Giải SBT Ngữ văn 12 CD Bài 4: Văn tế, thơ có đáp án
37 câu hỏi
I. Bài tập đọc hiểu
VĂN TÉ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(NGUYỄN ĐÌNH CHIẾU)
(Câu hỏi 1, SGK) Dựa vào phần Kiến thức ngữ văn, hãy xác định bố nêu ý chính trong các phần của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Phần | Đoạn văn | Ý chính |
Lung khởi | Hai câu đầu | Khái quát bối cảnh thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân nghĩa sĩ. |
Thích thực | Từ câu “Nhớ linh xưa” đến câu “Kẻ đâm ngang, người chém ngược.... tàu đồng súng nổ” | Hồi tưởng công nghiệp, đức hạnh của người đã mất, tái hiện hình tượng người nông dân nghĩa sĩ |
Ai vãn | Từ câu “Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ” đến câu “Thà thác mà đặng câu địch khái... ở với man di rất khổ” | Niềm đau xót, tiếc thương đối với người nông dân nghĩa sĩ hi sinh vì đất nước. |
Kết | Đoạn còn lại | Khẳng định sự hi sinh cao đẹp và ngợi ca linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. |
Khi kẻ thù xâm phạm đất nước, người nông dân bình thường, giản dị đã có sự chuyển biến thế nào để trở thành người nông dân nghĩa sĩ?
Trong phần Thích thực, qua hồi tưởng, tác giả tái hiện một cách chân thực hình tượng người nông dân nghĩa sĩ với sự chuyển biến từ người nông dân bình thường, giản dị trở thành những người anh hùng khi kẻ thù xâm phạm đất nước.
– Người nông dân trước “trận nghĩa đánh Tây” là những người lao động, sống cuộc đời lam lũ, cơ cực (“cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”), chỉ quen với công việc đồng ruộng (“chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”), hoàn toàn xa lạ với việc đao binh (“tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”).
– Khi kẻ thù xâm phạm đất nước:
+ Căm thù giặc sâu sắc (“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”).
+ Tự giác đứng lên chiến đấu với lòng yêu nước nồng nàn (“Trông tin quan như trời hạn mong mưa”; “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kinh; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”).
+ Tư thế hiên ngang, lẫm liệt, hành động quả cảm phi thường trong “trận nghĩa đánh Tây”: trang bị, vũ khí thô sơ (manh áo vải, ngọn tâm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay) nhưng tinh thần chiến đấu thì sục sôi, bừng bừng khí thế (“đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”), hành động mạnh mẽ, quyết liệt (“kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh...”).
Có thể khái quát sự chuyên biến hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Ôm đất nước những người áo vải / Đã đứng lên thành những anh hùng” (Đất nước).
(Câu hỏi 3, SGK) Tiếng khóc của tác giả xuất phát từ những nguồn cảm xúc nào? Tiếng khóc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có bi luỵ không? Vì sao?
Tiếng khóc của tác giả xuất phát từ những nguồn cảm xúc: thương cảm, xót đau đối với người nông dân nghĩa sĩ khi sự nghiệp đang còn dang dở, ý nguyện chưa thành (“những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ.”), đối với những gia đình mất người thân, những người mẹ mất con, người vợ mất chồng (Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều. Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.”), đối với nhân dân trong cảnh nước mất, nhà tan (“Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.”).
Tiếng khóc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng không bị luỵ. Bởi lẽ:
+ Không chỉ là tiếng khóc cá nhân khóc thương cho một vài người mà còn là tiếng khóc của nhân dân, đất nước khóc thương cho cả dân tộc.
+ Không chỉ gợi nỗi xót đau mà còn khích lệ lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến đấu, tiếp nối sự nghiệp đang còn dang dở của người đã khuất.
+ Không chỉ tiếc thương những gì đã mất mà còn khẳng định những điều sẽ còn mãi (“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời, ai cũng mộ.”).
+ Khóc thương người chết mà lại ngời lên niềm tự hào về lẽ sống cao đẹp (“Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh.”).
Dựa vào phần Kiến thức ngữ văn về thể loại văn tế, hãy chỉ ra và phân tích một số đặc điểm của thể loại này về lời văn, về từ ngữ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Một số đặc điểm của thể loại văn tế về lời văn, về từ ngữ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:
- Đặc điểm chung về lời văn, về ngôn ngữ của thể loại văn tế như phần Kiến thức ngữ văn đã nêu: Văn tế có thể được viết bằng văn xuôi cổ, có đối, văn vần, có khi được viết theo thể tự do nhưng phần nhiều văn tế phỏng theo thể phú Đường luật Văn tế thường sử dụng nhiều thán từ, những từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm.
- Đặc điểm của thể loại văn tế về lời văn, về từ ngữ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:
+ Về lời văn: phỏng theo thể phú Đường luật, sử dụng câu văn biền ngẫu. Tất cả các câu văn đều có nghệ thuật tiểu đối (đối trong một câu). Tác dụng của biện pháp nghệ thuật tiểu đối, hoặc là làm nổi bật ý khi đối tương phản (“Súng giặc đất rên; lòng dân trời tỏ”, “Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.”), hoặc làm nổi bật ý lúc đối tương đồng (“Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”, “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”). Nhịp điệu câu văn trầm lắng thể hiện dòng cảm xúc, khi kéo dài như lời than: “Chùa Tông Thạnh năm cạnh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng răm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.”, lúc đứt đoạn như những tiếng nấc nghẹn ngào: “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều. Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.”.
+ Về từ ngữ: sử dụng nhiều thán từ, thể hiện tình cảm thương tiếc, xót đau (Hồi ơi!, Khá thương thay, Ôi thôi thôi!, Ôi!, Hỡi ôi thương thay!), từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm: những hình ảnh chân thực về người nông dân nghĩa sĩ (“Ngoài cật có một manh áo vải”, “trong tay cầm một ngọn tầm vông; ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”), về những người mẹ mất con, nười vợ mất chồng (“Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều.”, “Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”).
(Câu hỏi 5, SGK) Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã biểu hiện một cái nhìn mới mẻ, tiến bộ về người nông dân so với văn học trung đại. Theo em, điều đó thể hiện ở những điểm nào?
Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã biểu hiện một cái nhìn mới mẻ, tiến bộ về người nông dân so với văn học trung đại.
Tham khảo đoạn văn sau: “Nhìn vào tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người nông dân cũng đã từng xuất hiện ở một số tác phẩm. Trong Đại cáo bình Ngô – bản Tuyên ngôn Độc lập trọng đại của dân tộc ở thế kỉ XV, người nông dân được khẳng định với vai trò, vị trí góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: “Yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập” (Dựng gậy làm cờ, manh (người dân cày lưu tán), lệ (người tôi tớ đi ở) bốn phương tụ hội). Cũng ở thế kỉ XV, nhà thơ Thái Thuận đã ghi lại cuộc sống của người dân quê băng nông sớm vội cày / Vắt trâu nghe mấy tiếng / Cò trắng giật mình bay” (Bên dòng những câu thơ mượt mà với cảm xúc chân thành: “Bãi phẳng triều lên ngập / Nhà sông Muộn – bản dịch). Tuy nhiên, dưới ngòi bút của Đồ Chiểu thì người nông dân “là con người “rất xưa nhưng cũng rất mới” (Nguyễn Huệ Chi). Mới trong nội dung hình tượng: được phản ánh toàn diện, mang vẻ đẹp bi tráng. Mới trong nghệ thuật xây dựng hình tượng: hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực. Mới trong ngôn ngữ nghệ
thuật: đậm chất đời sống, chất Nam Bộ.”
Chọn phân tích một biểu hiện của chất Nam Bộ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Chất Nam Bộ qua hình tượng người nông dân nghĩa sĩ:
- Công việc đồng áng “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khớ” và vũ khí thô sơ trong “trận nghĩa đánh Tây” mang đặc điểm của người nông dân Nam Bộ (“chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”, “manh áo vải”, “ngọn tâm vông”, “lưỡi dao phay”).
