Giải SBT Ngữ Văn 10 Bài 5. Nghệ thuật truyền thống (Chèo/ tuồng) có đáp án
31 câu hỏi
Đọc lại văn bản Thị Mầu lên chùa (nếu bạn chọn đọc văn bản chèo), văn bản Huyện Trìa xử án (nếu bạn chọn đọc văn bản tuồng) trong SGK và thực hiện các yêu cầu dưới đây:
* Với văn bản Thị Mầu lên chùa:
(Câu hỏi 2, Ngữ văn 10, tr.117): Lời thoại của Thị Mầu cho thấy tình cảm, cảm xúc của nhân vật đã thay đổi như thế nào từ đầu đến cuối đoạn trích?
Điền các từ ngữ chỉ tình cảm, cảm xúc và những lời thoại tương ứng vào sơ đồ sau (làm vào vở):

Lời thoại của Thị Mầu cho thấy nhân vật quan niệm như thế nào về tình yêu và hạnh phúc?
Trong đoạn trích Thị Mầu lên chùa, tiếng đế thể hiện quan điểm như thế nào về nhân vật Thị Mầu? Bạn có đồng tình với quan điểm đó hay không? Vì sao?
Chỉ ra mâu thuẫn giữa các nhân vật trước và trong phiên tòa. Phân tích nguyên nhân làm nảy sinh, chuyển hóa mâu thuẫn đó.
Từ lời xưng danh (bàng thoại) của Huyện Trìa và lời ông ta đối thoại với các nhân vật trong phiên tòa, nhận xét về tính cách của nhân vật này.
Đọc văn bản Xúy Vân giả dại (nếu bạn chọn đọc văn bản chèo), văn bản Kẻ mưu ma, người chước quỷ (nếu bạn chọn đọc văn bản tuồng) dưới đây và thực hiện yêu cầu đọc văn bản chèo hoặc đọc văn bản tuồng nêu phía dưới:
Xúy Vân giả dại
(trích vở chèo Kim Nham)
Nội dung vở chèo Kim Nham Kim Nham là một học trò nghèo từ Nam Định lên Tràng An trọ học, được Huyện Tể gả con gái là Xúy Vân. Là một cô gái đảm đang, khéo léo, Xúy Vân chỉ ước mong có một gia đình đơn giản, đầm ấm, “Chờ cho lúa chín bông vàng/ Để anh đi gặt để nàng mang cơm”. Tuy nhiên, hôn nhân không hạnh phúc như nàng mong đợi. Ngay sau lễ cưới, Kim Nham quay lại Tràng An dùi mài kinh sử, bỏ Xúy Vân một mình ở quê, gánh vác việc nhà chồng và cô độc trong cảnh chờ đợi. Trần Phương, một gã Sở Khanh phong tình ở Bắc Ninh, tán tỉnh dụ dỗ Xúy Vân. Nàng xiêu lòng nghe lời hắn giả phát điên để Kim Nham viết giấy li hôn rồi cưới hắn. Kim Nham tìm thầy thuốc, cô đồng, thầy cúng khắp nơi về chạy chữa cho vợ nhưng không được, đành viết giấy li hôn. Nhưng Trần Phương đã bỏ Xúy Vân đi với một phụ nữ khác. Bẽ bàng đau khổ, Xúy Vân từ giả điên trở thành điên thật, lang thang ăn xin. Kim Nham đỗ đạt, được bổ làm quan. Một lần vô tình gặp vợ cũ, Kim Nham bỏ một nén bạc vào nắm cơm sai người đem cho nàng. Xúy Vân bẻ nắm cơm, thấy nén bạc, hỏi ra mới biết. Nhục nhã, đau đớn, nàng nhảy xuống sông tự vẫn. Trích đoạn Xúy Vân giả dại sử dụng nhiều làn điệu phổ biến trong chèo cổ như Con gà rừng, Lới lơ, Hát xuôi hát ngược, Quá giang, kết hợp với ngôn từ giàu chất ẩn dụ. Vũ đạo của Xúy Vân có tính ước lệ cao, thể hiện những hoạt động đời thường của nhân vật, như dệt vải, xe tơ, gặt lúa, khâu vá, thêu thùa, … |
Xúy Vân (ra, nói lệch)
(hát xuôi)
Tiếng đế Xúy Vân (xưng danh)
(hát con gà rừng)
(nói)
(hát xe chỉ)
(nói)
(hát sắp cá rô)
(nói)
(hát ngược)
(nói) (hát ngược)
(nói lệch)
(phong thư) |
Đau thiết, thiệt van Than cùng bà Nguyệt Đánh cho lê liệt Chết mệt con đồng Bắt đò sang sông Bớ đò, bớ đò …! Tôi la đò, đò nỏ có thưa Tôi càng chờ, càng đợi, càng trưa chuyến đò. Bớ các chị nhiêu ơi, bớ các bạn tình ơi! Cách con sông nên tôi phải lụy đò Bởi chưng trời tối, phải lụy cô bán hàng Chẳng nên gia thất thì về, ở làm chi nữa, chúng chê bạn cười. Tôi chắp tay, lạy bạn đừng cười, Lòng tôi không giăng gió tôi gặp người gió giăng. Gió giăng thì mặc gió giăng Đôi ta chỉ quyết đạo hằng với nhau Chị em ơi, tôi ra đấy có phải xưng danh không nhỉ? Không xưng danh, ai biết là ai?
