường”, “Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ”, “Mẹ tôi thức khuya dậy sớm”, “Năm nay ngoài năm mươi tuổi”, “Thuở tôi mới đọc được ít thiết tha, thương mến (“Tôi yêu đất nước này như thế”, “Như yêu cây cỏ ở trong vườn”, “Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương”,...), Giọng thơ buồn gắn liền với những kí ức, suy cảm về đất nước, con người: “Tôi yêu đất nước này lầm than”, “Đất nước này còn chua xót”,...
– Tất cả những yếu tố trên cho thấy tình cảm mến yêu tha thiết, sâu nặng, những xúc cảm chân thành, mãnh liệt của nhân vật trữ tỉnh đối với đất nước.
(Câu hỏi 5, SGK) Quan niệm và cách thể hiện tình cảm đối với đất nước của Trần Vàng Sao trong bài thơ trên có gì giống và khác với Nguyễn Khoa Điềm qua đoạn thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bởi sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó ...
(Đất Nước, trích trường ca Mặt đường khát vọng)
– Giống: Đều thể hiện tình yêu Tổ quốc và quan niệm về đất nước gắn liền với những gì gần gũi, thân thương và riêng tư trong cuộc sống của mỗi người.
– Khác: Đoạn thơ của Nguyễn Khoa Điềm tựa như đoạn nghị luận bằng thơ về đất nước với những phân tích, diễn giải. Tác phẩm của Trần Vàng Sao là những cảm xúc chân thành, hồn nhiên về đất nước.
THỜI GIAN
(VĂN CAO)
Vì sao nói Thời gian là bài thơ được viết theo lối tự do?
Thời gian là bài thơ được viết theo lối tự do vì thí phẩm này không tuân theo quy định nào về số tiếng trong một dòng, số dòng trong một khổ / đoạn hay cách ngắt nhịp trong một dòng / câu thơ; có dòng thơ được viết hoa chữ cái đầu tiên nhưng cũng có dòng không viết hoa,...
Điểm giống nhau trong cách cảm nhận của nhà thơ về “thời gian” và “kỉ niệm” là gì?
Trong cảm nhận của nhà thơ, “thời gian” và “kỉ niệm đều được cảm nhận một cách cụ thể, gắn liền với những sự vật, hiện tượng có thể quan sát (những chiếc lá khô), lắng nghe (tiếng sỏi trong lòng giếng cạn). “Thời gian” và “kỉ niệm” là những phạm trù trừu tượng, không thể cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan nhưng ở đây đã được tri giác một cách trực quan. Đây là biểu hiện của biện pháp chuyển đổi cảm giác trong tác phẩm.
Hãy xác định điểm đáng chú ý về hình thức của ba câu thơ cuối. Điều này gợi cho em những cảm nhận gì?
Điểm đáng chú ý về hình thức của ba câu thơ cuối là tách dòng ở các tiếng cuối. Việc tách dòng này tạo ra sự mới mẻ, lạ hoá cho câu thơ, đồng thời có tác dụng nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung được thể hiện trong phần tách dòng: sự tươi xanh, bất diệt của cái Đẹp, của nghệ thuật (“còn xanh”); vẻ đẹp sâu thẳm, huyền bí và long lanh của “đôi mắt em” (“hai giếng nước”).
(Câu hỏi 4, SGK) Em hiểu dụng ý của nhà thơ trong hai dòng thơ cuối thế nào? Hãy giải thích cách hiểu của em.
Đôi mắt em có thể là hình ảnh biểu tượng về người con gái, người tình của thi nhân. Đó là biểu tượng của tình yêu đôi lứa. Đôi mắt ấy long lanh và sâu thẳm “như hai giếng nước”, đó là vẻ đẹp của một tâm hồn, một tình yêu mê đắm và sâu sắc. Tình yêu ấy, cũng như nghệ thuật và cái Đẹp, không thể bị huỷ diệt bởi thời gian. Thời gian có thể làm phai nhạt nhan sắc của người con gái nhưng không thể làm vơi đi chiều sâu của tâm hồn và tình yêu.
(Câu hỏi 5, SGK) Hãy chỉ ra các biểu hiện của thơ có yếu tố tượng trưng trong bài thơ Thời gian và nhận xét về tác dụng của các yếu tố ấy trong việc thể hiện nội dung tác phẩm.