- Tính cách người nông dân Nam Bộ: cương trực, khảng khái, mạnh mẽ:
+ Lòng căm thù không đội trời chung với giặc: “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”, “chia rượu lạt, gặm bánh mì nghe càng thêm hổ”,....
+ Tinh thần chiến đấu hăng hái: tự nguyện, sẵn sàng xả thân vì nước (“nào đợi ai đòi, ai bắt”, “chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi”), hành động mạnh mẽ, quyết liệt (“đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”),...
VIỆT BẮC
(Trích)
(TỐ HỮU)
Câu tục ngữ nào phù hợp nhất với ý nghĩa của văn bản Việt Bắc?
A. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
B. Uống nước nhớ nguồn
C. Một giọt máu đào hơn ao nước lã
D. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Chọn đáp án: B. Uống nước nhớ nguồn
Kết cấu của văn bản trích bài thơ Việt Bắc có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả?
Văn bản được tổ chức theo lối đối đáp giữa người đi và kẻ ở trong thời khắc chia tay đầy lưu luyến. Lời hỏi – đáp giữa “ta” với “mình”, giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ cách mạng không chỉ diễn tả tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của người ở lại hay người về xuôi mà còn là sự hô ứng, đồng vọng trong một nỗi nhớ thương chung, trong tình cảm lưu luyến, bịn rịn không muốn rời xa. Chưa hết, c lớp đối thoại của bố cục bên ngoài, có thể thấy lời độc thoại bên trong của chủ thể trữ tình – người đang đắm mình trong những hoài niệm ngọt ngào về tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp thực ra cũng là một cách “phân thân” của chủ thể trữ tình để tâm trạng nhớ nhung, tình cảm yêu thương tha thiết được bộc lộ một cách đầy đủ và sâu nặng hơn.
(Câu hỏi 4, SGK) Hình tượng thiên nhiên, con người và cuộc sống kháng chiến ở Việt Bắc đã được nhà thơ khắc hoạ qua những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ nào? Hãy giải thích sự độc đáo hoặc nét đặc sắc của một trong các yếu tố nghệ thuật đó.
– Câu “Mình đi, mình lại nhớ mình” có sự lặp lại ba lần từ “mình”, trong đó từ “mình” thứ nhất và thứ hai chỉ người cán bộ về xuôi, từ “mình” thứ ba là người Việt Bắc ở lại nhưng cũng có thể là chính người về. Đại từ “mình” ở vị trí thứ ba này mới thật là biến hoá và tinh tế. “Mình” ấy là người ở lại theo lối nói “Mình với ta tuy hai mà một / Ta với mình tuy một mà hai”, hay “mình” đó vẫn là ngôi thứ hai trong cách hỏi và trả lời đầy ẩn ý: Anh về anh có nhớ chính bản thân anh không? Nhớ chính bản thân nghĩa là thuỷ chung son sắt, trước sau như một, nghĩa là không quên những gì mình đã được nhận và trao từ “Mười lăm năm ấy thiết tha nhận ra để rồi khẳng định: “Mình đi mình lại nhớ mình” – đã nhớ rồi, vẫn còn nhớ mặn nồng”. Mối băn khoăn ấy trong lòng người ở lại đã được người ra đi tỉnh và sẽ luôn luôn ghi xương khắc cốt.
- Câu “Nhớ gì như nhớ người yêu” sử dụng biện pháp so sánh, trong đó, tác giả dùng nỗi nhớ người yêu – nỗi nhớ da diết, cồn cào khôn tả để cụ thể hoá nỗi nhớ của người ra đi. So sánh này vừa thể hiện được mức độ của nỗi nhớ, nhất là với những ai đã từng yêu, vừa tạo ra tính đa nghĩa cho câu thơ, vì trong nỗi nhớ chung có nhớ riêng, nhớ người thương lồng trong nỗi nhớ đồng bào, đồng chí.
- Câu thơ “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” vẽ ra một hình ảnh đẹp về người lao động Việt Bắc trên tầm cao của không gian, giữa thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc. Người đứng trên đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi dao trên thắt lưng loé sáng. Hình ảnh ấy gợi ra một tư thế tự tin, vững chãi của người làm chủ núi rừng.
(Câu hỏi 5, SGK) Việt Bắc là một bài thơ hiện đại nhưng lại thấm đẫm chất dân gian. Hãy chỉ ra các biểu hiện của tính dân gian, tính hiện đại trong đoạn trích.
Tính dân gian và tính hiện đại thể hiện cả ở bình diện nội dung và hình thức của văn bản.
– Tính dân gian:
+ Về nội dung, tính dân gian thể hiện rõ nét ở những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc văn hoá về thiên nhiên và con người Việt Bắc; ở tình nghĩa giữa con người với con người, thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
+ Về hình thức nghệ thuật, thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa có âm điệu thống nhất vừa biến hoá, đa dạng. Câu lục bát trong Việt Bắc lúc dung dị, gần gũi với ca dao, khi cân xứng, đăng đối, trau chuốt, nhuẩn nhị đến độ cổ điển (như câu Kiều). Lối kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca đã được vận dụng một cách thích hợp, tài tình cùng cách sử dụng sáng tạo ngôn ngữ, những lối ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ mang đậm phong vị dân gian. Ngoài ra, trong bài thơ Việt Bắc còn có lối tả cảnh theo kiểu tranh tứ bình trong hội
hoạ dân gian,...
– Tính hiện đại:
+ Về nội dung: Lôi ứng xử nghĩa tình đã thành đạo lí nghìn đời của dân tộc đã được cụ thể hoá qua tình cảm gắn bó keo sơn giữa những người cán bộ kháng chiến với Việt Bắc, giữa đông bào Việt Bắc với cách mạng và Bác Hồ. Những tình cảm ấy vừa tiếp nối nguồn mạch cảm hứng yêu nước đã thành truyền thống vừa mang màu sắc hiện đại của bối cảnh kháng chiến lúc bấy giờ. Hoặc vẫn là tâm trạng bâng khuâng, nhớ thương da diết thường thấy ở những cuộc chia li trong văn học cổ nhưng nét hiện đại là ở chỗ: có nhớ thương da diết nhưng không đẫm lệ mà mang niềm vui của những con người vừa làm nên chiến thắng. Chia tay không phải là vĩnh biệt mà tin tưởng vào ngày gặp lại. Tính hiện đại còn thể hiện ở những dự cảm sau này: “Mình về thành thị xa xôi / Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? / Phố đông, còn nhớ bản làng / Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”.
+ Về nghệ thuật: Trong cuộc chia tay, vẫn xuất hiện hình ảnh của chiếc áo chia li giống trong văn học cổ (Chẳng hạn, chiếc áo chia li trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: “Người lên ngựa, kẻ chia bào”, hay: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in” trong Chinh phụ ngâm) nhưng ở đây tính hiện đại lại thể hiện ở sắc “áo chàm” quen thuộc, gắn bó với đồng bào Việt Bắc hiện tại. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi với cuộc sống hằng ngày, không mang tính ước lệ như trong văn học trung đại.
Có ý kiến cho rằng: Việt Bắc là bản tình ca về nghĩa tình của con người trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng cũng có ý kiến khẳng định:
Việt Bắc là bản hùng ca lịch sử về những năm tháng ra trận, chiến đấu và chiến thắng hào hùng. Em có nhận xét gì về các ý kiến trên?
Mỗi ý kiến đều nêu đúng một phương diện nội dung của bài thơ Việt Bắc. Sở dĩ Việt Bắc là bản tình ca về nghĩa tình của con người trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp vì tác phẩm ca ngợi tình cảm gắn bó, thuỷ chung giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến (tâm tình người ở lại và người ra đi), ca ngợi vẻ đẹp trữ tình của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Tác phẩm có kết cấu đối đáp của các cuộc ca hát giao duyên, của trai gái yêu nhau; có lối xưng hô “mình – ta” của đôi lứa yêu nhau, của vợ chồng; có âm hưởng, nhạc điệu của những câu lục bát nhịp nhàng như ru vỗ lòng người.