Tôi bước vào tôi ô rằng vậy: Chẳng giấu gì, tôi tên gọi Xúy Vân, Lấy Kim Nham nhà khó gian truân, Chồng học vắng chầy ngày mong mỏi Tôi ngồi từ tối Đợi khách tha nhang Gái phải nằm hàng Nghề dại dột … nhưng tài cao vô giá. Thiên hạ đồn tôi hát hay đã lạ, ai cũng gọi là cô ả Xúy Vân. Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại. Con gà rừng Ăn lẫn với công Đắng cay chẳng chịu được, láng giềng ai hay? Chờ cho cây lúa chín vàng, Để anh đi gặt lúa, để cô nàng mang cơm. Bông dắt, bông díu, xa lắc, xa líu, láng giềng ai hay, Úc bởi Thung Huyên Ơ, kìa con nhện, xuôi xuống đây vương tơ để đằng này xe chỉ đi! Ngồi rồi xem nhện xe tơ, Xem dăm sợi chỉ đợi chờ tình nhân. Nhác trông lên núi Thiên Thai Thấy hai con quạ ăn xoài trên cây Đôi ta dắt díu lên đây Áo trải làm chiếu, chăn quây làm mùng. Chị em ơi, tôi nhớ tình nhân, cho tôi than thở một câu nhá! Tôi thương nhân ngãi Tôi nhớ nhân tình Đêm năm canh trằn trọc hòa năm Than rằng nhân ngãi cựu tình đi đâu Con cá rô nằm vũng chân trâu Để cho năm nảy cần câu châu vào Chị em ơi, tôi hát xuôi cũng được, tôi hát ngược cũng hay, tôi hát câu này cho chị em nghe nhá. Chiếc trống cơm ai khéo vỗ nên vông Một đàn con gái lội sông té bèo. Tôi bắt chước chị em tôi té bào nhá! Chuột chạy bờ rào Muỗi ấp cánh dơi. Ông Bụt kia bẻ cổ con nai Cái trứng gà mày tha con quạ lên ngồi trên cây Ở trong đình có cái khua, cái nhôi Ở cái nón có cái kèo, cái cột Ở dưới sông có cái phố bán bát Lên trên biển đốn cây gỗ làm nhà Vâm kia ấp trứng ba ba Cưỡi con gà mà đi đánh giặc! Rồ rồ, dại dại, điên điên … Rồ này ai bán thì mua Dại này ai thấy không mơ mẩn tình Lúc thì giả dại ra hình làm điên Lúc thì tưởng đến nhân duyên Cho nên đến nỗi phát điên, phát rồ. Phong bức thư này, nhắn gửi Kim Nham Anh ở đâu cho chóng mà về Nghe lời tôi lập một đàn thề Nghe thời chớ, không nghe, để gái này tự vẫn (Hạ) |
(Kim Nham, chèo cổ, Hà Văn Cầu sưu tầm, chú thích;
In trong Chèo cổ tuyển tập, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1976)
Từ nhan đề, lời thoại trong văn bản và tóm tắt nội dung vở chèo, bạn hãy:
a. Xác định vị trí của văn bản (trích) trên đây trong toàn thể vở chèo Kim Nham.
b. Nêu một số bằng chứng cho thấy có sự phù hợp/ chưa phù hợp (nếu có) giữa nhan đề với nội dung văn bản.