– Các yếu tố của thơ tượng trưng thể hiện qua một loạt hình ảnh có tính biểu tượng: chiếc lá, lòng giếng cạn, câu thơ, bài hát, đôi mắt em, giếng nước; những kết hợp từ theo lối chuyển đổi cảm giác, phối trộn các giác quan: Thời gian ... Làm khô những chiếc lá / Kỉ niệm trong tôi / Rơi / như tiếng sỏi / câu thơ còn xanh / bài hát còn xanh.
– Những yếu tố nghệ thuật trên góp phần tạo ra những liên tưởng phong phú, sâu xa cho người đọc về thời gian và sự sống.
(Câu hỏi 6, SGK) Bài thơ đem đến cho em những suy nghiệm gì về cuộc sống?
Thời gian là thứ tài sản mà ai cũng được chia đều. Thời gian là thứ không thể thêm, bớt và khi đã mất đi chúng ta không thể nào tìm lại được. Bởi vậy, chúng ta phải ý thức được giá trị của thời gian, biết quý trọng thời gian để sống mỗi giây, mỗi phút đều có ý nghĩa. Và nếu ta biết chấp nhận quy luật của thời gian, làm chủ được thời gian, ta sẽ làm chủ được cuộc sống.
(Bài tập 1, SGK) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
[...] Khi nói đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thì trước hết cần thấy rằng đó là một công việc bình thường, tự nhiên và thường xuyên, lâu dài trong về sau, nhằm suốt cả quá trình phát triển của tiếng Việt từ trước tới nay và từ nay bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy ngôn ngữ nào cũng trải qua những thời kì nổi bật lên nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của nó. Như ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Lê-nin (Lenin) đã kêu gọi mọi người không được “làm hỏng tiếng Nga”, “tuyên chiến với việc dùng những từ nước ngoài không cần thiết”.
Ở ta, từ những năm 50, trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã nói đến các thứ “bệnh” ngôn ngữ mà chúng ta thường hay nhắc như: bệnh “sáo”, nghĩa là nói và viết theo một cái khuôn mẫu hoàn toàn như nhau bất kể về việc gì, ở cấp nào, cơ quan nào; bệnh “ba hoa”, “nói dài, nói dại, nói dai”, còn nội dung thì rỗng tuếch, “ba voi không được bát nước xáo”; bệnh “vẽ rắn thêm chân”; bệnh “nói chữ”. Sau này, Bác cũng nhiều lần nhấn mạnh: “khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều, và nhiều khi dùng không đúng”. Bác thường xuyên nhắc nhở: “tiếng nào sẵn có thì dùng tiếng ta” và đồng thời chỉ rõ: “có những chữ ta không sẵn có và khó dịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài”.
Năm 1966, tại cuộc họp mặt về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (ngày 7 và ngày 10 tháng 2), tôi đã nêu ra ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp của nó, và hơn thế nữa làm cho nó ngày càng thêm giàu và đẹp. Đó là: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kĩ thuật,...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
[...] Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi nó ngày càng có tính chất “trí tuệ hoa và quốc tế hoá”. Điều này rất quan trọng khi ta đặt tiếng Việt trong bối cảnh thời đại ngày nay: thời đại của thông tin, của trí tuệ; thời đại của hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu, và do đó, tiếng Việt phải có những chuẩn bị, những thay đổi, để có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà không sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
(Phạm Văn Đồng, Trở lại vấn đề: Vì sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 6, năm 1999)
a) Vì sao phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Nội dung nhiệm vụ đó là gì?
b) Thế nào là một ngôn ngữ phát triển? Vấn đề phát triển tiếng Việt có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay?
a) Giữ gìn tiếng Việt là để bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt. Nói cách khác, giữ gìn tiếng Việt là bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là sự chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách.
Giữ gìn tiếng Việt, theo tác giả, gồm bốn nhiệm vụ quan trọng: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kĩ thuật,...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
b) Một ngôn ngữ phát triển là ngôn ngữ ngày càng có tính chất “trí tuệ hoá và quốc tế hoá”. Vấn đề phát triển tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, vì việc phát triển tiếng Việt sẽ giúp tiếng Việt có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà không sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
(Bài tập 2, SGK) Từ hiểu biết và kinh nghiệm cá nhân, hãy nêu một số biểu hiện cụ thể của việc sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng, không chuẩn mực.