Việt Bắc cũng là bản hùng ca lịch sử về những năm tháng ra trận, chiến đấu và chiến thắng hào hùng vì tác phẩm thể hiện không khí kháng chiến sôi nổi, tràn đầy khí thế với âm hưởng sử thi, tái hiện lại những chiến thắng làm nức lòng nhân dân cả nước.
Đoạn trích bài thơ Việt Bắc đem đến cho em những hiểu biết nào về vẻ đẹp của con người Việt Nam kháng chiến chống thực Pháp?
Đoạn trích bài thơ Việt Bắc cho thấy những vẻ đẹp sau đây của con người Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp:
+ Tình nghĩa, thuỷ chung, trước sau như một: “Ta với mình, mình với ta / Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”, “Ngày mai về lại thôn hương / Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về.”.
+ Giàu tình cảm yêu thương, biết chia ngọt sẻ bùi: “Thương nhau, chia củ sắn lùi / Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.
+ Lạc quan, yêu đời: “Nhớ sao ngày tháng cơ quan / Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.”.
+ Cần cù, chăm chỉ: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”.
Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về những câu thơ sau:
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
(Việt Bắc, Tố Hữu)
Và:
Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời và rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư
Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mể thức một mùa dài
Con với mể không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi
(Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên)
Những câu thơ trong hai đoạn trích từ “Việt Bắc” của Tố Hữu và “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên đều mang đậm tình cảm sâu sắc và lòng biết ơn đối với những con người và kỷ niệm trong quá khứ. Tố Hữu đã khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống gian khổ nhưng đầy tình người trong thời kỳ kháng chiến. Những hình ảnh như “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa”, và “chăn sui đắp cùng” thể hiện sự đoàn kết, sẻ chia giữa những người đồng chí. Tình cảm gắn bó, yêu thương được thể hiện qua những chi tiết giản dị nhưng đầy ý nghĩa. Hình ảnh người mẹ “nắng cháy lưng” địu con lên rẫy bẻ ngô và lớp học “i tờ” với ánh đuốc sáng đêm khuya gợi lên sự hy sinh và nỗ lực không ngừng của những con người bình dị. Tất cả những kỷ niệm này được tác giả nhớ lại với lòng biết ơn và sự trân trọng, tạo nên một bức tranh đầy cảm xúc về quá khứ gian nan nhưng ấm áp tình người. Chế Lan Viên cũng thể hiện lòng biết ơn sâu sắc qua những hình ảnh đầy xúc động về người anh du kích, thằng em liên lạc và người mẹ nuôi. Hình ảnh “chiếc áo nâu” của người anh du kích, dù rách nát nhưng vẫn được giữ gìn và trao lại cho người em, thể hiện sự hy sinh và tình cảm gắn bó. Thằng em liên lạc với những chuyến đi không ngừng nghỉ, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, là biểu tượng của sự kiên trì và lòng trung thành. Người mẹ nuôi với “lửa hồng soi tóc bạc” và sự chăm sóc tận tụy trong những ngày con đau bệnh, thể hiện tình yêu thương vô bờ bến. Những hình ảnh này không chỉ gợi lên lòng biết ơn mà còn là lời nhắc nhở về những giá trị nhân văn cao đẹp trong cuộc sống. Tố Hữu và Chế Lan Viên đã sử dụng những hình ảnh giản dị nhưng đầy ý nghĩa để khắc họa tình người và sự hy sinh. Đoạn thơ Việt Bắc không chỉ nhớ người mà còn nhớ cảnh, nhớ những khoảnh khắc của “ngày tháng cơ quan” trong kháng chiến, trong khi đó, đoạn thơ Tiếng hát con tàu tập trung thể hiện tình cảm của nhà thơ với nhân dân (người anh du kích, thằng em liên lạc, mế) – những người đã có công cưu mang, đùm bọc nhân vật trữ tình. Nếu Việt Bắc là khúc hát tâm tình cất lên từ những vần thơ lục bát du dương, êm ái thì Tiếng hát con tàu lại là những câu thơ tám chữ da diết như dài theo nỗi nhớ miên man của nhà thơ.
LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
(Xuất dương lưu biệt)
(PHAN BỘI CHÂU)
Chọn phương án đúng cho bài Lưu biệt khi xuất dương:
A. Thơ Đường luật thất ngôn, bát cú, luật trắc
B. Thơ Đường luật thất ngôn, tứ tuyệt, luật bằng
C. Thơ Đường luật thất ngôn, bát cú, luật bằng
D. Thơ Đường luật ngũ ngôn, bát cú, luật bằng
Chọn đáp án: C. Thơ Đường luật thất ngôn, bát cú, luật bằng
(Câu hỏi 2, SGK) Phân tích quan niệm sống của nhân vật trữ tình qua hai câu thực và hai câu luận (ý thức về cá nhân, quan niệm về vinh nhục, sự từ bỏ cái lỗi thời,...).
Quan niệm sống của nhân vật trữ tình được thể hiện qua hai câu thực và hai câu luận:
- Hai câu thực: Sống là phải có ý thức về “cái tôi”. Nhà thơ tin tưởng vào “cái tôi”: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ”. Đó là “cái tôi” công dân, đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc đời, trước đất nước. “Cái tôi” biết hi sinh, cống hiến cho sự nghiệp chung, chứ không phải “cái tôi” cá nhân chỉ biết hưởng lạc. Bên cạnh niềm tự tin vào bản thân là niềm hi vọng, niềm tin vào lớp người trong tương lai: “Sau này muôn thuở, há không ai?”.
- Hai câu luận: Trước hoàn cảnh thực tế của đất nước “non sông đã chết” (đất nước đã mất vào tay giặc), nhà thơ đau đớn, xót xa nhưng đồng thời khẳng định ý chí kiên cường không cam chịu sống cuộc đời nô lệ. Quan niệm sống của tác giả mang những sắc thái mới của tư tưởng thời đại: dũng cảm từ bỏ nền học vấn cũ mà minh từng gắn bó, bởi nên học vấn đó đã lạc hậu, không giúp ích gì trước cảnh nước mất nhà tan. Nhà thơ khát vọng đi tìm con đường cứu nước mới để dân tộc thoát khỏi cảnh đau khổ, lầm than.
Quan niệm sống của nhân vật trữ tinh thể hiện khí phách ngang tàng, hành động mạnh mẽ, quyết liệt, lí tưởng yêu nước nồng cháy của một nhà cách mạng tiên phong trong thời đại mới.
Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật trữ tình trong hai câu kết.
Bài thơ khép lại với hình tượng nhân vật trữ tình trong tư thế và khát vọng đường mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng. Trên nền khung cảnh thiên nhiên kì vĩ: Biển Đông, muôn trùng sóng bạc, cánh gió, con người trong tư thế bay lên mang tầm vóc vũ trụ. Nghĩa hai câu kết trong nguyên văn chữ Hán là “Mong đuổi theo ngọn gió lớn qua Biển Đông / Muôn lớp sóng bạc cùng bay theo”, bản dịch câu thơ cuối lại là “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. “Tiễn ra khơi” có phần quá êm ả, bình lặng, không thể hiện được khí thế mạnh mẽ, hào hùng của con người được chắp đôi cánh của lí tưởng, khát vọng bay lên trên thực tại khắc nghiệt, tối tăm với ánh sáng của niềm lạc quan, niềm tin trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.
(Câu hỏi 4, SGK) Phân tích tác dụng của các yếu tố nghệ thuật trong bài thơ: hình tượng thiên nhiên, nghệ thuật đối, bút pháp ước lệ và cường điệu, giọng điệu,...
Phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong bài thơ:
- Hình tượng thiên nhiên lớn lao, kì vĩ: trời đất (càn khôn), Biển Đông (Đông hải), gió lớn (trường phong), ngàn đợt sóng bạc (thiên trùng bạch lãng) là bối cảnh làm nền để nổi bật lên hình ảnh người chí sĩ cách mạng ra đi tìm đường cứu nước mang sức mạnh, khát vọng vươn ngang tầm với vũ trụ bao la.