Qua lời thoại (nói và hát), nhân vật Xúy Vân cho thấy có sự mâu thuẫn giữa mơ ước và thực tại trong đời sống hôn nhân của bản thân cô. Ví dụ: mơ ước “Để anh đi gặt để nàng mang cơm” mâu thuẫn với thực tại “Chẳng nên gia thất thù về, /Ở làm chi nữa …”. Liệt kê thêm ít nhất hai biểu hiện tương tự về mâu thuẫn như vậy trong văn bản theo mẫu bảng dưới đây (làm vào vở).
Mơ ước | Thực tại |
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm | Chẳng nên gia thất thì về, / Ở làm chi nữa … |
… | … |
Lời thoại cũng thể hiện những công việc thường ngày của Xúy Vân. Từ những công việc Xúy Vân thường làm và những suy nghĩ, tình cảm của nhân vật khi thực hiện những công việc đó, bạn nhận thấy điều gì về tính cách nhân vật?
Cho biết:
a. Cái khó của việc thể hiện hành động, ngôn ngữ của một nhân vật giả điên như Xúy Vân đối với tác giả biên kịch là gì? Khó khăn ấy đã được tác giả văn bản trên khắc phục bằng cách nào?
b. Sự kết hợp đối thoại – bàng thoại – độc thoại; sự thay đổi từ hát sang nói, nói sang hát; cách chuyển điệu trong hát và nói (nói lệch, hát xuôi, hát ngược, hát con gà rừng, hát xe chỉ, hát sắp cá rô, ..) có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện trạng thái tâm lí của nhân vật Xúy Vân?
Theo bạn:
a. Cách Xúy Vân chọn để thoát ra khỏi cuộc sống hiện tại có thỏa đáng không? Vì sao? Liệu còn có cách nào khác để nhân vật thoát ra khỏi cảnh ngộ của mình?
b. Nguyên nhân nào dẫn đến thảm kịch của cuộc đời Xúy Vân? Lỗi thuộc về môi trường xã hội – văn hóa xung quanh nhân vật, hay thuộc về chính bản thân nhân vật?
Từ nhân vật Xúy Vân trong văn bản trên, hãy cho biết điểm khác biệt giữa cách miêu tả, thể hiện tính cách nhân vật trong văn bản chèo với nhân vật trong văn bản truyện? Qua đó, bạn rút ra được những lưu ý gì về cách đọc một văn bản chèo?
Kẻ mưu ma, người chước quỷ
(trích vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
Lớp 14
Đề hầu | (Số là) Thương mụ Hến, mặt mày rất đẹp (Mà) Việc Huyện Trìa, giận chẳng hay nguôi |
(Vả người là quan lớn, tôi là viên thuộc, dầu tôi có làm chi đi nữa) | |
| Đã rằng trên có đã đành Mà sứa nhảy qua đăng sao phải Bây giờ nghĩ lại, Dung thử chước này: Nói chung bà huyện ra tay, Thế mới bắt ông rối cẳng |
Đề hầu: (Vào mách bà Huyện) | |
(Dạ bẩm bà) (Vì hôm nọ) Bà Huyện:
(Là họ) (Nên ta)
Đề hầu:
Huyện Trìa:
Gia Đinh:
Huyện Trìa:
Hà Huyện (vào)
Huyện Trìa (vào)
Hát Nam:
Bà Huyện (vào):
Huyện Trìa (vào):
Bà Huyện:
(Nói thiệt)
Huyện Trìa (vào) | Ông đã đi đâu vắng Bà ngồi chỉ một mình? Bên Thanh hà (quan) đi viếng ân tình Con mụ Hến tới đây hầu kiện. Nghe thổi nghẹn họng, Thấy nói căm gan Dối đạc điền mưu khéo lật lường, Ngồi tịnh thất dường như ủ dột Mụ phen này quyết phá tan hoang Ông đã đành bạc ngãi bạc tình, Mụ cũng quyết lột trần lột trụi (Hạ) Mưu thâm diệu! Mưu thâm diệu Ngã chí hoan! Ngã chí hoan Vểnh râu Trìa trụi lụi chớ van Cúi óc chỉ trơ trơ mà chịu (Hạ) Lớp 17 Giận mụ Huyện hay ghen quá bụng, Làm cho ta thương nhớ không chừng. Hễ đi thì mụ lại kéo lưng, Gẫm ngồi vậy ta đà túng cẳng Nha tiền tận mặt, Trướng hạ bày lời: Thím Hến tôi cho tới mời ngài, Đại quan tới hôm nay có việc. Vốn đây đã biết, Lựa phải nhiều lời, Để ta sẽ tới nơi, Về phân qua cho rõ. Thính thuyết tâm trung tĩnh nộ! Văn ngôn nhãn thượng sanh ba!