– Thiếu trong sáng, không chuẩn mực về ngữ âm: thay đổi âm hoặc vần của từ tiếng Việt. Ví dụ: được hem, được khum thay cho được không.
– Thiếu trong sáng, không chuẩn mực về từ vựng: dùng từ sai về hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa; dùng từ nước ngoài thay thế cho tiếng Việt. Ví dụ: Khi ý thức cách mạng, ý thức trách nhiệm đã nhiễm sâu vào đảng viên thì việc gì cũng dễ dàng, thuận lợi;...
– Thiếu trong sáng, không chuẩn mực về ngữ pháp: dùng từ, đặt câu không đúng các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt. Ví dụ: Cô chăm sóc cho anh từng li từng tí nhưng anh cũng vô cùng cảm động trước tình cảm của cô dành cho mình.
– Thiếu trong sáng, không chuẩn mực về phong cách: sử dụng từ ngữ, kiểu câu không phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng, nội dung giao tiếp hoặc thể loại văn bản. Ví dụ: Một giấy mời họp có câu như sau: Cuộc họp chắc chắn bắt đầu lúc 14h, cảm phiền ông bà thu xếp công việc tham gia đúng giờ.
Tìm một số câu hoặc đoạn thơ thể hiện sự độc đáo trong cách sử dụng tiếng Việt của các nhà thơ.
a) Nắng xuống, trời lên sâu chót vót (Huy Cận).
b) Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm (Quang Dũng).
c) Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt (Nguyễn Quang Thiều).
Nhận định sau đây đúng hay sai? Lí giải vì sao?
“Bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ không thực hiện việc so sánh, đánh giá một phương diện nội dung hoặc hình thức nghệ thuật của hai tác phẩm thơ mà phải so sánh hai tác phẩm thơ trọn vẹn, gồm cả nội dung và hình thức nghệ thuật.”.
Nhận định đó không đúng vì bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ có thể được hình thành từ nhiều yêu cầu khác nhau: so sánh cả tác phẩm, so sánh một yếu tố nội dung hoặc hình thức, hoặc so sánh một khổ, một câu, đoạn hoặc một chi tiết, hình ảnh cụ thể nào đó... trong hai văn bản thơ.
Những ý nào sau đây nêu đúng những điểm cần lưu ý khi viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ:
a) Xác định mục đích so sánh, đánh giá.
b) Xác định tác giả và khuynh hướng thơ ca cần so sánh.
c) Lựa chọn một số tiêu chí và phương diện cụ thể cần so sánh của hai văn bản thơ.
d) Lí giải về nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của từng bài thơ.
e) Đưa ra các nhận xét về sự hơn, kém giữa hai văn bản thơ.
g) Nêu nhận xét thể hiện quan điểm, thái độ đánh giá về tính độc đáo, sự đặc sắc riêng của mỗi tác phẩm.
h) Đảm bảo tính chính xác của các số liệu, tính trừu tượng của các lập luận lô gích.
Các ý đúng: a, c, g.
Điểm giống và khác nhau trong hai khổ thơ sau của bài Tháng Tư (Nguyễn Linh Khiếu) là gì?
đến tháng Tư mọi chuyện xong rồi
cây đủ lá cánh hoa rơi vào đất
ông Mặt Trời đủ đầy đến gay gắt
đất mỡ màu ngủ lịm dưới bóng râm
và:
đến tháng Tư mọi chuyện tưởng xong rồi
chớm chút trời xanh thoáng hè non nớt
chiều nay ngọn gió bất ngờ cơn mưa bất chợt
nắng sau mưa óng ánh đến nghi ngờ.
Hai khổ thơ trong bài Tháng Tư (Nguyễn Linh Khiếu) đều là những cảm nhận của nhân vật trữ tình về tháng Tư cùng những biến đổi của thiên nhiên, đất trời, đều thể hiện bằng những câu thơ không tuân theo các quy tắc ngữ pháp (không viết hoa đầu dòng, không có dấu), nhưng nếu đoạn thứ nhất là những hình ảnh thiên nhiên thông thường theo chu kì, quy luật thì đoạn thứ hai lại là những biến động bất ngờ, bất chợt của tạo vật, khiến thi nhân ngỡ ngàng, thảng thốt.