- Nghệ thuật đối: hai câu thực thể hiện ý thức về “cái tôi” mang trách nhiệm cá nhân đối với cuộc đời (“Trong khoảng trăm năm cần có tớ”), mang niềm tin vào những con người cùng có “chí làm trai” (“Sau này muôn thuở, há không ai?”). Hai câu luận nói lên quan niệm nhân sinh cao đẹp: không chịu sống cuộc đời nô lệ (“Non sông đã chết sống thêm nhục”), thể hiện một nhận thức mới, mang tính cách mạng: từ bỏ nền học vấn cũ không còn phù hợp với thời đại mới (“Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.”).
- Bút pháp ước lệ, cường điệu: trời đất không thể lay chuyển “chí làm trai”; con người là trung tâm của vũ trụ, trong khoảng “trăm năm”, “muôn thuở”, mang sức mạnh của thiên nhiên “theo gió lớn”, “vượt Biển Đông”,...
- Giọng điệu: sục sôi, đầy nhiệt huyết, có sức lôi cuốn mạnh mẽ (lưu ý cách nói tính khẳng định mạnh mẽ – khẳng định trực tiếp hoặc câu nghi vấn mang tính khẳng định).
Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài hát nói Chơi xuân của Phan Bội Châu:
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi,
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế.
Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ,
Nắm địa cầu vừa một tí con con!
Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại cho non nước nhà!
Đoạn thơ trong bài hát nói “Chơi xuân” của Phan Bội Châu thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt và khát vọng thay đổi thời thế của nhà cách mạng. Bài thơ thể hiện tinh thần trách nhiệm và khát vọng lớn lao của tác giả. Câu thơ “Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi” nhấn mạnh trách nhiệm của người nam nhi đối với đất nước. Phan Bội Châu khẳng định rằng mỗi người đàn ông đều có trách nhiệm tô điểm và bảo vệ giang sơn. “Sinh thời thế phải xoay nên thời thế” thể hiện khát vọng thay đổi thời thế, không chấp nhận số phận mà phải tự mình tạo ra sự thay đổi. Đây là tinh thần chủ động, không cam chịu, luôn tìm cách để cải thiện tình hình. Bài thơ thể hiện niềm tin vào cơ hội và khả năng thay đổi. “Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ” cho thấy niềm tin vào cơ hội và khả năng thay đổi khi gặp thời cơ thuận lợi. Phan Bội Châu tin rằng nếu có cơ hội, việc thay đổi thời thế không phải là điều quá khó khăn. “Đem xuân vẽ lại cho non nước nhà” thể hiện mong muốn mang lại mùa xuân, sự tươi mới và thịnh vượng cho đất nước. Phan Bội Châu mong muốn đất nước được đổi mới, phát triển và hạnh phúc. Đoạn thơ của Phan Bội Châu không chỉ là lời kêu gọi hành động mà còn là lời khẳng định tinh thần yêu nước, trách nhiệm và khát vọng lớn lao của người cách mạng. Tinh thần này không chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh lịch sử mà còn là nguồn cảm hứng cho thế hệ sau, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm và khát vọng xây dựng đất nước.
Tìm đọc trong sách, Internet... các bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, Chi làm trai của Nguyễn Công Trứ, chỉ ra sự giống và khác nhau về “chí làm trai” ở bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu với những bài thơ đó.
Trước hết tìm đọc trong sách, Internet... các bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, Chi làm trai của Nguyễn Công Trứ. Tiếp đến, nêu lên sự giống nhau và khác nhau giữa các bài thơ này với bài Lưu biệt khi xuất dương.
- Giống nhau: “chí làm trai” là lí tưởng sống của trang nam nhi. “Chí làm trai” là lập công danh để lại cho đời (“Công danh nam tử còn vương nợ” – bài Tỏ lòng; “Nợ tang bồng vay trả trả vay / Chí làm trai nam bắc đông tây” – bài Chí làm trai; “Làm trai phải lạ ở trên đời” – bài Lưu biệt khi xuất dương), có trách nhiệm với cuộc đời, với non sông, đất nước (“Múa giáo non sông trải mấy thâu” – bài Tỏ lòng, “Quyết ra tay lèo lái trận cuồng phong / Chí những toan xẻ núi lấp sông” – bài Chi làm trai; “Non sông đã chết, sống thêm nhục” – bài Lưu biệt khi xuất dương).
- Khác nhau: Trong bài Lưu biệt khi xuất dương, nhân vật trữ tình táo bạo, mạnh mẽ, quyết liệt hơn. Con người dám đối mặt với cả trời đất (càn khôn), cả vũ trụ để tự khẳng định mình: “Há để càn khôn tự chuyển dời / Trong khoảng trăm năm cần có tớ”. “Chí làm trai” của con người mang tư tưởng của thời đại mới, đầy bản lĩnh dám từ bỏ những cái cũ đã trở nên lạc hậu trước thời cuộc (“Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”) để tìm đến con đường cứu nước mới (“Muốn vượt Biển Đông theo cánh gió, / Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.”).
TÂY TIẾN
(QUANG DŨNG)
(Câu hỏi 1, SGK) Lúc đầu, bài thơ có nhan đề là Nhớ Tây Tiến, sau đó, tác giả đổi thành Tây Tiến. Theo em, sự thay đổi đó có tác dụng gì?
Lúc đầu, bài thơ có nhan đề là Nhớ Tây Tiến, sau đó, tác giả đổi thành Tây Tiến. Theo em, sự thay đổi đó có tác dụng:
– Lược bỏ từ “nhớ” làm cho ý thơ đỡ lộ. Không cần có từ “nhớ”, người đọc vẫn cảm nhận được nỗi nhớ bao trùm cả bài thơ.
– Bỏ đi từ “nhớ”, nhan đề bài thơ ngắn gọn, chỉ còn hai chữ “Tây Tiến”. Sự tập trung chú ý dồn vào hai chữ “Tây Tiến”, vừa cô đọng, vừa có sức lan toả: Tây Tiến là đơn vị chiến đấu, là người lính, là điểm xuất phát và cũng là điểm về cảm, nỗi nhớ của nhà thơ.
Kết cấu bài thơ Tây Tiến có gì đáng lưu ý? Kết cấu đó có liên quan như thế nào với mạch cảm xúc của bài thơ?
Bài thơ có kết cấu bốn đoạn:
- Đoạn 1 (từ “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!” đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”): Qua nỗi nhớ của tác giả hiện lên cảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và hình ảnh đoàn quân Tây Tiến với những cuộc hành quân gian khổ nhưng thắm thiết tình quân dân.
- Đoạn 2 (từ “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” đến “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”): Những kỉ niệm tuyệt đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và vẻ đẹp thơ mộng của cảnh sông nước Tây Bắc.
- Đoạn 3 (từ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”): Trực tiếp tập trung khắc hoạ hình tượng người lính với vẻ đẹp lãng mạn và bị tráng.
- Đoạn kết (từ “Tây Tiến người đi không hẹn ước” đến “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”): Nhớ lại lời thề trước buổi lên đường, dù xa đơn vị vẫn gửi lòng mình mãi gắn bó với Tây Tiến, với miền Tây.
Kết cấu bài thơ như gợi lên những đợt sóng tình cảm tiếp nối: trào dâng ở đoạn I, nhẹ nhàng, lắng đọng ở đoạn 2, tiếp tục tuôn trào, mạnh mẽ ở đoạn 3 để rồi sâu lắng ở đoạn kết.
Phân tích tác dụng của hình tượng thiên nhiên trong việc thể hiện hình tượng người lính Tây Tiến.
Cảnh thiên nhiên Tây Bắc mang vẻ đẹp lãng mạn, là bối cảnh làm nổi bật, tôn lên vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của chiến binh Tây Tiến.
− Ở đoạn 1 là hình ảnh thiên nhiên với vẻ đẹp lãng mạn dữ dội, hùng vĩ khác thường: đèo cao sương lấp, “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm”, “heo hút cồn mây”, “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”...; với cảnh núi rừng huyền bí, hung dữ “thác gầm thét”, “cọp trêu người”. Trên nền bối cảnh thiên nhiên đó, người lính xuất hiện với vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng: những chặng đường hành quân đầy gian khổ, hi sinh là những thử thách của thiên nhiên và người lính đã vượt qua tất cả với lòng dũng cảm, với tinh thần lạc quan. Tâm hồn lãng mạn của người lính còn thể hiện qua nỗi nhớ thắm thiết tình quân dân: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói / Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.