Say theo người mình ngọc vóc ngà Hầu nó mụ thân tàn ma dại, Lời thề thốt miệng ông bải bải, Mồm đãi đưa dối mụ liền liền. Ông bày láo địa láo thiên Mụ quyết lột trần lột lỗ! Đặng buồng này khuây buồng nọ Tham chỗ có bỏ chỗ không Làm cho ông hết vác mặt đánh bồng Tới nhà nó trương mồm (mà) nói khách. (Hạ)
Giận mụ nên quá ách, Hành mỗ đã hầu điên, Miệng nói rồi khăn áo lột liền, Chân đi lại y hài chẳng có. Lén đi chắc mụ ra kéo cổ, Ở lại thì mỗ quá buồn lòng. Mưu mụ đà cố lũy thâu công Kế ta dụng canh y cầu dáng. Nghĩ vợ con quá chán Nỗi duyên nợ băng xăng. Vào buồng kia ăn cắp cái khăn, Ra ngõ nọ sửa sang nhan sắc. Thói mụ thiệt hay ghen lặt vặt Nghĩ mình đà lắm việc lăng nhăng. Chỉ Thanh Hà nhẹ gót phăng phăng Mang nón ngựa chúc ba phơi phới
Nón ngựa chúc ba phơi phới Muốn ăn khoai nào ngại vác mai. Bôn ba cây cối dễ nài, Miễn là duyên hiệp trối ai chê cười. (Hạ)
Lớp 18 Ông huyện ơi! Ông huyện ơi! Chờ tôi với! Chờ tôi với! Trở lại thời tắt đuốc, Bằng đi ắt mang tai. Trời mịt mù chẳng thấy bàn tay, Đường tăm tối ỷ khôn dời bước. Dao phay nguyền xé ruột! Kéo sắ quyết xắp môi! (Ới ông ơi!) Chờ tôi với! CHờ tôi với! (Hạ)
Quả tình hay theo dõi, Kìa yêu động kêu vang. Sáng nẻo đường ắt mụ đuổi theo Tắt quách đuốc thời mày trở lại. (Tắt đuốc núp bên đường, miệng kêu tiếng cú) Bất ngãi! Chơn bất ngãi! Mưu thâm! Quả mưu thâm! Tắt đước đi đường sá chẳng thấy tăm, Trời tối quá bụi bờ không lướt tới. Tại ta hay ghen dại, Nên chồng phải làm ma Ông dầu ló cổ về nhà Mụ quyết ra tay xé lỗ! (Hạ)
Gan mụ nên quát ngố Mưu ta thiệt nên khôn Tại vì có phép thiên hôn Không mắc vào tay địa sát Mê mụ Hến phải toan mưu chước Việc mụ Trìa nói lại làm chi? Đuốc dong lên phơi phới ra đi, Chỉ nhà nọ lần lần tới đó (Hạ) |
(In trong Nghêu, Sò, Ốc, Hến – Khuyết daanh, tr.538 – 539; 541 – 544)
Từ nhan đề, lời thoại trong văn bản và tóm tắt nội dung vở tuồng, bạn hãy:
a. Xác định vị trí của văn bản (trích) trên đây trong toàn thể vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến.
b. Nêu một số bằng chứng cho thấy sự phù hợp/ chưa phù hợp (nếu có) giữa nhan đề với nội dung văn bản.
