Giải SBT Ngữ văn 12 CD Bài 3: Nhật kí, phóng sự, hồi kí có đáp án
39 câu hỏi
I. Bài tập đọc hiểu
NHẬT KÍ ĐẶNG THUỲ TRÂM
(Trích)
(ĐẶNG THUỲ TRÂM)
Dòng nào dưới đây nêu sát nhất chủ đề của văn bản?
A. Công việc của thế hệ trẻ thời chiến tranh
B. Cuộc sống của thế hệ trẻ thời chiến tranh
C. Lòng yêu nước của thế hệ trẻ thời chiến tranh
D. Mong ước của thế hệ trẻ thời chiến tranh
Chọn đáp án: C. Lòng yêu nước của thế hệ trẻ thời chiến tranh
Thông tin nào dưới đây không phải là đặc điểm thể loại của văn bản trên?
A. Cốt truyện và nhân vật hoàn toàn hư cấu
B. Ghi chép theo thứ tự ngày tháng
C. Sử dụng hình thức trần thuật ngôi thứ nhất
D. Sự kiện có thực mà người viết tham gia
Chọn đáp án: A. Cốt truyện và nhân vật hoàn toàn hư cấu
Câu văn nào dưới đây sử dụng thủ pháp miêu tả?
A. Và với những học sinh, mình cũng đã đem lại những điều quý giá trong lí luận về y học.
B. Đôi mắt người thương binh hôm nào đau nhức tưởng như bỏ hôm nay cũng đã sáng lại một phần.
C. Con vẫn là một chiến sĩ trong cuộc chiến đấu này.
D. Thêm một tuổi đời, vậy là cái tuổi ba mươi đậu còn xa nữa.
Chọn đáp án: B. Đôi mắt người thương binh hôm nào đau nhức tưởng như bỏ hôm nay cũng đã sáng lại một phần.
Dòng nào dưới đây nêu đúng các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản trên?
A. Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
B. Ngôn ngữ thân mật và ngôn ngữ giễu nhại
C. Ngôn ngữ thông tục và ngôn ngữ suồng sã
D. Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ quy phạm
Chọn đáp án: A. Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
(Câu hỏi 3, SGK) Tính phi hư cấu của đoạn trích Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm được thể hiện ở những yếu tố nào? Điều đó có tác dụng gì đối với nội dung của văn bản?
- Tính phi hư cấu thể hiện ở những sự kiện có thựcmà tác giả đã trực tiếp tham gia hay chứng kiến, biểu hiện ở các mốc thời gian cụ thể, địa điểm cụ thể (bệnh xá, căn cứ, rừng)
- Tác dụng: Giúp câu chuyện trở nên xác thực hơn, cung cấp các thông tin sự kiện đến người đọc. Thông qua miêu tả địa điểm cụ thể, người đọc có thể hình dung ra bối cảnh câu chuyện
(Câu hỏi 4, SGK) Hãy chỉ ra một đoạn văn sử dụng kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật trong văn bản. Việc kết hợp các thủ pháp đó mang lại tác dụng gì?
Đoạn văn có sự kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật, ví dụ: “Những ngày bận rộn công tác dồn dập... bên giường bệnh”.
Những câu trần thuật: “Những ngày bận rộn công tác dồn dập, thương nặng, người ít, mọi người trong bệnh xá đều hết sức vất vả. Riêng mình, trách nhiệm càng nặng nề hơn bao giờ hết, mỗi ngày làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm khuya,...” kết hợp với những câu miêu tả: “Đôi mắt người thương binh hôm nào đau nhức tưởng như bỏ hôm nay cũng đã sáng lại một phần. Cánh tay anh bộ đội sưng phù đe doạ chảy máu bây giờ cũng đã lành lặn. Những cánh tay xương gãy rời cũng đã liền lại,...” khiến cho sự việc hiện lên cụ thể, sinh động; đồng thời thể hiện thái độ và đánh giá của người viết.
(Câu hỏi 6, SGK) Theo em, văn bản trên có ý nghĩa như thế nào đối với thế hệ trẻ ngày nay?
Văn bản như một lời cổ vũ, khuyến khích và là động lực cho thế hệ trẻ vươn lên vượt khó, tiếp tục kiên cường để phát triển đất nước, để xứng đáng với đất nước mà bao người đã đổ máu xây dựng. Bên cạnh đó, văn bản như một lời thức tỉnh, nhắc nhở thế hệ trẻ đang chạy theo những văn hóa nước ngoài mà dần quên đi giá trị lịch sử, cần ghi nhớ công ơn to lớn của những con người đã hi sinh cho cuộc sống hòa bình ở hiện tại, từ đó, biết chăm chỉ học hành, đưa đất nước đi lên, phát triển, sánh vai với cường quốc năm châu.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“22.11.1971
[...] Những ngọn nến nhấp nháy trên sườn đồi là lô cốt địch. Còn những bảng đen ngòm kia là thằng Mỹ – Hãy cho chúng no đòn. Đồng đã đi qua mùa gặt. Hương lúa chia đều khắp các nhà và trăng lên sớm cho sân kho nhộn nhịp. Rơm còn phơi đầy trên ruộng, rơm gác lên đống rạ, mềm đi vì sương sớm... Dạo mới đến đây, rừng thả hạt dẻ lăn lách tách trên đồi. Còn bây giờ, lại mùa hoa dẻ. Hoa dẻ rừng trắng pha vàng như hoa nhãn, như hoa hồng bì... Cả rừng như mở ra cho vô vàn mùi hương lạ lùng thì thào cùng anh bộ đội.
Đàn dê đi lẫn trong vạt cây thấp, cây mua lá xanh mềm như nhung , cây khế rừng lá tím,… Tiếng chuông thơ ngây trên cổ lũ dê rung lên bỡ ngỡ, tưởng chừng như giọt nhựa ứ ra và cuộn thành giọt, rơi từ tốn. Đó là những ống đếm thời gian của rừng già…..
Đêm rủ bức màn lốm đốm sáng, đồi chìm vào chân mây, đất và trời bị xoá nhoà ranh giới... Còn anh bộ đội thì hồi hộp đợi chờ. Lần bắn thứ hai trong đời lính.
Anh hãy nghĩ: Kia đúng là thằng Mỹ, là kẻ thù và ghìm súng vào ngực nó. Đừng lo bắn vào quả tim người, chúng nó chẳng có tim đâu!
Anh hãy nghĩ: Cuộc sống yên lành và ngân nga như lời thơ kia bị cào xé bởi ánh lửa ghê tởm trước mắt anh.
Hãy đứng trong chiến hào của đời mà bắn!
Sương dày nên đạn chưa căng. Tiếng nổ không chát chúa mà âm âm. Đèn vỡ tung, đạn xuyên qua phao dầu, đạn phá rách toang bia. Phải như thế, mới hả căm thù!
Thủ trưởng bảo: Ta bắn giỏi không phải như anh chàng trong “Hoa diếp dại”. Đạo đức cách mạng của người Việt Nam khác thế.
Tự hào lắm, khi được lang thang trên mảnh đất Mẹ hiền này và bảo vệ nó. Còn ai hạnh phúc hơn ta nữa. Trang sách của cuộc đời chưa mở cho ta, nhưng mới ghé mắt nhìn, ta đã ngây ngất cả người...
23.11.1971
Sắp từ biệt đây rồi... Một ngày lặng gió, nhưng lá bạch đàn vẫn líu ríu ở đầu cây. Ôi, Tân Yên, vùng đồi trung du của dân ca quan họ, của tấm lòng cởi mở chân tình...
Tới đây từ 1.10, thế mà đã gần hai tháng. Hai tháng đi qua cái cửa tre quen thuộc, cái thanh tre chống khung cửa dưới dốc, cái hàng rào dứa khi mình đến, còn lưu lại vài quả chín vàng, thơm lựng...