Đọc và tìm hiểu văn bản sau theo các hướng dẫn ở bên phải:
(1) Huy Cận và Hồ Chí Minh là hai trong số những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Nếu nhắc đến Huy Cận, độc giả yêu thơ thường nghĩ tới Lửa thiêng - tập thơ đã làm nên tên tuổi và vị thế của ông trong phong trào Thơ mới, thì mỗi khi nghĩ về Bác trong tư cách của một thi sĩ, người đọc lại không thể quên Nhật kí trong tù tập thơ của một bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng” (Viên Ưng). Trong hai tập thơ trên, Tràng Giang và Chiều tối được đánh giá là những thi phẩm tiêu biểu, kết tinh cả tư tưởng, phong cách và tài nghệ của hai tác giả. Những câu thơ sau đây có thể xem là điển hình, có nhiều điểm tương đồng và khác biệt thú vị: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Huy Cận, Tràng giang) Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng. (Hồ Chí Minh, Chiều tối) | Phần (1) trình bày nội dung gì và có điểm nào khác so với những đoạn mở bài thông thường của bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ?
|
(2) [...] Thật vậy, câu thơ đầu của khổ thơ dựng lên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ. Hết lớp máy này đến lớp máy khác xếp chồng lên nhau dựng thành một quả núi mây. Câu thơ gợi nhớ một tử thơ của Đỗ Phủ: “Mặt đất máy đùn cửa ải xá Chẳng biết Huy Cận có học Đỗ Phủ chữ “dùn” này không hay tài năng của người nghệ sĩ lớn đã đem đến cho bài thơ con chứ đắc địa ấy, chỉ biết rằng với chữ “đùn” khung cảnh thiên nhiên càng lúc càng được nới rộng ra, được nhân lên về tầm vóc lớn lao, về sự đồ sộ, hùng vĩ. Và cảnh tượng ấy càng làm tăng lên sự đối lập với hình ảnh một cánh chim chiều mong manh, yếu ớt “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” Chữ “nghiêng” ở đây tương tác với ý thơ trước đó: “đùn núi bạc” để tạo ra lớp nghĩa bóng chiều đang đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch đi, đồng thời “vẽ” lên sự tương phản, đối lập giữa núi mây tầng tầng, lớp lớp với một cánh chim chiều nhỏ nhoi, đơn côi, lạc lõng. Giống như hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng”, “Sông dài trời rộng bến cô liêu”, thi ảnh “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” ẩn chứa nỗi buồn cô đơn, lẻ loi của cái “tôi” trữ tình thơ mới khi đứng trước thiên nhiên, đất trời rộng lớn. Đó là tâm trạng và cũng là mặc cảm thường thấy, có tính phổ quát của nhân loại từ xưa đến nay khi phải đối diện với cái vô thuỷ, vô chung của vũ trụ. [...]“Dợn dợn” là một từ láy nguyên giàu sức sáng tạo, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hỗ ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng của nhân vật trữ tình. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Câu thơ này có sự vận dụng sáng tạo một ý thơ trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:“Nhật mộ hương quan hà xứ thị / Yên ba giang thượng xử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn / Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai). Khác với Thôi Hiệu, nhìn khói sóng trên sông mà nhớ quê, Huy Cận không nhìn khói sóng trên sông mà vẫn nhớ quê da diết. Như chính nhà thơ đã từng thổ lộ: “lúc đó tôi buồn hơn Thôi Hiệu vì thi nhân xưa chỉ nhớ quê còn tôi thì nhớ quê và nhớ nước”. Nỗi buồn này dù có phần “ảo não” (Hoài Thanh) nhưng trong sáng và tích cực, nó phản ánh một cái “tôi” khát khao được hoà nhập và yêu quê hương, đất nước. Khổ thơ vừa mang ý vị cổ điển vừa phập phồng hơi thở của cuộc sống hiện đại. | Phần (2) tập trung phân tích sâu đoạn thơ nào? Với những phương diện nào?