- Ở đoạn 2 là hình ảnh thiên nhiên với vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng, huyền ảo: cảnh núi rừng trong đêm liên hoan văn nghệ như “hội đuốc hoa”, cảnh sông nước Tây Bắc trong không gian mờ ảo của màn sương giăng, trong thời gian buổi chiều tĩnh lặng, đôi bờ phơ phất ngàn lau, những bông hoa “đong đưa” trên mặt nước,... Bối cảnh thiên nhiên lãng mạn làm nền tương ứng với hình ảnh lãng mạn của chiến binh Tây Tiến: đắm say trong những điệu múa, điệu khèn của các thiếu nữ người dân tộc, nhớ về hình ảnh các cô gái vùng cao duyên dáng trên những con thuyền độc mộc: “Có nhớ dáng người trên độc mộc / Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.
(Câu hỏi 4, SGK) Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính trong đoạn thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ... Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Có thể phân tích vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của người lính qua kết cấu của đoạn thơ:
– Bốn câu thơ đầu: Vẻ đẹp lãng mạn của người lính qua dáng vẻ và đời sống tâm hồn.
+ Dáng vẻ oai phong lẫm liệt khác thường: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.
Quang Dũng không hề che giấu những gian khổ, thiếu thốn ghê gớm mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng. Nhưng sự thật nghiệt ngã được lãng mạn hoá tạo nên ở họ vẻ oai phong, lẫm liệt khác thường. Sự thực người lính Tây Tiến đầu không mọc tóc do sốt rét rụng tóc hoặc do họ tự cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh giáp lá cà. Sự thật người lính Tây Tiến “da xanh màu lá” cũng do bệnh sốt rét, do thiếu ăn, thiếu ngủ. Thế nhưng “đoàn binh không mọc tóc” lại gợi cảm hứng về một vẻ đẹp dữ dội khác thường và “màu lá” gợi cảm hứng về màu của rừng xanh, đã tạo liên tưởng đầy chất lãng mạn: người lính oai phong, lẫm liệt như mãnh hổ ngự trị chốn rừng thiêng.
+ Đời sống tâm hồn với nhiều “mộng” và “mơ”. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới / Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Quang Dũng thể hiện rất đúng “chất lính” của những người học sinh, trí thức Thủ đô ra đi kháng chiến. Gian khổ, thiếu thốn không làm giảm phong độ hào hoa của họ. Người lính Tây Tiến mang vào cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc cả cái hào hoa, thanh lịch của người Hà Nội. Người lính mộng chiến công truy kích giặc biên giới Việt – Lào. Các chiến binh “mắt trừng” để nhìn về phía kẻ thù, để nêu tinh thần cảnh giác, để mài sắc quyết tâm chiến đấu. Người lính ra đi từ trường xưa, phố cũ nên họ nhớ về kỉ niệm là nhớ về một tà áo trắng, một mái tóc thề, một đôi mắt huyền, nhớ về một “dáng kiều thơm”.
- Bốn câu thơ sau: Vẻ đẹp lãng mạn và bị tráng của người lính qua tư thế ra đi vì lí tưởng và sự hi sinh cao đẹp.
+ Tư thế ra đi vì lí tưởng của người lính được gợi tả trong những câu thơ đầy chất lãng mạn và tinh thần bị tráng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ / Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
Cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới nhưng khung cảnh không hiện lên một cách thê lương. Cảm giác bị thương bị mờ đi bởi lí tưởng xả thân quên mình vì Tổ quốc của người lính: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Hai từ “chẳng tiếc” đặt giữa câu thơ thể hiện tư thế ra đi coi cái chết nhẹ tựa lông hồng của những người “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. “Đời xanh” là tuổi trẻ với bao hoa mộng. Đẹp là thế, hứa hẹn nhiều là thế nhưng “chẳng tiếc”, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc.
+ Cái chết của người lính mang vẻ đẹp bi tráng: “Áo bào thay chiếu anh về đất / Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Sự thật bi thảm: Những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có cả đến mạnh chiếu che thân, qua cái nhìn của Quang Dũng lại được bao bọc trong những tấm chiến bào sang trọng (có cách hiểu khác: áo bào thay bằng chiếu hay là lấy chiếu thay cho áo bào). Cái bị thương vợi đi nhờ cách nói giảm (“anh về đất”) và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã. Người lính ra đi không có tiếng kèn đưa tiễn của đoàn quân nhạc thì đã có tiếng gầm của dòng sông quê hương. Cả đất trời nghiêng mình tiễn biệt anh. Anh ra đi trong những âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên
(Câu hỏi 5, SGK) Bài thơ Tây Tiến đậm chất nhạc, chất hoạ, có cách kết hợp từ mới lạ, độc đáo. Hãy phân tích những thành công nghệ thuật đó.
Bài thơ Tây Tiến đậm chất nhạc, chất hoạ, có cách kết hợp từ mới lạ, độc đáo.
- Chất nhạc được gợi lên từ âm hưởng, giọng điệu thể hiện nỗi nhớ da diết qua cách cách dùng từ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! / Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi” (Từ “ơi” kết hợp với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng thiết tha âm vang trong lòng người đọc). Việc phối hợp thanh điệu góp phân tạo nên nhạc điệu của bài thơ. Dòng thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” với nhiều thanh trắc, đọc lên nghe như thấy được tiếng thở nặng nhọc của người chiến sĩ sau chặng đường vượt dốc. Trong khi đó, dòng thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” lại toàn thanh bằng làm cho nhịp thơ như trầm xuống, thể hiện sự thư thái sau những phút giây vất vả. Nhạc điệu gợi lên từ âm thanh của tiếng khèn: “Khèn lên man điệu nàng e ấp”, từ sự trầm trồ, ngỡ ngàng của người lính trẻ khi bất ngờ nhận ra vẻ đẹp của những thiếu nữ người dân tộc: “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”.
- Chất hoạ được tạo nên từ một cây bút thơ giàu chất tạo hình. Cách phối hợp thanh điệu, nhịp điệu dòng thơ gợi lên hình ảnh. Với bốn câu thơ: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm [...] Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, tác giả đã vẽ lên bức tranh hoành tráng, thể hiện sự hùng vĩ, hiểm trở và dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc. Những từ mang giá trị tạo hình cao: khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi rừng miền Tây Tổ quốc. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn heo hút, người lính trèo lên những ngọn núi, mũi súng như chạm tới đỉnh trời. Thủ pháp đối lập được khai thác triệt để ở dòng thơ thứ ba. Nhịp điệu dòng thơ như bẻ đôi, từ ngữ, hình ảnh đối lập nhau: ngàn thước lên cao ngàn thước xuống, diễn tả dốc vút lên đổ xuống gần như thẳng đứng. Dòng thơ gây cho độc giả cảm giác được “chơi” một trò bập bênh đến chóng mặt. Ba dòng trên nhiều thanh trắc tạo sự chắc khoẻ, gân guốc. Dòng thứ tư toàn thanh bằng tạo nên sự mênh mang, mềm mại. Từ góc độ hội hoạ có thể thấy rằng: giữa những nét vẽ gân guốc, khoẻ khoắn là một nét vẽ thanh nhẹ làm dịu mát cả bức tranh.
Bài thơ Tây Tiến có những cách dùng từ và kết hợp từ mới lạ. Các em có thể nêu và phân tích một số ví dụ: “Nhớ chơi vơi” (Từ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ: mênh mang nhưng sâu lắng. Đây là nỗi nhớ chênh chao giữa đôi bờ hư và thực). “Hoa về trong đêm hơi” (Nếu là “hoa nở” thì chỉ gợi lên hình ảnh của hoa còn “hoa về” thì vừa gợi lên hình ảnh hoa, vừa gợi lên hình bóng con người; Nếu là “đêm sương” thì đơn thuần là tả thực, còn “đêm hơi” thì gợi lên cả cái hồn của cảnh vật đậm chất thơ). “Súng ngửi trời” (Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất tự nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có tính chất tinh nghịch của người lính). “Hoa đong đưa” (Nếu là “hoa đung đưa” thì đơn thuần là chuyên động vật lí, còn “hoa đong đưa” là trạng thái tâm hồn, hoa cũng như người thiếu nữ chèo thuyền độc mộc làm duyên, làm dáng trên gương nước chòng chành), v.v.