Ta muốn thăm lại thị trấn Nhã Nam, quả bàng chín rụng, thăm hòm thư của bưu điện giấu một niềm tâm sự, một lời thủ thỉ... Ta muốn lại ngôi trong quán nước, gặp bà hàng nhai trầu bỏm bẻm, muốn đi qua sân bóng, muốn vào thăm mái lều san sát của bãi chợ ồn ào...
Ta muốn vào thăm nhà bên kia đồi, có cái xe bò và có anh chàng canh đối dẻ, thăm cụ già mù bật ngón trên cái kèn đưa người ra ruộng... Muốn đi trên cái dốc “hết ý” của ngày gánh lúa giúp dân...
Ta muốn mãi ngồi trên “đồi Mặt Trời” để sớm sương tan, Mặt Trời tròn đỏ ôm lấy ta mà bay lên... Muốn mãi ngồi trong bếp của bà, nghe bà kể chuyện. Cháu đun nước cho bà, bà khen cháu ngoan đi...
Nhớ lắm, nơi này, những con người ở đây... Ta cúi chào tất cả. Từ biệt Tân Yên, núi đồi và bạch đàn...
Đất này, tuyệt đẹp. Núi sông này vây bọc lấy đồng bằng đâu phải tôi bom cho quán thù trút lửa! Và con đò mộc đi trong lời thơ đâu phải mục tiêu cho kẻ thù bắn phá.
Hãy khoan đến ngửa tay cầu trời ban cho một bông tuyết trắng. Đêm buông yên lặng cho đôi chim tình tự, cho cây cỏ bình yên trỗi dậy và cho cả anh bộ đội chuẩn bị lên đường.
Cháu Oanh và cháu Quế đã ngủ rồi. Bà và chị Nhàn cũng ngủ... Ôi ta xa rời ngôi nhà ấm cúng còn phảng phất khói hương này. Mười năm sau sẽ có biết bao thay đổi. Ta có được trở về thăm lại gốc chè xanh của bà, thăm luỹ tre vừa gieo mầm trong tháng... Lúc đó, sẽ khác nhiều và cuộc đời chắc đẹp, chắc thơ gấp bội.
Tháng hai, bà trở lại Thái Bình. Cháu lại đi với mối thù thằng Tây mũi lõ, thằng Tây quấn thừng đã làm một đời bà khổ. Khi thắng lợi trở về chắc bà không còn nữa. Song, đời bà đã mấy mươi lần tiễn các con đi... Chị Nhàn vất vả mà vui, ấy, người phụ nữ đảm đang có chồng là liệt sĩ. Khuya thế này chị còn đi đâu, ánh đèn bão lung linh sau hàng râm bụt... Ừ, như thế, những tâm hồn cao thượng đang nằm nghỉ, ngày mai, họ lại viết tiếp lịch sử của loài người.
Ta bỗng nhớ xa xôi đến đỉnh màn thân yêu, mùa hè thì nóng, mùa đông thì lạnh. Nhớ vườn mía mùa này ngọn gió cũng mang vị ngọt...
Ta nhớ bạn, nhớ Lăng, Hậu, Hải, nhớ từ thẳng Kiểm đến dáng người xa lạ ta gặp ở bến xe... Đêm nay có phải là đêm chuẩn bị hành quân vào trong ấy, mà kỉ niệm thức dậy. Ngồi trầm tư trước ngọn đèn...
Mai, Minh đi tiền trạm. Tế vẫn đau bụng rồi hành quân ra sao. Củi không hiểu đã đủ chưa, sáng mai đi lấy gạo. Cải nhổ được rồi đấy, cân cho nhà bếp là vừa... Linh kinh lắm, nhưng gọn biết bao, chỉ day dứt là cái lòng anh Đất này, Tân Yên...
Em đừng khóc, các anh đi rồi lại trở về mà. Lau nước mắt đi em. Ta là người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam...
“Đất nước của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép
Lúc chia tay không hề rơi nước mắt
Nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt... ”
(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2005)
a) Chỉ ra đặc điểm cơ bản của thể loại nhật kí được thể hiện ở văn bản trên.
b) Chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa cái “tôi” tác giả trong văn bản trên với cái “tôi” tác giả trong đoạn trích Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm (SGK Ngữ văn 12 tập một).
a) Có thể chỉ ra những đặc điểm của thể loại nhật kí trong văn bản như sau:
– Tính phi hư cấu biểu hiện ở những ghi chép theo thứ tự ngày tháng (22.11.1971, 23.1.1971).
– Tính xác thực ở thời gian, không gian (vùng đất đơn vị đóng quân, hành quân, tập luyện,...) mà tác giả (người xưng “ta” hoặc “anh bộ đội”,...) đã trực tiếp tham gia và trải nghiệm.
– Thủ pháp miêu tả kết hợp với trần thuật tái hiện chân thực và sinh động tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với đất nước, con người và bản thân mình trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh (ví dụ: “Tự hào lắm, khi được lang thang trên mảnh đất Mẹ hiền này và bảo vệ nó. Còn ai hạnh phúc hơn ta nữa; Ôi, Tân Yên, vùng đồi trung du của dân ca quan họ, của tấm lòng cởi mở chân tình...).
– Ngôn ngữ giàu chất thơ (miêu tả và biểu cảm), sử dụng chủ yếu lời văn độc thoại để bộc lộ suy nghĩ cá nhân của người viết.
b) Có thể chỉ ra điểm giống nhau giữa cái “tôi” tác giả của hai văn bản ở những điểm sau:
– Những người trẻ tuổi yêu nước, dũng cảm, tự nguyện xông pha nơi lửa đạn chiến trường khi cả dân tộc quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.
– Có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế; sâu nặng tình yêu thương với gia đình, bạn bè, đồng bào và quê hương.
– Những nhân cách cao đẹp của nhân dân và thời đại.
KHÚC TRÁNG CA NHÀ GIẢN
(XUÂN BA)
Vấn đề chính mà văn bản trên đề cập là:
A. Vai trò của nhà giàn trong bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
B. Hành trình đến nhà giàn trên quần đảo Trường Sa rất khó khăn, nguy hiểm
C. Nhà giàn trên biển giúp phát hiện nguồn tài nguyên quý giá của đất nước
D. Nhà giàn trên biển giúp kết nối với đất liền để phát triển du lịch của đất nước
Chọn đáp án: A. Vai trò của nhà giàn trong bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
Dòng nào sau đây nêu đúng thái độ của tác giả dành cho chiến sĩ trên nhà giàn?
A. Cảm phục và trân trọng
B. Đùa vui và yêu thương
C. Đồng cảm và tếu táo
D. Cảm thông và giễu nhại
Chọn đáp án: A. Cảm phục và trân trọng
Câu văn nào dưới đây là biểu hiện của yếu tố phi hư cấu trong văn bản?
A. Sắc lờ đờ nước hến kia cỡ vài chục mét.
B. Con tàu xé sóng lách màn đêm vào khu vực Ba Kè
C. Đồng hồ chỉ 4 giờ sáng.
D. Bên tàu ngó sang bên chòi mà rưng rưng nước mắt.
Chọn đáp án: B. Con tàu xé sóng lách màn đêm vào khu vực Ba Kè
(Câu hỏi 3, SGK) Khúc tráng ca nhà giàn đã sử dụng những biện pháp đặc trưng gì của thể phóng sự? Hãy chỉ ra một số dẫn chứng cụ thể.
Khúc tráng ca nhà giàn đã sử dụng những biện pháp đặc trưng của thể phóng sự như: điều tra, đối thoại, ghi chép....
– Một vài dẫn chứng cụ the:
+ Người viết đã điều tra cụ thể về sự khác biệt của ba thế hệ nhà giàn; đã đưa ra số liệu cụ thể về 14 cán bộ, chiến sĩ trên những nhà giàn thô sơ đã hi sinh khí phải đối diện với bão cấp 12 những năm 1990, 1996, 1999,...