Qua các lời thoại, văn bản cho thấy xung đột giữa hai nhân vật Huyện Trìa và Bà Huyện, vợ ông có quá trình nảy sinh, phát triển, lên đến cao trào (điểm đỉnh). Hãy tóm tắt quá trình ấy và làm rõ tác động qua lại giữa các nhân tố/ hành động và biểu hiện độ căng của xung đột theo mẫu bảng sau (làm vào vở):
Quá trình nảy sinh, phát triển xung đột giữa Huyện Trìa và Bà Huyện
Quá trình | Tác động qua lại giữa các nhân tố/ hành động | Độ căng của xung đột biểu hiện qua lời thoại |
Nảy sinh |
|
|
Phát triển |
|
|
Cao trào/ Điểm đỉnh |
|
|
Động cơ nào khiến Đề Hầu tố giác hành vi của Huyện Trìa với Bà Huyện ở lớp 14? Hành động, lời nói của Đề Hầu, phản ứng của Bà Huyện giúp bạn hiểu gì về tính cách của các nhân vật này?
Phân tích tính cách của nhân vật Huyện Trìa qua hành động, lời nói của ông ta trong văn bản.
Chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật Đề Hầu và Huyện Trìa trong văn bản trên.
Cho biết, theo bạn:
a. Có thể xem các lớp tuồng trên đây là những màn hài kịch hay không? Vì sao?
b. Có thể rút ra được những lưu ý gì về cách đọc hiểu một văn bản tuồng qua việc đọc văn bản trên?
a. Các hình ảnh được sử dụng trong văn bản Đàn ghi-ta phím lõm trong dàn nhạc cải lương giúp bạn hiểu thêm điều gì về các thông tin chính mà văn bản truyền tải?
b. Nhận xét về cách tác giả chú thích các hình ảnh đính kèm: độ dài của phần chú thích hình ảnh, mối liên hệ giữa hình ảnh và phần chú thích với văn bản chính, …
Có rất nhiều dạng biểu đồ, sơ đồ, chẳng hạn như các dạng biểu đồ cột, biểu đồ đường, biểu đồ tròn như trong SGK Ngữ văn 10, tập một, tr.127. Theo bạn, có thể thay thế các biểu đồ trong ba hình ảnh minh họa đó bằng dạng khác không? Vì sao?
Nêu những điểm đáng lưu ý về kiểu bài, yêu cầu đối với kiểu bài khi viết một bản nội quy hoặc bản hướng dẫn ở nơi công cộng.
Chọn một trong hai đề sau đây để thực hành viết theo quy trình:
Đề 1: Hãy viết bản nội quy cho một câu lạc bộ văn hóa, thể thao hay nghệ thuật (câu lạc bộ đọc sách/ bơi lội/ võ thuật/ thể dục nhịp điệu/…) hoạt động ngoài giờ làm việc, học tập mà bạn đã hoặc đang tham gia.
Đề 2: Hãy viết bản hướng dẫn thủ tục làm thẻ thư viện và cách thức sử dụng thể để mượn sách thư viện trường đọc tại chỗ hoặc mang về.
Qua thực hành nói và nghe khi Thảo luận nhóm về một vấn đề có ý kiến khác nhau (Bài 5), bạn rút ra được những lưu ý gì để nâng cao hiệu quả thực hành các bước sau?
a. Chuẩn bị
b. Thảo luận
c. Đánh giá
Nếu chưa đạt các tiêu chí sau khi trả lời phản hồi trong khi nói và nghe, bạn sẽ khắc phục thế nào?
Nội dung kiểm tra | Đạt | Chưa đạt | |
Khi trả lời phản hồi | Có thái độ chừng mực khi tiếp nhận các ý kiến trái chiều từ các thành viên còn lại trong nhóm. |
|
|
Có lập luận rõ ràng, thuyết phục khi phản hồi các ý kiến trái chiều. |
|
| |
Nếu chưa đạt các tiêu chí sau khi tham gia thảo luận trong khi nói và nghe, bạn sẽ khắc phục thế nào?
Nội dung kiểm tra | Đạt | Chưa đạt | |
Khi tham gia thảo luận | Chú ý lắng nghe và ghi chép các ý kiến khác của các thành viên còn lại trong nhóm. |
|
|
Có ý kiến phản hồi và trao đổi nghiêm túc với các thành viên còn lại trong nhóm. |
|
| |
Có ngôn ngữ trao đổi khách quan, trung tính, không công kích cá nhân. |
|
| |