Phân tích sự giống nhau và khác nhau của hình tượng người lính qua hai đoạn thơ sau:
- Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e áp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
(Quang Dũng, Tây Tiến)
- Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái lều gianh,
Tiếng mõ đêm trường,
Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya.
Chúng tôi đi
Nắng mưa sờn mép ba lô,
Tháng năm bạn cùng thôn xóm.
Nghỉ lại lưng đèo
Nằm trên dốc nắng
Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
(Hồng Nguyên, Nhớ)
So sánh | Đoạn thơ (bài Tây Tiến) – Đoạn thơ (bài Nhớ) | |
Giống nhau | – Viết về người lính trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. – Viết về đời sống tâm hồn. + Nỗi nhớ của người lính trên đường đi chiến đấu. + Thể hiện tinh thần lạc quan của người lính trong cuộc sống khó khăn, gian khổ. | |
Khác nhau | Đoạn thơ (bài Tây Tiến) | Đoạn thơ (bài Nhớ) |
– Nỗi nhớ thể hiện tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính xuất thân từ học sinh, sinh viên, ra đi từ Thủ đô Hà Nội. – Tinh quân dân thắm thiết. | – Nỗi nhớ về quê hương chân thực, bình dị của người lính xuất thân từ làng quê. – Tình đồng chí, tình quân dân sâu nặng. | |
II. Bài tập tiếng Việt
(Bài tập 1, SGK) Tìm biện pháp tu từ nghịch ngữ trong các câu văn biền ngẫu dưới đây (trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu). Cho biết mỗi nghịch ngữ đó có tác dụng khắc hoạ hình ảnh các nghĩa sĩ áo vải như thế nào.
a) Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
b) Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tẩu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
c) Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
a) Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
b) Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
c) Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ dền công đó.
Các từ ngữ trái ngược, đối nghịch nhau có tác dụng khắc hoạ hình ảnh người nghĩa sĩ áo vải tuy nhỏ bé về hình hài, thô sơ về quân trang, nghèo nàn về kinh nghiệm trận mạc nhưng có tính thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Họ sống với tinh thần tận trung, tận hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
(Bài tập 3, SGK) Phân tích tác dụng của nghịch ngữ trong các ngữ liệu sau:
a)
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
(Xuân Quỳnh)
b)
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.
(Vũ Quần Phương)
c)
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
(Xuân Diệu)
a)
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
(Xuân Quỳnh)
Biểu thức nghịch ngữ: Cả trong mơ còn thức thể hiện một hiện thực phi lí với lí trí nhưng hợp lí với quy luật của tình yêu. Tình yêu nhờ nỗi nhớ mãnh liệt đã phá vỡ mọi giới hạn không gian, thời gian, trở thành nỗi khát khao thường trực trong tâm trí con người.
b)
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền,
(Vũ Quần Phương)
Biểu thức nghịch ngữ nhắm mắt - nhìn thấy thể hiện sự kì diệu của những câu chuyện kể, cũng là sự kì diệu của văn học nghệ thuật đối với đời sống tâm hồn, tình cảm của con người.
c)
Xuân dương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
(Xuân Diệu)
Biểu thức nghịch ngữ đương tới – đương qua; rộng – chật thể hiện cảm nhận hiện đại của Xuân Diệu về thời gian tuyến tính một đi không trở lại, cũng là bi kịch của con người không thể níu giữ và làm chủ thời gian.
Tìm và phân tích tác dụng của nghịch ngữ trong các đoạn trích sau:
a)
Sống đã vì cách mạng, anh em ta
Chết cũng vì cách mạng, chẳng phiền hà!
Vui vẻ chết như cây xong thửa ruộng
Lòng khoe nhẹ anh dân quê sung sướng
(Tố Hữu)
b) Vì mới chết lần này là lần đầu, nên anh Xích chưa có lịch duyệt về khoản ấy. Thực vậy, nếu chết ở tỉnh, thì ai láu, nên chọn vào đêm thứ Sáu.
(Nguyễn Công Hoan)
a) Biểu thức nghịch ngữ sống – chết, vui vẻ chết thể hiện quyết tâm hiến mình cho lí tưởng, cho cách mạng của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ. Được hi sinh cho lí tưởng được xem là một hạnh phúc toại nguyện, tràn đầy.
b) Biểu thức nghịch ngữ chết – lần đầu, chết – chọn vào đêm thứ Sáu thể hiện cái chết của nhân vật anh Xích có rất nhiều bất thường.
Viết một đoạn văn 8 – 10 dòng) về một bộ phim, một ca khúc, một món ăn,… hoặc một tác phẩm văn học mà em yêu thích. Đặt tiêu để cho đoạn văn là một biểu thức nghịch ngữ.
Ngọt ngào cay đắng
“Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng là một tác phẩm văn học mà em yêu thích. Câu chuyện xoay quanh gia đình ông Bằng, một gia đình truyền thống Hà Nội, trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Tác phẩm không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, đạo đức mà còn khắc họa sâu sắc những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình. Những khoảnh khắc ngọt ngào của tình thân, tình yêu đan xen với những nỗi đau, mất mát tạo nên một bức tranh sống động và chân thực. Chính sự kết hợp giữa ngọt ngào và cay đắng đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm, khiến người đọc không thể rời mắt và suy ngẫm mãi về những giá trị nhân văn sâu sắc.
III. Bài tập viết và nói nghe
Nhận định sau đây có điểm nào cần điều chỉnh? Vì sao?
Khi viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, người viết không cần đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tin cậy mà chỉ cần diễn đạt một cách tướng mính, hung hồn những nhận định, quan điểm, suy nghĩ của mình về khía cạnh tích cực hoặc tiêu cực của vấn đề bản luận, trong đó, cần chú ý những vấn đề chung của thời đại, chưa cần quan tâm đến yếu tố vùng miền, địa lí, dân tộc, lịch sử.
Nhận định có hai điểm cần điều chỉnh:
- “Khi viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, người viết không cần đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tin cậy...”. Ý này không đúng vì nếu không có lí lẽ, dẫn chứng cụ thê, tin cậy thì nhận định, đánh giá của người viết khó có tính thuyết phục, đó chỉ là những nhận xét chủ quan, tư biện, thiếu căn cứ.
- “... chưa cần quan tâm đến yếu tố vùng miền, địa lí, dân tộc, lịch sử.”. Ý này không chặt chẽ vì tuỳ theo vấn đề bàn luận mà cần hay không cần quan tâm đến yếu tố vùng miền, địa lí, dân tộc, lịch sử. Tuy nhiên, khi đưa ra các nhận định, đánh giá, người viết phải xem xét các yếu tố lịch sử, địa lí, văn hoá,... để tránh áp đặt, cào bằng bởi mỗi thời đại, khu vực, vấn đề bàn luận có thể có những tính chất khác nhau, cần được thấu hiểu, chia sẻ.
Từ các câu thơ sau, hãy xác định một vấn đề chung, liên quan đến tuổi trẻ có thể đưa ra bàn luận
- Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(Xuân Diệu)
- Người và trời lấp bể
Kẻ đắp luỹ xây thành
Ta chỉ là chiếc lá
Việc của mình là xanh
(Nguyễn Sĩ Đại)
Vấn đề sống có ý nghĩa của tuổi trẻ.
Với trải nghiệm học tập của bản thân, em hãy viết đoạn văn giải thích câu ngạn ngữ sau: Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lui.