+ Người viết đã ghi lại cụ thể bối cảnh của chuyến đi ra nhà giàn Ba Kè từ lúc 4 giờ sáng, sự dữ dằn của biển cả, chiếc xuống như chiếc lá giữa đại dương mênh móng đầy sóng lớn,...
(Câu hỏi 4, SGK) Chi tiết nào của văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em? Vì sao?
Chi tiết gây ấn tượng với em là tên của những người chiến sĩ đã ngã xuống lòng biển khơi không bao giờ tỉnh dậy. Mỗi cái tên như thêm một lần đau xót, thêm một lần mất mát, khiến lòng em cũng thấy xót xa, thương tiếc cho những con người vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân mà chấp nhận hiểm nguy tính mạng.
Hãy khái quát đặc điểm cơ bản của thể loại phóng sự được thể hiện qua văn bản trên.
- Tính phi hư cấu của văn bản thể hiện ở những ghi chép xác thực về thời gian, không gian, địa danh, tên người thật, việc thật, số liệu của sự kiện mà người viết trực tiếp tham gia và trải nghiệm (chuyến đi từ 4 giờ sáng đến Ba Kè thuộc quần đảo Trường Sa; tên cán bộ, chiến sĩ, nhà thơ đã từng đến Trường Sa như đại tá Chấn, tướng Giáp Văn Cương, nhà thơ Trần Đăng Khoa; 14 cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong các trận bão biển,...),...
- Khúc tráng ca nhà giàn đã sử dụng những biện pháp đặc trưng của thể loại phóng sự như: điều tra, đối thoại, ghi chép,... nhằm cung cấp thông tin đầy đủ cho người đọc, đồng thời bộc lộ trực tiếp thái độ, đánh giá của người viết.
- Sự kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật trong tái hiện các chi tiết, sự việc khiến người đọc hình dung đầy đủ về những gian khổ, hi sinh của cán bộ, chiến sĩ trên các nhà giàn ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
(Câu hỏi 6, SGK) Theo em, vấn đề được nêu trong bài phóng sự có ý nghĩa như thế nào đối với xã hội hiện nay?
Theo em, tác giả đã đưa ra một vấn đề rất quan trọng và ý nghĩa đối với xã hội hiện nay. Thông qua bài phóng sự đã giúp người đọc thấm thía hơn những nỗi vất vả, mất mát của các chiến sĩ nhà giàn và gia đình của họ, bài viết đã lay động đến trái tim người đọc. Vì vậy bài phóng sự như một lời kêu gọi, thức tỉnh mọi người trong xã hội cần có lòng biết ơn và luôn nhớ đến những con người đã và đang ngày đêm đối mặt hiểm nguy để bảo vệ Tổ quốc.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Tóm tắt: Vẽ nhọ bôi hề là phóng sự của Thiên Hư – Vũ Trọng Phụng đăng trên báo Phụ nữ thời đàm (Hà Nội) năm 1934, thời Pháp thuộc. Tác phẩm điều tra “hậu trường” sân khấu hát và phản ánh chân thực cuộc sống hoặc thất nghiệp, hoặc nhọc nhằn “cười ra nước mắt” của lớp nghệ sĩ (đào, kép) thời bấy giờ. Điều đó cho thấy cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929 – 1933 đã ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Mặt khác, thời đó, văn hoá phương Tây du nhập mạnh mẽ vào nước ta, nhiều loại hình nghệ thuật giải trí hiện đại ngày càng được công chúng ưa chuộng như kịch nói và đặc biệt là nghệ thuật thứ bảy (điện ảnh) khiến nghệ thuật truyền thống của dân tộc như chèo, tuồng, cải lương bị cạnh tranh gay gắt trong vấn đề tồn tại.
Văn bản dưới đây được trích từ tác phẩm.
*
Sân khấu là cái chợ bày trò kim cổ, xếp cuộc tang thương.
Chợ ấy, muốn vào, phải nộp tiền “vào cửa”.
Cửa chợ phải mở to để đón khách vào xem, mà không lẽ lấy tiền vào cửa cả khóe mắt mọi người qua lại, nên sau chiếc khuôn cửa phải có cái màn đỏ. Giọng hát tiếng đàn lọt ra ngoài như giục khách vứt ra mấy hào để cuốn tấm màn kia mà xem trò tang thương nọ. Chiếc màn ấy là vật quan hệ nhất trong một rạp hát. Khách muốn đọc câu thần chú “Vừng, vừng, mở ra” thì hãy chịu khó rút ví ra đạo bùa linh ứng: tiền.
Thế mà tôi đã trông thấy rạp hát kia có lần “bỏ rợ” cái màn, vì nó thành ra vô ích. Cả sân khấu hôm đó cũng không làm cái việc thường ngày của nó: người ta đã dùng nó để bày một bàn thờ lộng lẫy, đèn nến sáng trưng. Tại chỗ những dãy ghế khách ngồi, lúc này là những bàn tiệc phủ vải trắng tinh bên trên có những lọ hoa hồng. Và đáng lẽ nghe thấy giọng than của đào Đính, tiếng hét của kép Ba Liêu, điệu âm nhạc hỗn loạn của cái trống cái, cái thanh la, cái kèn tàu, ta chỉ thấy văng vẳng, tỉ lệ mấy tiếng dây tơ có lẫn giọng ngân thánh thót của một chị em dưới xóm.
Cho thấy cố nhân?
Đâu tìm đâu cho thấy cố nhân?
Hôm đó, ban trị sự, các ngài cổ động, ban đào kép, cả ba phái đã hội họp nhau ăn tiệc tại nơi này. Tôi đã trông thấy những người có bộ mặt tươi cười của ngày tết Nguyên đán. Trước khi quây nhau lại chè chén, người ta túm năm tụm ba thành những đám nhỏ, tản mạn khắp rạp. Cốt câu chuyện là việc thịnh suy của rạp, những là lãi năm nay kém lãi năm ngoái hai nghìn nhưng số lãi cũng là vạn hai. Lãi cuối năm vạn hai! Ai mà không hể hả! Người ta ăn tiệc rồi người ta chia lãi. Ông chánh ban trị sự hút xì gà thì người phu khiêng đồ trong rạp cũng phì phèo điếu thuốc lá Anh. Và, có điều là đáng để ý vô cùng, là bọn người này, những người bán hỉ, nộ, ai, lạc cho đời, trong lúc vui sướng của mình lại phải cần vui ở giọng hát cung đàn của vài chị em dưới xóm!
Vậy thì, tôi đã thấy cái quang cảnh tưng bừng của một rạp hát vào cái ngày mà người ta vén toang cái màn đỏ, mà các bạn hát tế Tổ, mà những người có cổ phần cùng ban trị sự cũng tế một ông Tổ khác nữa: Thần Kim Tiền. Một người trèo thang lên cổng rạp mắc vào tường tràng pháo dài một thước tây. Đứng dưới là một bạn trẻ con... hăm hở.
– Thế nào, đã giáp mặt ông chủ chửa?
– Chửa.
– Thế còn đợi đến bao giờ?
– Phải chờ lúc nào người ta không bận việc mới được chứ.
Thoạt tiên tôi cũng không để ý mấy tới những câu hỏi, đáp trên này. Chợt thấy một giọng gay gắt của một người thứ ba:
– Đã bảo vào thì cứ vào phăng ngay đi lại còn trù trừ mãi. Ở đây đã ngót tuần lễ rồi, nếu không quyết định thì... liệu có còn nổi tiền ăn đường về hay không?
– Anh ngu lắm! Dù sao cũng phải giữ cái giá trị của mình mới được chứ!
– Giá trị! Lại còn giá trị! Có hoạ giá trị cái cóc khô!
Câu chuyện đương êm đềm bỗng thành ra xô xát. Tôi ngoảnh lại. Đó là hai người, cũng khăn lượt, áo kép the, giày tàu, trông có vẻ nửa quê nửa tỉnh, không có gì đặc sắc nếu mỗi người không có một chiếc răng vàng lẫn vào hai hàm răng đen. Còn người đã vô tình vì hỏi thăm mà gây cuộc hục hặc nhau cho hai người này là một người đàn bà bán hàng nước.