Người viết đã chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt nào giữa thơ Huy Cận và Thôi Hiệu? Từ đó đưa ra nhận định gì?
|
(3) [...] Qua những vần thơ nêu trên trong Tràng giang và Chiều tối, ta có thể thấy những điểm gặp gỡ ngẫu nhiên thú vị giữa hai nhà thơ ở hai xu hướng văn học khác nhau: lãng mạn và cách mạng. Những vần thơ không hẹn mà gặp đã cùng cất lên những giai điệu cổ điển của một tâm hồn lữ khách tha hương. Thể thơ – thất ngôn tứ tuyệt; bức tranh thơ – những hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng; bút pháp thơ – nghệ thuật chấm phá, tả cảnh ngụ tình; chủ thể trữ tình trong thơ – kẻ xa quê với bao nhung nhớ hướng về quê nhà;... là những hoà điệu thú vị trong một niềm cảm hứng chung của hai nhà thơ. Tuy nhiên, ngay trong những điểm tương đồng trên đã có những khác biệt. Cùng là nỗi niềm của người xa quê nhưng nếu Tràng giang là tình cảm nhớ quê, nhớ nước ngay trên đất nước mình của một cái “tôi” lãng mạn, bế tắc thì Chiều tối là nỗi buồn cô đơn, lẻ loi, nhớ về Tổ quốc, về cách mạng của người tù nơi đất khách quê người. Trong khi Tràng giang kiên định một nỗi buồn, nỗi sầu của “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ rộng lớn thì Chiều tối là một tình yêu đối với thiên nhiên và sự sống con người dựa trên chất “thép” phi thường và một tâm hồn lúc nào cũng “nâng niu tất cả chỉ quên mình”... Những sự khác nhau nêu trên đều bắt nguồn từ phong cách, cảm hứng nghệ thuật, vị trí, điều kiện hoàn cảnh riêng,... của mỗi thi sĩ. Tràng giang dẫu sao cũng là một sáng tác của phong trào thơ mới lãng mạn. Còn Chiều tối là tác phẩm của một thi sĩ – chiến sĩ | Phần (3) trình bày những nội dung đánh giá nào của người viết? So với những đánh giá ở các phần trước, nội dung đánh giá ở đây có đặc điểm gì?
|
(4) Trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao đã từng viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có”. Nền văn học của một dân tộc có phong phú hay không chủ yếu dựa vào sức sáng tạo và những sản phẩm nghệ thuật riêng có của các nhà văn. Sự khác biệt của các tác phẩm cho thấy bản sắc, phong cách sáng tạo của mỗi tác giả. Đây chính là yếu tố góp phần làm nên diện mạo riêng của mỗi người nghệ sĩ, là minh chứng sống động cho một nền văn học phát triển. Tràng giang và Chiều tối là những ví dụ điển hình cho chân lí đó dù vẫn có những điểm tương đồng nhất định và thú vị. | Người viết đã kết thúc bài nghị luận thế nào?
|
1. Phần (1) trình bày nội dung: Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh và tác giả Huy Cận cùng hai tác phẩm Tràng Giang và Chiều tối.
Điểm khác với các mở bài khác: Mở bài này giới thiệu 2 tác giả và 2 tác phẩm.
2. Phần (2) tập trung phân tích khổ thơ của Huy Cận trên các phương diện: bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của thi nhân.
3. Điểm tương đồng: Nỗi nhớ quê hương. Từ đó đưa ra nhận định: Khác với Thôi Hiệu, nhìn khói sóng mà nhớ quê, Huy Cận không nhìn khói sóng trên sông mà vẫn nhớ quê da diết.
4. Phần (3) trình bày những điểm gặp gỡ ngẫu nhiên thú vị giữa hai nhà thơ ở hai xu hướng văn học khác nhau: lãng mạn và cách mạng.
5. Người viết đã kết thúc bài nghị luận bằng một nhận định của Nam Cao
Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về phong vị dân gian trong bài Việt Bắc (Tố Hữu) và bài Mưa xuân (Nguyễn Bính)
Tố Hữu và Nguyễn Bính là hai nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm hay và độc đáo. Nếu thơ của Tố Hữu luôn đậm đà tính dân tộc thì Nguyễn Bính lại được xem là nhà thơ của đồng nội. Các tác phẩm Việt Bắc và Mưa Xuân là tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Tố Hữu và Nguyễn Bính, hai tác phẩm này mang phong vị dân gian đặc sắc.
Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mang đậm phong vị dân gian qua nhiều yếu tố nghệ thuật và nội dung. Trước hết, bài thơ sử dụng thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, với nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người. Những câu thơ như:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.”
không chỉ gợi lên hình ảnh quê hương mà còn thể hiện tình cảm gắn bó, thủy chung giữa người ở lại và người ra đi. Tố Hữu cũng sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc trong đời sống dân gian như “áo chàm”, “bếp lửa”, “rừng núi”, “suối lũ”, tạo nên một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống đậm chất Việt Bắc.
Ngoài ra, ngôn ngữ trong bài thơ rất gần gũi, mộc mạc, mang đậm chất dân gian. Những từ ngữ như “mình”, “ta” được sử dụng một cách tự nhiên, thân mật, tạo nên sự gần gũi, gắn bó giữa người đọc và tác phẩm. Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, như lời thủ thỉ của người bạn tri kỷ, làm cho bài thơ trở nên sống động và dễ đi vào lòng người.
Bài thơ “Mưa xuân” của Nguyễn Bính cũng mang đậm phong vị dân gian qua cách sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Nguyễn Bính được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê” bởi thơ ông luôn gắn liền với những hình ảnh thân thuộc của làng quê Việt Nam. Trong “Mưa xuân”, những hình ảnh như “cô gái”, “mưa xuân”, “đường làng” đều rất gần gũi, mộc mạc:
“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.”
Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính giản dị, mộc mạc nhưng đầy chất trữ tình, gợi lên một không gian làng quê yên bình, ấm áp. Những hình ảnh như “mưa xuân”, “đường làng”, “cô gái” đều rất quen thuộc, gần gũi, tạo nên một bức tranh làng quê Việt Nam đầy màu sắc và sống động.
Cả hai bài thơ đều thể hiện phong vị dân gian qua việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh và thể thơ truyền thống. Nếu như “Việt Bắc” của Tố Hữu mang đến một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống đậm chất cách mạng, thì “Mưa xuân” của Nguyễn Bính lại gợi lên một không gian làng quê yên bình, trữ tình. Cả hai đều thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam một cách sâu sắc và chân thành.
Phong vị dân gian trong thơ của Tố Hữu và Nguyễn Bính không chỉ làm cho tác phẩm của họ trở nên gần gũi, thân thuộc với người đọc mà còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ mà còn thấy được tình yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam trong từng câu thơ.
Hãy chỉnh sửa lại định nghĩa sau cho phù hợp
“Trình bày về so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ là nêu, diễn giải, trao đổi những điểm khác biệt của hai văn bản thơ về khía cạnh nội dung, từ đó đưa ra những nhận xét, bình luận thể hiện quan điểm, thái độ đánh giá của người nói về giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.”
Sửa lại định nghĩa cho phù hợp: Trình bày về so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ là nêu, diễn giải, trao đổi những điểm tương đồng, khác biệt của hai văn bản thơ về các khía cạnh nội dung, nghệ thuật, từ đó đưa ra những nhận xét, bình luận thể hiện quan điểm, thái độ đánh giá của người nói, về giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm, hoặc quy luật chung của sáng tạo thi ca,…
Phương án nào nếu không đúng yêu cầu trình bày về việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ? (Chọn một phương án đúng nhất)
A. Xác định được hai văn bản thơ chứa đựng những phương diện về nội dung và hình thức nghệ thuật có thể tiến hành việc so sánh và đánh giá
B. Khi trình bày, ngôn ngữ, giọng điệu,... phải bám sát mục đích, nội dung so sánh, phải thể hiện rõ quan điểm, thái độ đánh giá của người nói
C. Không cần tập trung vào điểm tương đồng, khác biệt giữa hai văn bản thơ mà chỉ cần đưa ra những nhận định, đánh giá về các tác phẩm được so sánh
D. Khi trao đổi, thảo luận, cần bảo vệ quan điểm riêng của bản thân nhưng cũng phải thể hiện thái độ tôn trọng sự lựa chọn và ý kiến của người khác
Chọn đáp án: C. Không cần tập trung vào điểm tương đồng, khác biệt giữa hai văn bản thơ mà chỉ cần đưa ra những nhận định, đánh giá về các tác phẩm được so sánh
Hãy chuyển bài viết về phong vị dân gian trong bài Việt Bắc (Tố Hữu) và bài Mưa xuân (Nguyễn Bính) thành bài trình chiếu PowerPoint và trình bày trước lớp hoặc trong tổ / nhóm.
HS trình bày trước lớp về PowerPoint đã chuẩn bị.