Đã bao giờ bạn nhìn một con thuyền bơi ngược nước trên sông và người lái phải gò mình chèo thật mạnh thì con thuyền mới tiến lên được? Chỉ cần dừng tay chèo một chút thôi là con thuyền sẽ trôi theo dòng nước. Dòng nước luôn chuyển động và con thuyền không thể đứng yên một chỗ bởi nó sẽ bị lực kéo của dòng nước đẩy đi. Sự học cũng như vậy. Việc học gian khổ như “bơi thuyền ngược nước”. Có biết bao nhiêu lực cản sẽ ngáng trở, gây khó khăn cho con người trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Nếu mỗi cá nhân không có ý chí, nỗ lực và phương pháp để vượt qua những gian nan và thử thách của việc học thì sẽ không thể tiếp nhận được những tri thức, kĩ năng mới, theo đó, chẳng những không thể tiến bộ mà tất yếu sẽ tụt hậu so với những người xung quanh.
Đoạn văn sau giải thích cho vấn đề gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), “thành công” là “đạt được kết quả, mục đích như dự định”. Thành công gần nghĩa với thành đạt “đạt được kết quả tốt đẹp, đạt được mục đích về sự nghiệp”. Nói khác đi, thành công là những thành tích, thành tựu mà con người đạt được sau những nỗ lực, cố gắng. “Tích số” là phép nhân của các số, ở đây được hiểu là sự phối kết, nhân lên của các yếu tố “làm việc, may mắn và tài năng”. Nếu “làm việc” là hành động suy nghĩ hoặc thể chất tiến hành một công việc nào đó thì “may mắn” là những yếu tố thuận lợi do khách quan đem lại, nhờ đó mà con người có được thành công. Còn “tài năng” là khả năng đặc biệt, sự khéo léo hơn người, trí sáng tạo vượt trội của con người. Từ đây, ta hiểu tác giả của câu nói muốn khẳng định: thành công không tự nhiên mà có, nó là sự phối kết, nhân lên của nhiều yếu tố như làm việc, may mắn và tài năng.
Đoạn văn giải thích cho vấn đề: Thành công là tích số của: làm việc, may mắn và tài năng.
Trong buổi tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12, một diễn giả đã dẫn câu nói sau: “Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp.”. Em hiểu câu nói trên thế nào? Hãy viết bài văn nghị luận giải thích, bình luận về ý nghĩa của câu nói đó và liên hệ với tuổi trẻ.
“Trên hành trình lập thân, lập nghiệp, dường như mỗi bạn trẻ đều đã từng một lần đứng trước câu hỏi: Mình sẽ làm nghề gì ? Đâu là nghề nghiệp tốt nhất mà mình có thể lựa chọn? Để góp phần trả lời câu hỏi đó, ta hãy thử nghe lời khuyên: “Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp”.
Nghề nghiệp, hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là công việc, hoạt động lao động của con người theo một hình thức đặc trưng nào đó mà xã hội phân công và các cá nhân đã lựa chọn. Đi sâu hơn, đó là công việc chuyên môn theo từng lĩnh vực cụ thể gắn với hệ thống kiến thức, kĩ năng mang tính đặc thù. Còn danh giá là tên tuổi (danh) và giá trị (giá) của mỗi người, mỗi nghề nghiệp. trong cộng đồng, xã hội. Nói đến danh giá là nói đến vị thế, sự vẻ vang, đến một “thương hiệu” gắn với niềm tin và sự ngưỡng mộ của nhiều người. Như vậy, theo ý kiến trên thì nghề nghiệp không thể tự làm nên vị thế, tên tuổi và giá trị của mỗi người trong cuộc sống mà chính con người mới là chủ thể làm cho nghề nghiệp trở nên vẻ vang và bản thân mình có chỗ đứng trong xã hội.
Nghề nghiệp do con người tạo ra, duy trì và phát triển thông qua bàn tay, khối ốc và tình yêu của mình. Từ những nghề thủ công truyền thống như chạm khắc đá, dệt lụa, đúc đồng, chạm bạc,... đến những nghề hiện đại đòi hỏi vận hành máy móc tỉnh xảo như sản xuất phần mềm, vi mạch điện tử, lái máy bay... tất cả đều là sản phẩm của trí tuệ và tài năng của con người trong quá trình lịch sử. Cũng như bao sự vật, hiện tượng khác, nghề nghiệp chỉ là một tồn tại khách quan, chứa đựng các yếu tố giá trị ở dạng tiềm năng. Vị thế và đóng góp của nó đối với sự phát triển của xã hội chỉ được hiện thực hoá khi có sự tác động, cải tiến của con người. Không có con người vận hành máy móc hay lao động chân tay để tạo ra sản phẩm sẽ không ai biết đến sự tồn tại của một nghề nào đó, càng không thể biết ý nghĩa của nó với cộng đồng. Cho nên, nghề nghiệp không thể tự làm nên bất cứ điều gì cho con người mà chính con người đã sản sinh nghề nghiệp và làm cho nghề ấy trở thành một phần của lịch sử và thời đại.
Nghề nào trong xã hội cũng quan trọng, cần thiết như nhau. Mỗi nghề có một vai trò riêng đóng góp vào sự vận hành của đời sống. Không thể nói nghề dạy học danh giá hơn nghề y hay nghề kinh doanh đáng kính trọng hơn nghề nông, nghề vệ sinh đường phố,... mà bất cứ ai làm bất kì công việc gì nếu góp phần vào sự tồn tại và phát triển của xã hội thì cả người ấy lẫn nghề ấy đều đáng được coi trọng và đều có vị thế, ý nghĩa trong đời sống cộng đồng. Lúc sinh thời, trong bài viết Lao động nào cũng vẻ vang, Bác Hồ đã kể câu chuyện về “cô Bín làm vệ sinh” và “cô Thơm làm việc mọi cống”. Sau khi kể chuyện, Bác phân tích: “Nếu không có cô Bin thì anh em ở nhà máy tắc tị hết. Có ăn có nhập mà không có xuất thì rồi ốm hết. Nếu không có cô Thơm thì thành phố Hải Phòng có sạch không? – Không. Không sạch sẽ thì bẩn thỉu, bẩn thỉu thì sinh bệnh.”. Rồi Người kết luận và nhắc nhở: “Vì vậy, cho nên tất cả đồng bào Hải Phòng chúng ta phải biết ơn và kính trọng những người như cô Bín và cô Thơm... Bất kì công việc nào ích quốc lợi dân, có ích cho đồng bào, cho xã hội đều là vẻ vang cả”.
Không chỉ là chủ thể sáng tạo nghề nghiệp, con người còn là nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ của nghề nghiệp. Bằng tâm huyết, tình yêu với nghề, bằng đôi bàn tay khéo léo, tài hoa, bằng khối óc mẫn tiệp, con người không ngừng đổi mới cung cách làm việc, nâng cao chất lượng sản phẩm, khiến cho nghề nghiệp mà mình theo đuổi đem lại nhiều lợi ích, giá trị cho cộng đồng, được xã hội thừa nhận, tôn vinh. Lúc ấy, chẳng những nghề đó sẽ trở thành một công việc hấp dẫn trong mắt của nhiều người mà còn thành một nghề “danh giá” được nhiều bạn trẻ lựa chọn. Đấy chẳng phải là chính con người đã làm cho nghề nghiệp trở nên vẻ vang! Nhân loại những thập kỉ qua và có lẽ mãi về sau sẽ còn nhắc đến tên tuổi của Bin Ghết (Bill Gates, không chỉ bởi ông từng là người giàu nhất thế giới, là một nhà từ thiện lớn mà bởi trước hết ông là nhà sáng lập ra hãng máy tính Microsoft, “ông vua phần mềm” của thế giới công nghệ thông tin. Nhưng bằng nỗ lực và trí tuệ của mình, Bin Ghết cùng các cộng sự của ông đã đưa ngành công nghiệp máy tính lên thành một nghề có “thương hiệu” trong đời sống xã hội. Ngày nay, không ai không thấy ý nghĩa của máy tính điện tử cùng các phần mềm của nó đối với xã hội loài người. Và cùng với sự thành đạt cả trên phương diện danh tiếng và tài chính của tỉ phú Bin Ghết, nghề sản xuất kinh doanh máy tính điện tử và các phần mềm ứng dụng đã trở thành một công việc có tầm ảnh hưởng to lớn trong xã hội hiện đại. Nhiều khoa công nghệ thông tin đã được mở ở nhiều trường đại học để đào tạo những kĩ sư, cử nhân công nghệ cho hoạt động của nghề này trong tương lai. Những người như Bản Ghết có phải đã làm rạng danh cho nghề của mình?!