Cứ những cái tai nghe mắt thấy ấy cũng đã đủ khiến tôi đoán nổi rằng đó hẳn là hai bác kép về tìm việc làm tại đây. Khi họ đã chán chê đứng ngắm cái cảnh sung sướng chẳng phải của mình mà kéo nhau đi, tôi theo người đàn bà về hàng nước. Quả nhiên, tôi đã đoán nhắm…
– Thưa ông, đó là hai tay kép có tiếng ở Bắc Giang, vì rạp trên đó tan nên về đây tìm việc. Chả biết có thành cơm cháo gì không! Hiện nay, trong Quảng Lạc đã có tới năm mươi đào kép rồi.
– Chắc số đào kép nghỉ việc hiện nay cũng chẳng phải là ít.
– Hằng hà sa số ông ạ. Mới hôm kia tôi cũng biết hai người. Lại cách đây một tháng, ba người. Tôi biết rõ lắm vì họ thường trọ tại nhà hàng cơm của chị tôi. Một người hình như đã được vào Sán Nhiên Đài và một người vào Cải lương hí viện. Còn ba người nữa hình như phải quay về quê cả rồi. Thời buổi này, nghề gì chả khó.
Tôi biết tìm cách nào hòng làm cái biểu thống kê những đào kép thất nghiệp – đàn thiêu thân khốn khổ đến nỗi chẳng chen nổi một chỗ bay quanh cái bóng đèn, muốn tự thiêu cũng không xong? Sân khấu một rạp hát Hà Thành đối với bọn này là Bồng Lai hay là Địa Ngục?
[...]
– Hằng hà sa số ông ạ.
Câu nói trên này còn văng vẳng mãi bên tại tôi. [...] Thế kỉ này là thế kỉ vội mà sân khấu cũng đã hết cất tiếng gọi trong dân gian. Mọi sự tiến bộ đều đi mau nhưng nạn thất nghiệp còn đi mau hơn hết! [...]
(Vũ Trọng Phụng, Vẽ nhọ bôi hề, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000)
a) Xác định đề tài và đặt tên cho văn bản trên (khác tên tác giả đã đặt cho văn bản).
- Đề tài: Sự tồn tại của sân khấu truyền thống trong đời sống hiện đại / Số phận của sân khấu truyền thống thời hiện đại,...
- Đặt tên cho văn bản: Sân khấu truyền thống một thời vang bóng / Số phận của đào kép thời nay,...
b) Chỉ ra tính phi hư cấu của thể loại phóng sự được thể hiện qua văn bản trên.
b) Tác giả đã điều tra, đối thoại, ghi chép,... để cung cấp thông tin xác thực về tình trạng thất nghiệp của các đào kép, thực trạng các rạp biểu diễn sân khấu truyền thống chèo, tuồng, cải lương của Hà Thành một thời huy hoàng, rực rỡ, giờ đây có nguy cơ phải đóng cửa và nghệ sĩ đứng trước nguy cơ thất nghiệp (rạp Quảng Lạc, Sán Nhiên Đài, Cải lương hí viện, năm mươi đào kép, hai kép nổi tiếng ở Bắc Giang lặn lội xuống Hà Thành tìm việc,...),...
QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN NHẤT
(Trích Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử)
(VÕ NGUYÊN GIÁP)
Dòng nào dưới đây nêu đúng đề tài của văn bản?
A. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954
B. Đất và người Điện Biên Phủ năm 1954
C. Cảnh sắc thiên nhiên Điện Biên Phủ năm 1954
D. Phong tục tập quán, con người Điện Biên Phủ năm 1954
Chọn đáp án: A. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954
Nhân vật xưng “tôi” trong văn bản là ai?
A. Chủ nhiệm Chính trị Lê Liêm
B. Cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh
C. Trưởng đoàn phiên dịch Hoàng Minh Phương
D. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Chọn đáp án: D. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Thông tin nào dưới đây nêu đúng lí do khiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định thay đổi phương châm đánh địch?
A. Bộc lộ lực lượng chừng nào, kéo quân địch về hướng đó
B. Có những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau hội nghị Thẩm Púa tới nay
C. Địch không còn lâm thời phòng ngự mà trở thành tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố
D. Trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục
Chọn đáp án: C. Địch không còn lâm thời phòng ngự mà trở thành tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố
Câu văn nào dưới đây sử dụng kết hợp miêu tả và trần thuật?
A. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Díp duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gấp suốt ngày đêm về khu căn cứ.
B. Chỉ mười năm sau, nhân dịp kỉ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, một số đồng chí phụ trách các đại đoàn mới nói thực với tôi ý nghĩ của mình.
C. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”.
D. Tôi nghĩ nếu lần đó cứ “đánh nhanh giải quyết nhanh” thì cuộc kháng chiến có thể lui lại mười năm!”.
Chọn đáp án: A. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Díp duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gấp suốt ngày đêm về khu căn cứ.
Câu văn nào dưới đây cho biết tính phi hư cấu của văn bản?
A. Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc,
B. SÁNG ngày 26 tháng 1 năm 1954, Văn phòng thông báo cuộc họp Đảng uỷ Mặt trận.
C. Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng đoàn.
D. Hậu cần là điều kiện tiên quyết, nhưng cuối cùng, quyết định là phải có cách đánh đúng.
Chọn đáp án: B. SÁNG ngày 26 tháng 1 năm 1954, Văn phòng thông báo cuộc họp Đảng uỷ Mặt trận.
Chỉ ra một số chi tiết có yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn bản Quyết định khó khăn nhất và phân tích vai trò của chúng đối với việc tái hiện kí ức nhân vật.
Một số chi tiết có yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn bản như: chi tiết kể Đại tướng Võ Nguyên Giáp sốt ruột, suốt đêm không ngủ được, chỉ mong trời chóng sáng; chi tiết Đại tướng buộc nắm ngải cứu trên trán; chi tiết Đại tướng nói trong cuộc họp Đảng uỷ Mặt trận: “Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng”.
Các chi tiết này có vai trò quan trọng trong tái hiện kí ức của nhân vật Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khiến câu chuyện đã qua được tái hiện “còn tươi nguyên” như “mới diễn ra”, rất ấn tượng, chân thực và sinh động,…
Văn bản trên được kể từ điểm nhìn của ai? Ý nghĩa của việc lựa chọn điểm nhìn đó là gì?
Văn bản được kể từ điểm nhìn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người xưng “tôi” kể câu chuyện từ ngôi thứ nhất. Việc lựa chọn điểm nhìn từ chính Đại tướng - người trực tiếp tham gia và chỉ huy sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc khiến người đọc hoàn toàn tin cậy và bị thuyết phục về câu chuyện được kể lại.
(Câu hỏi 3, SGK) Tính xác thực của thể hồi kí được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản Quyết định khó khăn nhất?
Tính xác thực (phi hư cấu) của văn bản thể hiện qua những yếu tố: thời gian, địa điểm, số liệu,... Ở đây là “người thật, việc thật”, sự kiện xác thực mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp tham gia và chỉ đạo: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 với các thông tin, số liệu cụ thể về địa danh, tên tuổi các vị tướng lĩnh trong quân đội (Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Hoàng Văn Thái, Vương Thừa Vũ, Lê Trọng Tấn,...),...
(Câu hỏi 4, SGK) Hãy nhận xét về thủ pháp trần thuật ở phần 2 của văn bản.
Phần này thuật lại quyết định khó khăn nhất của Đại tướng bằng nhiều câu văn ngắn, nhịp văn dứt khoát, dồn dập, trong đó sử dụng nhiều lời đối thoại của các nhân vật trực tiếp tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện lịch sử này cũng có nhiều chi tiết dồn dập xuất hiện: cuộc họp Đảng uỷ Mặt trận có sự tham gia của bộ phận chính trị, hậu cần, bộ binh, pháo binh,... Đại tướng trực tiếp chỉ đạo cuộc họp và đưa ra quyết định dứt khoát trong khoảng thời gian ngắn.
(Câu hỏi 6, SGK) Bài học sâu sắc đặt ra trong văn bản là gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hôm nay?
- Bài học sâu sắc đặt ra là người lãnh đạo phải bám sát tình hình thực tiễn, không chủ quan duy ý chí; cần phát huy trí tuệ tập thể với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu.
- Bài học này đặt ra vấn đề đối với cuộc sống hôm nay: Trong bất cứ lĩnh vực nào, người lãnh đạo phải là người sáng tạo, linh hoạt; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
II. Bài tập tiếng Việt
(Bài tập 1, SGK) Văn bản Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm có sự kết hợp giữa ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật. Em hãy chỉ ra những đặc điểm của hai kiểu ngôn ngữ này trong các đoạn trích sau:
a) Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng... tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có... Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước. Từ ước mơ đó mới có được những gì gọi là của riêng mình. Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ.
b) Được thư mẹ... mẹ của con ơi, mỗi dòng chữ, mỗi lời nói của mẹ thấm nặng yêu thương, như những dòng máu chảy về trái tim khao khát nhớ thương của con.
Ôi! Có ai hiểu lòng con ao ước được về sống giữa gia đình, dù chỉ là giây lát đến mức nào không? Con vẫn hiểu điều đó từ lúc bước chân lên chiếc ô tô đưa con vào con đường bom đạn.
a) Đoạn trích mang đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng với các từ ngữ có tính chuẩn mực, toàn dân, chính thống và lịch sự; kiểu câu được gọt giũa cẩn thận, đầy đủ thành phần, chủ yếu là câu ghép.
b) Đoạn trích mang đặc điểm của ngôn ngữ thân mật với các từ ngữ có sắc thái gần gũi, dân dã, thể hiện tình yêu của nhân vật đối với người mẹ; kiểu câu đa dạng bao gồm câu đặc biệt.
(Bài tập 3, SGK) Các đoạn văn dưới đây đã sử dụng ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật phù hợp chưa? Vì sao?
a) Con hổ dùng những cái vuốt nhọn hoắt cấu vào người, vào mặt Viên... Nhưng Viên vẫn ráng sức quần nhau với chú hổ.
(Dẫn theo Nguyễn Đức Dân)
b) Lời nhận xét ấy có đúng không? Đúng quá đi chứ! Nào, bạn hãy cùng tôi đi phân tích tác phẩm để hiểu rõ vấn đề.
(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp)
c) Trước lúc đi ngủ, San tâm sự với tôi:
Cháu bị số phận hắt hủi. Giờ thì cả cha và mẹ đều không còn. Cuộc sống của cháu không còn ý nghĩa gì nữa.
Tôi chưa biết an ủi thế nào, cậu ta tiếp:
Có lẽ cháu sẽ đi đâu đó. Ở mảnh đất nhốn nháo này, cháu chẳng còn gì duyên nợ.
– Nhưng cháu còn người bà – Cuối cùng, tôi cất lời khuyên – Người bà ngoại khổ đau và bất hạnh.
(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp)
a) Sử dụng ngôn ngữ thân mật không phù hợp với đối tượng được nhắc tới. Thay “chú hổ” bằng “con hổ” hoặc “nó”.
b) Sử dụng ngôn ngữ thân mật không phù hợp với phạm vi giao tiếp (thuyết trình, nghị luận).
c) Sử dụng ngôn ngữ trang trọng không phù hợp với phạm vi giao tiếp cá nhân, gần gũi.
Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng thể hiện ở đoạn văn sau:
Phát triển bản thân là quá trình không ngừng tìm kiếm sự tiến bộ và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Để phát triển bản thân, chúng ta cần dành thời gian và nỗ lực để khám phá, học hỏi và phát triển các kĩ năng cũng như phẩm chất cá nhân. Điều này không chỉ là việc học hỏi từ sách vở, mà còn là quá trình tự khám phá, đặt ra những thách thức và vượt qua những giới hạn cá nhân. Đầu tiên, phát triển bản thân bắt đầu từ việc xác định rõ mục tiêu và định hình định hướng cuộc sống. Bằng cách này, chúng ta có thể tập trung nỗ lực và tài năng vào những lĩnh vực quan trọng nhất. Ngoài ra, phát triển bản thân cũng liên quan đến việc duy trì sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần. Quản lí thời gian, thiền định và việc duy trì mối quan hệ tích cực đều góp phần vào sự cân bằng trong cuộc sống. Cuối cùng, phát triển bản thân không chỉ là hành trình cá nhân cá nhân mà còn là sự đóng góp cho cộng đồng. Việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và tinh thần tích cực là cách chúng ta có thể tạo nên một xã hội phồn thịnh và bền vững. Quá trình này không chỉ mang lại sự tự thoả mãn mà còn đem lại cơ hội và thành công trong cuộc sống.
(Bài làm của học sinh)
– Phạm vi giao tiếp: phạm vi xã hội với nhiều nhân vật giao tiếp khác nhau.
– Từ ngữ: bảo đảm chuẩn mực, mang tính toàn dân, chính thống và lịch sự.
– Kiểu câu: được gọt giũa cẩn thận, đầy đủ thành phần, chủ yếu là câu ghép.
“Linh à! Tớ vừa được đọc một bài báo về phát triển bản thân. Tớ thấy vấn đề bài báo đặt ra hay quá nên muốn chia sẻ với cậu một xíu về câu chuyện này vì chúng mình đang học năm cuối cấp, sắp thành người lớn đến nơi rồi. Phát triển bản thân, theo tớ, đơn giản là quá trình không ngừng tìm kiếm sự tiến bộ và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Cậu có thấy thế không? Tớ và cậu chỉ cần tập trung học hỏi và phát triển các kĩ năng cũng như phẩm chất cá nhân là đủ nhỉ? Chúng mình không chỉ học hỏi từ sách vở, mà còn tự khám phá, đặt ra những thách thức và vượt qua những giới hạn của mỗi người. Việc số một là xác định rõ mục tiêu và định hình định hướng cuộc sống để tập trung nỗ lực và tài năng vào những lĩnh vực quan trọng nhất. Chắc cậu cũng đồng ý với tớ là phát triển bản thân còn liên quan đến việc duy trì sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần. Tớ nói thật là thời gian qua còn ham chơi nhiều. Bây giờ, tớ đang cố gắng quản lí thời gian tốt hơn. Tớ nghĩ phát triển bản thân không chỉ là hành trình cá nhân mà còn là sự đóng góp cho cộng đồng bằng việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với người khác Linh ạ! Quá trình này đâu chỉ mang lại sự tự thoả mãn mà còn đem lại cơ hội và thành công trong cuộc đời chúng mình.”).
Dựa theo nội dung của đoạn văn ở bài tập 3, hãy viết một đoạn văn tâm sự với người bạn thân của em về vấn đề phát triển bản thân. Trong đoạn văn có sử dụng ngôn ngữ trang trọng hoặc thân mật.
“Linh à! Tớ vừa được đọc một bài báo về phát triển bản thân. Tớ thấy vấn đề bài báo đặt ra hay quá nên muốn chia sẻ với cậu một xíu về câu chuyện này vì chúng mình đang học năm cuối cấp, sắp thành người lớn đến nơi rồi. Phát triển bản thân, theo tớ, đơn giản là quá trình không ngừng tìm kiếm sự tiến bộ và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Cậu có thấy thế không? Tớ và cậu chỉ cần tập trung học hỏi và phát triển các kĩ năng cũng như phẩm chất cá nhân là đủ nhỉ? Chúng mình không chỉ học hỏi từ sách vở, mà còn tự khám phá, đặt ra những thách thức và vượt qua những giới hạn của mỗi người. Việc số một là xác định rõ mục tiêu và định hình định hướng cuộc sống để tập trung nỗ lực và tài năng vào những lĩnh vực quan trọng nhất. Chắc cậu cũng đồng ý với tớ là phát triển bản thân còn liên quan đến việc duy trì sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần. Tớ nói thật là thời gian qua còn ham chơi nhiều. Bây giờ, tớ đang cố gắng quản lí thời gian tốt hơn. Tớ nghĩ phát triển bản thân không chỉ là hành trình cá nhân mà còn là sự đóng góp cho cộng đồng bằng việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với người khác Linh ạ! Quá trình này đâu chỉ mang lại sự tự thoả mãn mà còn đem lại cơ hội và thành công trong cuộc đời chúng mình.”.