Đúng là con người đã làm danh giá cho nghề nghiệp. Tuy nhiên, ta cũng cần phải thấy nghề nghiệp vẫn có những ý nghĩa và giá trị nội tại riêng của nó. Dù không trực tiếp tạo ra sự vinh quang cho con người nhưng nó là cơ hội, hoàn cảnh, môi trường công tác không thể thiếu để mỗi người có thể tiến thân, tạo dựng sự nghiệp cho bản thân, thậm chí làm vẻ vang cho gia đình, đất nước.
Có thể thấy việc lựa chọn nghề nghiệp vô cùng quan trọng. Song trên thực tế, nhiều người nhất là các bạn trẻ đang bị lệch hướng trong việc chọn nghề. Một bộ phận không nhỏ thanh niên hiện nay đang có xu hướng chạy theo các nghề “thời thượng” như kinh tế, ngân hàng, tài chính, xây dựng, ngoại giao,... Thực ra, đây là quyền lợi chính đáng của mỗi các bạn trẻ, thậm chí nó còn rất đáng khuyến khích nếu đó là ước mơ, là niềm say mê, và những khả năng lao động có thật của các bạn. Thế nhưng, vì quan niệm phải chọn nghề “danh giá” nên nhiều bạn trẻ “chạy theo” phong trào, theo “mốt” để đến với các nghề trên mà không hề tính đến sở thích, sở trường, khả năng thực tế,... của bản thân. Thực tiễn cuộc sống đã cho thấy nhiều bạn trẻ đã vấp ngã và để lại những bài học đau xót, thấm thía.... Nếu tuổi trẻ hiểu rằng chính con người chứ không phải ai khác sẽ làm nên sự vẻ vang cho nghề, sự vinh quang cho bản thân thì các bạn sẽ thấy điều quan trọng trước tiên chưa phải là tên gọi hay tính chất của nghề (thời thượng hay không thời thượng, quan phương hay bình dị, lao động trí óc hay lao động chân tay, môi trường công tác nhiều độc
tố hay sạch sẽ, vô trùng,..) mà ở chỗ nghề nghiệp ấy có phù hợp với bản thân, có khơi dậy, phát huy hết nhiệt tình, sở trường hay không. Do đó, chọn đúng nghề và làm tốt nghề nghiệp tức là bạn đã tạo lập vị trí, tiếng tăm cho bản thân và cho chính công việc mà bạn đang theo đuổi. Về điều này, cha ông ta đã từng răn dạy: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” hay “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.
Tóm lại, chọn nghề là một trong những việc trọng đại trong cuộc đời mỗi người. Lời khuyên trên rất hữu ích đối với thanh niên, học sinh, sinh viên – những người đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Mỗi bạn trẻ cần có ý thức chọn lựa nghề nghiệp sao cho phù hợp với bản thân đồng thời kết hợp với nhu cầu của đất nước. Không nên chạy theo hư danh mà phải chú ý đến thực chất trong việc lựa chọn ngành nghề cho mình. Hiện tại, mỗi học sinh, sinh viên cần cố gắng học tập, rèn luyện để có lí tưởng đẹp, hiểu biết đúng, quyết định sáng suốt, bản lĩnh vững vàng (một cái đầu lạnh, một trái tim nóng, đôi bàn tay vàng, đôi bàn chân thép) nhằm chọn đúng nghề và sau này làm nghề một cách hiệu quả”.
Hãy xác định và nêu lí lẽ giải thích về một (một số) vấn đề của tuổi trẻ Việt Nam hiện nay có liên quan đến cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của đất nước.
- Vấn đề năng lực ngoại ngữ của tuổi trẻ. Vấn đề này liên quan đến quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước. Nếu các bạn trẻ — những chủ nhân tương lai yếu kém về ngoại ngữ sẽ khiến cho đất nước gặp khó khăn trong hội nhập quốc tế, từ đó, có nguy cơ đánh mất các cơ hội hợp tác để phát triển.
- Vấn đề năng lực công nghệ thông tin và truyền thông của giới trẻ. Đây là vấn đề có tác động lớn đối với đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra như vũ bão trên phạm vi toàn cầu. Giỏi công nghệ thông tin và truyền thông sẽ là một trong những lợi thế của nguồn nhân lực mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước những thập kỉ tới.
- Vấn đề ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của các bạn trẻ. Đất nước cần hoà nhập với bạn bè năm châu nhưng không được phép hoà tan trong một “thế giới phẳng”. Việt Nam cần tiếp cận và ứng dụng các giá trị văn minh của nhân loại nhưng cũng cần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Vấn để thách thức này đang đòi hỏi mọi công dân, nhất là các bạn trẻ, phải có hiểu biết đúng đắn, sâu sắc về bản sắc văn hoá của dân tộc, đất nước và ý thức bảo tồn, phát triển những giá trị văn hoá ấy trong cuộc sống ngày nay.
Lập dàn ý cho bài thuyết trình về một trong những vấn đề đã xác định ở câu 6.
- Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: việc giữ gìn bản sắc dân tộc.
- Thân bài:
+ Giải thích: Bản sắc văn hóa dân tộc: những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng vùng miền của cả đất nước ta.
+ Tầm quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc: Bản sắc văn hóa dân tộc hay cụ thể hơn là văn hóa vùng miền là nơi con người giao lưu văn hóa, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mình, cũng là nơi con người gắn kết với nhau, vui đùa chan hòa sau. Bản sắc văn hóa dân tộc là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác.
+ Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: Mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu.
- Kết bài: Khẳng định lại tầm quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời rút ra bài học cho bản thân.
Trình bày với bạn bè, người thân những nội dung theo dàn ý đã lập ở câu 7.
Đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề vô cùng quan trọng.
Ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của thanh thiếu niên Việt Nam được biểu hiện ở nhiều phương diện: cách sống, lối sống, quan niệm, suy nghĩ, ở hoạt động, nói năng, ăn mặc, ứng xử.... Văn hoá dân tộc là cội rễ bền vững của tâm hồn mỗi con người, không lớn lên và bám chắc vào cội rễ đó, mỗi con người chỉ còn là một cá nhân lạc loài giữa cộng đồng của mình. Bản sắc văn hoá là linh hồn, là gương mặt riêng của mỗi dân tộc, là yếu tố quan trọng để khẳng định vị thế của dân tộc đó ở giữa cộng đồng thế giới. Đánh mất bản sắc riêng trong nền văn hoá của mình là đánh mất quá khứ, mất lịch sử, mất cội nguồn và chúng ta chỉ còn là một con số không ở giữa nhân loại. Rất nhiều thanh, thiếu niên Việt Nam không nắm được lịch sử dân tộc dù đã được học rất nhiều, trong khi đó lại thuộc lòng vanh vách tiểu sử, đời tư của các diễn viên, ca sĩ. Tất cả đều là biểu hiện của một sự thiếu ý thức trong giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên. Về phía khách quan, đó chính là tác động của môi trường sống, của bối cảnh thời đại. Thời đại đất nước mở cửa giao lưu, hội nhập với thế giới cho nên văn hoá bên ngoài theo đó mà tràn vào Việt Nam. Đâu đâu cũng có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh của một thứ văn hoá mới, hiện đại và đầy quyến rũ. Về chủ quan, thế hệ trẻ ngày nay ít quan tâm để ý đến vấn đề bản sắc văn hoá. Họ thiếu ý thức giữ gìn, bởi thực chất là họ không hiểu được bản sắc văn hoá dân tộc là gì và cũng không cần hiểu.
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là đóng góp có ý nghĩa đầu tiên cho đất nước mà mỗi thanh thiếu niên có thể làm và hãy làm bắt đầu từ việc điều chỉnh, uốn nắn chính những hành vi, ý thức của bản thân mình.