III. Bài tập viết và nói – nghe
Bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí là gì? Hãy chọn ý đúng nhất:
A. Trình bày rõ ràng bằng lời về một hoặc một số phương diện liên quan đến nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm kí
B. Bài viết nhằm làm sáng tỏ điểm giống nhau và khác nhau của hai tác phẩm kí bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể
C. Bài viết trình bày ý kiến phân tích, đánh giá về các yếu tố nội dung, hình thức của tác phẩm kí bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể
D. Bài viết đưa ra các ý kiến nhận xét, bình luận về nhân vật và sự việc; giúp người đọc hiểu được phẩm chất, tính cách của nhân vật kí
Chọn đáp án: B. Bài viết nhằm làm sáng tỏ điểm giống nhau và khác nhau của hai tác phẩm kí bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể
Các bước chuẩn bị trước khi tìm ý, lập dàn ý và viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí dưới đây là đúng hay sai? Hãy đánh dấu ü vào ô phù hợp.
Các bước chuẩn bị | Đúng | Sai |
(1) Đọc kĩ đề bài, suy nghĩ về các vấn đề đặt ra trong đề bài. |
|
|
(2) Đọc kĩ hai văn bản kí được gợi ra trong đề bài, tìm và ghi lại những chi tiết đặc sắc về hình thức và nội dung của hai tác phẩm (hoặc đoạn trích). |
|
|
(3) Đọc các tài liệu có liên quan đến tác giả, tác phẩm được gợi ra trong đề bài; ghi lại những ý kiến quan trọng, có thể dùng để trích dẫn hoặc mở rộng bàn luận. |
|
|
(4) Đọc các truyện kí hoặc tìm xem các bộ phim tài liệu, vở kịch nổi tiếng; ghi lại các liên tưởng, cảm nhận của bản thân. |
|
|
(5) Tìm ý cho bài viết bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi. |
|
|
(6) Lập dàn ý cho bài viết bằng cách lựa chọn, sắp xếp các ý theo bố cục ba phần: mở bài – thân bài – kết bài |
|
|
(7) Kiểm tra bài đã viết, nhận biết và sửa chữa các lỗi chính tả, diễn đạt. |
|
|
Các bước chuẩn bị | Đúng | Sai |
(1) Đọc kĩ đề bài, suy nghĩ về các vấn đề đặt ra trong đề bài. | ü |
|
(2) Đọc kĩ hai văn bản kí được gợi ra trong đề bài, tìm và ghi lại những chi tiết đặc sắc về hình thức và nội dung của hai tác phẩm (hoặc đoạn trích). | ü |
|
(3) Đọc các tài liệu có liên quan đến tác giả, tác phẩm được gợi ra trong đề bài; ghi lại những ý kiến quan trọng, có thể dùng để trích dẫn hoặc mở rộng bàn luận. | ü |
|
(4) Đọc các truyện kí hoặc tìm xem các bộ phim tài liệu, vở kịch nổi tiếng; ghi lại các liên tưởng, cảm nhận của bản thân. |
| ü |
(5) Tìm ý cho bài viết bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi. |
| ü |
(6) Lập dàn ý cho bài viết bằng cách lựa chọn, sắp xếp các ý theo bố cục ba phần: mở bài – thân bài – kết bài |
| ü |
(7) Kiểm tra bài đã viết, nhận biết và sửa chữa các lỗi chính tả, diễn đạt. |
| ü |
Đọc văn bản dưới đây và cho biết người viết đã vận dụng tông hợp những thao tác nghị luận nào?
“Qua kí ức của đồng đội và đọc lại cuốn Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, tôi càng củng cố sâu sắc thêm về lòng cảm phục với nữ bác sĩ trẻ đã sống và hi sinh một cách rất đẹp đẽ này. Chị Thuỳ Trâm là tấm gương tiêu biểu của người trí thức đi vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, với tất cả sự trong sáng của tâm hồn. Những phẩm chất của chị đã khiến chính những kẻ thù của chị phải khuất phục. Qua từng trang nhật kí đã hiện rõ hơn tâm hồn của một người con gái đẹp đẽ. Những vò xé, day dứt về tình yêu và những quan hệ cuộc sống, rồi nổi lên là nỗi nhớ gia đình khiến chị trở thành một con người rất đặc biệt nhưng cũng rất bình dị.
Tôi gọi chị là một thiên thần bởi những phẩm chất của chị đã thuyết phục bất cứ ai ở bất cứ chiến tuyến nào. Thuỳ Trâm viết những dòng nhật kí này là cho riêng mình, nếu chị còn sống thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ được đọc những dòng chữ ấy. Vượt lên trên một cuốn nhật kí thông thường, Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm đã trở thành một tác phẩm văn học rất giá trị, rất đặc biệt, rất riêng tư. Và chính bởi ta đang hướng đến. những lí do đó mà cuốn sách như một cây cầu nối những giá trị nhân bản mà chúng ta đang hướng đến”.
(Theo Thanh Thảo, nhandan.vn, ngày 28/07/2005)
A. Giải thích và bình luận
B. Phân tích và bác bỏ
C. Phân tích và chứng minh
D. So sánh và bình luận
Chọn đáp án: C. Phân tích và chứng minh
Đọc hai đoạn trích nhật kí dưới đây:
6.5.1972 “Nhìn những ngọn núi xanh xa xa, cây cối sùi lên như mây trên đỉnh núi, mình hiểu rằng, đấy chính là chân Trường Sơn – Khi nào mình được đứng hẳn trên Trường Sơn nhỉ, đứng ở đó, nhìn ra bốn phía mênh mông, thấy những dải rừng cháy tan hoang vì bom napan và chất độc hoá học Mỹ – và được gặp những người chiến sĩ lăn lộn ngày đêm trên tuyến lửa. Mình đã ao ước từ lâu, được ngắt một chùm lá săng lẻ, được đi dưới rừng khộp và mắc võng trên những cây rừng đã mòn vết người đi trước. Mình hiểu rằng, những cái đó đều phải trả giá bằng mồ hôi và cả máu nữa – Phải trả một giá khá đắt. Nhưng có hề gì, không dám hi sinh làm gì có hạnh phúc, niềm vui?”. 25.5.72 “Có thể ngày mai, cuộc đời sẽ trả lời mình bằng luồng gió lạnh ngắt, nhưng có hề chi, khi mình đã cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả – Biết yêu và biết ghét – Biết lăn lộn trong cái bình dị của cuộc sống mà cảm hiểu hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Biết sống cao thượng, vươn lên trên tất cả những gì tính toán cá nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải sống như vậy, phải cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn như thế – Đây là mơ ước, là nguyện vọng, quyết tâm và cũng là trách nhiệm mình phải làm. Phải làm. (Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2005) | 1.1.1970 “Thêm một tuổi đời, vậy là cái tuổi ba mươi đâu còn xa nữa. Vài năm nữa thôi mình sẽ trở thành một chị cán bộ già dặn, đứng đắn. Nghĩ đến đó mình thoáng thấy buồn Tuổi xuân của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng... tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có... Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước. Từ ước mơ đó mới có được những gì gọi là của riêng mình. Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ. Tuổi trẻ của mình đã thấm đượm mồ hôi, nước mắt, máu xương của những người đang sống và những người đã chết. Tuổi trẻ của mình đã cứng cáp trong thử thách gian lao của chiến trường, tuổi trẻ của mình cũng đã nóng rực vì ngọn lửa căm thù đang ngày đêm hun đốt. Và gì nữa, phải chăng mùa xuân của tuổi trẻ cũng vẫn thắm đượm thêm vì màu sắc của mỡ ước và yêu thương vẫn ánh lên trong những đôi mắt nhìn mình? Một đôi mắt đen thâm quầng vì thức đêm nhưng bao giờ đến với mình cũng là niềm vui và sôi nổi. Một đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài cũng vậy, bao giờ cũng đến với mình tha thiết tin yêu. Và đôi mắt tinh ranh của một người bạn gái nhìn mình như hiểu hết, như trao hết niềm tin. Th. ơi! Đó phải chăng là hạnh phúc mà chỉ Th. mới được hưởng mà thôi? Hãy vui đi, hãy giữ trọn trong lòng niềm mơ ước và để màu xanh của tuổi trẻ ngời rạng mãi trong đôi mắt và nụ cười nghe Thuỳ!” (Đặng Thuỳ Trâm, Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009) |
Lập dàn ý cho đề văn:
Hãy so sánh tâm trạng, ước mơ và lẽ sống của hai tác giả qua hai đoạn trích “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm” (Đặng Thuỳ Trâm) và “Mãi mãi tuổi hai mươi” (Nguyễn Văn Thạc).
Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề cần so sánh, đánh giá.
(1) Đoạn văn của người biên soạn sách.
Thân bài:
* Tâm trạng và ước mơ của hai tác giả
− Tâm trạng và ước mơ của Đặng Thuỳ Trâm:
+ Tích cực, nhiệt huyết với lí tưởng chiến đấu cho độc lập, tự do.
+ Chấp nhận hi sinh để bảo vệ đất nước, đánh thắng giặc Mỹ, giành độc lập, tự do.
– Tâm trạng và ước mơ của Nguyễn Văn Thạc:
+ Hướng tới cuộc sống có ý nghĩa, tràn đầy lòng trung hiếu và trách nhiệm.
+ Cống hiến cho cuộc sống một tâm hồn cao cả, biết yêu và ghét, sống vượt lên
trên tính toán cá nhân.
* Lẽ sống và trách nhiệm của hai tác giả
- Lẽ sống và trách nhiệm của Đặng Thuỳ Trâm:
+ Cống hiến cho cách mạng, kháng chiến, hi sinh vì quê hương và nhân dân.
+ Ôm trọn trách nhiệm của một chiến sĩ trên tuyến lửa.
– Lẽ sống và trách nhiệm của Nguyễn Văn Thạc:
+ Sống cao thượng, vượt lên trên tính toán cá nhân, cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống bình dị.
+ Cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả.
* Sự tương đồng và khác biệt
– Sự tương đồng:
+ Tâm hồn cao cả và ước mơ lớn về một cuộc sống ý nghĩa.
+ Nhìn nhận giá trị của cuộc sống và đồng lòng với lí tưởng chiến đấu cho tự do và công bằng.
– Sự khác biệt:
+ Đặng Thuỳ Trâm hướng tới sự hi sinh và cống hiến trong chiến đấu.
+ Nguyễn Văn Thạc chú trọng vào sự cao thượng trong cuộc sống bình dị và trách nhiệm với lẽ sống chân chính.
Kết bài:
– Tóm tắt những điểm chính đã trình bày trong bài viết.
– Nhấn mạnh sự đa dạng và độc lập của tâm trạng, ước mơ, lẽ sống của hai tác giả.
Đọc hai đoạn trích nhật kí dưới đây:
6.5.1972 “Nhìn những ngọn núi xanh xa xa, cây cối sùi lên như mây trên đỉnh núi, mình hiểu rằng, đấy chính là chân Trường Sơn – Khi nào mình được đứng hẳn trên Trường Sơn nhỉ, đứng ở đó, nhìn ra bốn phía mênh mông, thấy những dải rừng cháy tan hoang vì bom napan và chất độc hoá học Mỹ – và được gặp những người chiến sĩ lăn lộn ngày đêm trên tuyến lửa. Mình đã ao ước từ lâu, được ngắt một chùm lá săng lẻ, được đi dưới rừng khộp và mắc võng trên những cây rừng đã mòn vết người đi trước. Mình hiểu rằng, những cái đó đều phải trả giá bằng mồ hôi và cả máu nữa – Phải trả một giá khá đắt. Nhưng có hề gì, không dám hi sinh làm gì có hạnh phúc, niềm vui?”. 25.5.72 “Có thể ngày mai, cuộc đời sẽ trả lời mình bằng luồng gió lạnh ngắt, nhưng có hề chi, khi mình đã cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả – Biết yêu và biết ghét – Biết lăn lộn trong cái bình dị của cuộc sống mà cảm hiểu hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Biết sống cao thượng, vươn lên trên tất cả những gì tính toán cá nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải sống như vậy, phải cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn như thế – Đây là mơ ước, là nguyện vọng, quyết tâm và cũng là trách nhiệm mình phải làm. Phải làm. (Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2005) | 1.1.1970 “Thêm một tuổi đời, vậy là cái tuổi ba mươi đâu còn xa nữa. Vài năm nữa thôi mình sẽ trở thành một chị cán bộ già dặn, đứng đắn. Nghĩ đến đó mình thoáng thấy buồn Tuổi xuân của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng... tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có... Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước. Từ ước mơ đó mới có được những gì gọi là của riêng mình. Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ. Tuổi trẻ của mình đã thấm đượm mồ hôi, nước mắt, máu xương của những người đang sống và những người đã chết. Tuổi trẻ của mình đã cứng cáp trong thử thách gian lao của chiến trường, tuổi trẻ của mình cũng đã nóng rực vì ngọn lửa căm thù đang ngày đêm hun đốt. Và gì nữa, phải chăng mùa xuân của tuổi trẻ cũng vẫn thắm đượm thêm vì màu sắc của mỡ ước và yêu thương vẫn ánh lên trong những đôi mắt nhìn mình? Một đôi mắt đen thâm quầng vì thức đêm nhưng bao giờ đến với mình cũng là niềm vui và sôi nổi. Một đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài cũng vậy, bao giờ cũng đến với mình tha thiết tin yêu. Và đôi mắt tinh ranh của một người bạn gái nhìn mình như hiểu hết, như trao hết niềm tin. Th. ơi! Đó phải chăng là hạnh phúc mà chỉ Th. mới được hưởng mà thôi? Hãy vui đi, hãy giữ trọn trong lòng niềm mơ ước và để màu xanh của tuổi trẻ ngời rạng mãi trong đôi mắt và nụ cười nghe Thuỳ!” (Đặng Thuỳ Trâm, Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009) |
Lập dàn ý cho đề văn:
Hãy so sánh tâm trạng, ước mơ và lẽ sống của hai tác giả qua hai đoạn trích “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm” (Đặng Thuỳ Trâm) và “Mãi mãi tuổi hai mươi” (Nguyễn Văn Thạc).
Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề cần so sánh, đánh giá.
(1) Đoạn văn của người biên soạn sách.
Thân bài:
* Tâm trạng và ước mơ của hai tác giả
− Tâm trạng và ước mơ của Đặng Thuỳ Trâm:
+ Tích cực, nhiệt huyết với lí tưởng chiến đấu cho độc lập, tự do.
+ Chấp nhận hi sinh để bảo vệ đất nước, đánh thắng giặc Mỹ, giành độc lập, tự do.
– Tâm trạng và ước mơ của Nguyễn Văn Thạc:
+ Hướng tới cuộc sống có ý nghĩa, tràn đầy lòng trung hiếu và trách nhiệm.
+ Cống hiến cho cuộc sống một tâm hồn cao cả, biết yêu và ghét, sống vượt lên
trên tính toán cá nhân.
* Lẽ sống và trách nhiệm của hai tác giả
- Lẽ sống và trách nhiệm của Đặng Thuỳ Trâm:
+ Cống hiến cho cách mạng, kháng chiến, hi sinh vì quê hương và nhân dân.
+ Ôm trọn trách nhiệm của một chiến sĩ trên tuyến lửa.
– Lẽ sống và trách nhiệm của Nguyễn Văn Thạc:
+ Sống cao thượng, vượt lên trên tính toán cá nhân, cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống bình dị.
+ Cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả.
* Sự tương đồng và khác biệt
– Sự tương đồng:
+ Tâm hồn cao cả và ước mơ lớn về một cuộc sống ý nghĩa.
+ Nhìn nhận giá trị của cuộc sống và đồng lòng với lí tưởng chiến đấu cho tự do và công bằng.
– Sự khác biệt:
+ Đặng Thuỳ Trâm hướng tới sự hi sinh và cống hiến trong chiến đấu.
+ Nguyễn Văn Thạc chú trọng vào sự cao thượng trong cuộc sống bình dị và trách nhiệm với lẽ sống chân chính.
Kết bài:
– Tóm tắt những điểm chính đã trình bày trong bài viết.
– Nhấn mạnh sự đa dạng và độc lập của tâm trạng, ước mơ, lẽ sống của hai tác giả.
Tìm ý và lập dàn ý cho đề văn:
Trong cuốn nhật kí về những ngày đi trốn cùng gia đình ở Hà Lan trong thời kì Đức quốc xã chiếm đóng, An-nơ Phranh (Anne Frank) đã viết: “Mình làm sao có Trong cuốn nhật kí về những ngày đi trốn cùng gia đình ở Hà Lan trong thời k thể buồn rầu khi có Mặt Trời và bầu trời? — tôi tự hỏi. Chúa muốn chúng ta hạnh mọi nỗi lo âu.”. Trong cuốn nhật kí về những ngày chông chọi với căn bệnh nan phúc và ngắm nhìn cái đẹp của thế giới này. Điều đó giúp cho chúng tôi vượt qua y, Ki-tô A-ya viết: “Mình giờ đã thành một đứa chẳng thể làm gì ngoài khóc lóc. Có một phức cảm thấp kém đang lớn lên trong đầu mình. Có lẽ đó là kết quả của sự tàn tật. Nhưng ít ra mình vẫn đang sống. Mình phải hít thở và tiếp tục sống, bởi mình không thể chết, chẳng có cách nào khác. Thật đáng sợ. Nếu cứ khóc thì những nếp nhăn trên mặt và trên mắt sẽ khiến khuôn mặt mình xấu xí. Để cải thiện cái sự xấu xí đó, mỗi khi nhìn vào gương mình lại nhe răng cười toe toét, dẫu lúc đó chẳng có chuyện gì vui mình cũng cười.
Hãy sống!”.
Hãy so sánh, đánh giá cách nhìn cuộc sống và tinh thần đối mặt với tình thế khó khăn của hai thiếu nữ An-nơ Phranh và Ki-tô A-ya.
Mở bài
- Giới thiệu về hai nhân vật Anne Frank và Kito Aya.
- Trích dẫn hai đoạn nhật ký để làm nổi bật cách nhìn cuộc sống và tinh thần đối mặt với khó khăn của họ.
Thân bài
* Giới thiệu về hoàn cảnh và tình thế khó khăn của hai nhân vật
- Anne Frank:
+ Hoàn cảnh: Sống trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Hà Lan, phải lẩn trốn cùng gia đình để tránh bị bắt.
+ Tình thế khó khăn: Sống trong sự sợ hãi, thiếu thốn và nguy hiểm liên tục.
- Kito Aya:
+ Hoàn cảnh: Bị mắc căn bệnh thoái hóa tiểu não, một căn bệnh nan y không có phương pháp chữa trị.
+ Tình thế khó khăn: Phải đối mặt với sự suy giảm sức khỏe, mất dần khả năng vận động và những khó khăn tâm lý.
* Cách nhìn cuộc sống của hai nhân vật
- Anne Frank:
+ Lạc quan và yêu đời: Dù sống trong hoàn cảnh khó khăn, Anne vẫn tìm thấy niềm vui và sự an ủi từ những điều nhỏ bé như mặt trời và bầu trời.
+ Niềm tin vào Chúa: Anne tin rằng Chúa muốn mọi người hạnh phúc và ngắm nhìn cái đẹp của thế giới, điều này giúp cô vượt qua nỗi lo âu1.
- Kito Aya:
+ Nhận thức rõ về tình trạng của mình: Aya hiểu rõ sự tàn tật và những khó khăn mà căn bệnh mang lại.
+ Tự động viên và cố gắng sống tích cực: Aya cố gắng cười và tìm niềm vui trong những điều nhỏ bé để vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác tự ti2.
* Tinh thần đối mặt với khó khăn của hai nhân vật
- Anne Frank:
+ Tinh thần kiên cường: Anne luôn giữ vững niềm tin và hy vọng, không để hoàn cảnh làm mất đi sự lạc quan của mình.
+ Sự đồng cảm và chia sẻ: Anne viết nhật ký để chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ, giúp cô cảm thấy bớt cô đơn và mạnh mẽ hơn1.
- Kito Aya:
+ Tinh thần kiên trì: Aya không từ bỏ hy vọng, luôn cố gắng luyện tập và tự động viên bản thân để vượt qua khó khăn.
+ Sự chấp nhận và đối mặt: Aya chấp nhận tình trạng của mình và tìm cách sống tích cực, dù biết rằng không thể thay đổi được hoàn cảnh2.
* So sánh và đánh giá
- Giống nhau:
+ Cả hai đều có tinh thần kiên cường và không từ bỏ hy vọng dù hoàn cảnh rất khó khăn.
+ Họ tìm thấy niềm vui và sự an ủi từ những điều nhỏ bé trong cuộc sống.
* Khác nhau:
+ Anne Frank dựa vào niềm tin tôn giáo và sự lạc quan để vượt qua khó khăn.
+ Kito Aya tự động viên bản thân và chấp nhận tình trạng của mình để sống tích cực.
Kết bài
- Khái quát lại những điểm giống và khác nhau trong cách nhìn cuộc sống và tinh thần đối mặt với khó khăn của Anne Frank và Kito Aya.
- Đánh giá khách quan về hai cách nhìn và tinh thần này, nhấn mạnh giá trị nhân văn và bài học mà chúng mang lại.
Thế nào là bài thuyết trình so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí? Để thuyết trình so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí, em cần lưu ý những gì?
Thuyết trình so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí là trình bày bằng lời kết quả đối chiếu, nhận định giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm kí. Để so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí, cần lưu ý như sau:
- Đọc kĩ hai tác phẩm kí, tìm hiểu, ghi lại các thông tin về tác giả, bối cảnh văn hoá – xã hội – lịch sử của tác phẩm; năm vững đặc sắc hình thức và nội dung của tác phẩm.
- Xem lại dàn ý và bài viết đã thực hiện ở phần Viết, suy nghĩ kĩ để tìm ý hoặc bổ sung ý mới, cố gắng tìm ra góc nhìn riêng so với bài đã viết hoặc các tài liệu đã tham khảo, điều chỉnh dàn ý cho mạch lạc, phù hợp.
- Xác định mục đích, bối cảnh, đối tượng nghe thuyết trình để có hình thức trình bày phù hợp.
Theo em, khi thuyết trình so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí, người nói cần làm gì để thu hút sự chú ý của người nghe?
Để bài thuyết trình thuyết trình so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí thu hút sự chú ý của người nghe, người nói cần:
- Nêu vấn đề để người nghe cùng thảo luận và tham gia vào việc nhận xét, góp ý. Cung cấp thêm tài liệu và nguồn tham khảo để người nghe tìm hiểu sâu hơn về hai tác phẩm kí
Phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ cơ thể với các phương tiện như tranh, ảnh, video, máy chiếu, màn hình (nếu có) để bài thuyết trình thêm sinh động.
