Giải SBT Lịch sử 12 KNTT Bài 9. Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 đến nay. Một số bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay có đáp án
Đề thi

Giải SBT Lịch sử 12 KNTT Bài 9. Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 đến nay. Một số bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay có đáp án

A
Admin
Lịch sửLớp 1244 lượt thi
19 câu hỏi
1. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hãy xác định chỉ một ý trả lời đúng cho các câu từ 1 đến 12 sau đây.

Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sau tháng 4 - 1975 có thuận lợicơ bản nào sau  đây?

Các nước đế quốc đã từ bỏ âm mưu đặt ảnh hưởng ở Việt Nam.

Các thế lực phản động trong và ngoài nước thất bại hoàn toàn.

Đất nước được độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đất nước đã khắc phục hoàn toàn hậu quả của chiến tranh.

Xem đáp án
Chọn C
2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Sau năm 1975, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam chống lại kẻ thù nào sau đây? 

Quân Pôn Pốt.

Đế quốc Mỹ.

Thực dân Pháp.

Phát xít Nhật.

Xem đáp án
Chọn A
3. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam diễn ra qua mấy giai đoạn? 

Một giai đoạn.

Hai giai đoạn.

Ba giai đoạn.

Bốn giai đoạn.

Xem đáp án
Chọn B
4. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979, quân dân Việt Nam đã làm thất bại âm mưu nào sau đây của kẻ thù?

hoa quân nhập Việt.

Chinh phục từng gói nhỏ.

Giành đất, giành dân.

Đánh nhanh, thắng nhanh.

Xem đáp án
Chọn D
5. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Một trong những mặt trận quyết liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc (1979 - 1989) của nhân dân Việt Nam là

Móng Cái (Quảng Ninh).

Vị Xuyên (Hà Giang).

Lạng Giang (Bắc Giang).

Chi Lăng (Lạng Sơn).

Xem đáp án
Chọn B
6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam từ sau năm 1975 không vì mục tiêu nào sau đây?

Giữ vững hòa bình.

Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bảo vệ lợi ích quốc gia.

Duy trì ổn định chính trị.

Xem đáp án
Chọn B
7. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Một trong những quan điểm chủ đạo trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sau tháng 4 - 1975 là

coi ngoại lực là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, thành công.

kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

chỉ chú trọng xây dựng sức mạnh của đất nước về văn hóa - xã hội.

kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: kháng chiến và kiến quốc.

Xem đáp án
Chọn A
8. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 - 1975 của nhân dân Việt Nam có ý nghĩa nào sau đây?

Góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới.

Góp phần thiết lập Trật tự thế giới hai cực l-an-ta.

Chẩm dứt ách cai trị của chủ nghĩa để quốc.

Chấm dứt âm mưu chống phá của các thế lực thủ địch.

Xem đáp án
Chọn A
9. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Để thực thi chủ quyền ở quần đào Hoàng Sa, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thành lập huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh hoặc thành phố nào sau đây? 

Đà Nẵng.

Khánh Hoà.

Quảng Ninh.

Quảng Trị.

Xem đáp án
Chọn C
10. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trung Quốc huy động lực lượng quân đội lớn tấn công đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào thời gian nào? 

Tháng 3 - 1986.

Tháng 3 - 1987.

Tháng 3 - 1988.

Tháng 3 - 1989.

Xem đáp án
Chọn C
11. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nội dung nào sau đây phản ánh không đúng cuộc đấu tranh bảo vệ, thực thi quyền, chủ quyền và các lợi ích hợp pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Biển Đông?

Từ chối tham gia Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển.

Thành lập huyện đảo Trường Sa và huyện đảo Hoàng Sa.

Tổ chức nghiên cứu để cung cấp các bằng chứng về chủ quyền.

Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền.

Xem đáp án
Chọn A
12. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 để lại bài học nào sau đây cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa?

Phát huy yếu tố ngoại lực làm nhân tố quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Luôn đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao để mở đường cho đấu tranh quân sự.

Tăng cường sức mạnh quân sự là biện pháp duy nhất để bảo vệ Tổ quốc.

Xem đáp án
Chọn B
13. Tự luận
• 1 điểm

Dựa vào đoạn thông tin dưới đây và kiến thức đã học, hãy xác định câu đúng hoặc sai về nội dung lịch sử.

THÔNG TIN. Ngày 30 - 4 - 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi, đất nước thu về một mối. Ngay sau tháng 4 - 1975 không lâu, nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam do quân đội Pôn Pốt tiến hành với sự hỗ trợ về nhiều mặt của các thế lực bên ngoài.

Nghiêm trọng hơn, rạng sáng ngày 17 - 2 - 1979, Trung Quốc đưa 600 000 quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam. Tháng 3 - 1979, Trung Quốc phải rút quân nhưng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc chỉ chính thức kết thúc vào năm 1989. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền, đã có những người lính hi sinh anh dũng. Ngày nay, đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

A. Ngay sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc xuất hiện một số vấn đề phức tạp.

B. Sau khi lên nắm quyền ở Campuchia (tháng 4 - 1975), chính quyền Pôn Pốt đã phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

C. Tháng 1 - 1989, quân tình nguyện Việt Nam cùng quân dân Campuchia đã đánh đổ chính quyền Pôn Pốt.

D. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, Nhà nước Việt Nam không sử dụng các hoạt động ngoại giao.

E. Ngày 17 - 2 - 1979, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc của nhân dân Việt Nam chính thức bắt đầu.

G. Trước sức chiến đấu của quân dân Việt Nam, tháng 3 - 1979, quân Trung Quốc phải rút quân nhưng tình hình biên giới còn rất phức tạp.

H. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lí toàn bộ lãnh thổ đất nước.

I. Luật Biển Việt Nam được thông qua năm 2022 là một cơ sở pháp lí để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

k. Bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó nòng cốt là lực lượng vũ trang.

Xem đáp án

Lời giải:

- Đúng: A, B, E, G, H, K.

- Sai: C, D, I.

14. Tự luận
• 1 điểm

Tìm từ hoặc cụm từ phù hợp để hoàn thành các đoạn thông tin dưới đây về các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 - 1975 đến nay.

3.1.Sau khi lên nắm quyền ở... (1), tập đoàn Pôn Pốt đã thi hành chính sách cực kì phản động, tăng cường thù địch chống phá Việt Nam. Từ tháng 4 - 1977, tập đoàn... (2) tiến hành nhiều vụ tấn công vũ trang dọc biên giới phía... (3), cắt đứt quan hệ ngoại giao, tàn sát nhân dân Việt Nam bằng những hình thức dã man. Đảng và Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần đề nghị hai bên cùng đàm phán để giải quyết bằng con đường hòa bình, thương lượng, nhưng đều bị từ chối. Trước tình hình đó, quân dân Việt Nam đã đánh trả mạnh mẽ, nhanh chóng chuyển sang tiến công, đánh đuổi lực lượng xâm lược Pôn Pốt ra khỏi Việt Nam đồng thời giúp đỡ nhân dân Campuchia khỏi nạn... (4).

3.2.Với hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 - 1975, Việt Nam đã bảo vệ được chủ quyền dân tộc và toàn vẹn... (1), tạo điều kiện để tiếp tục sự nghiệp xây dựng... (2) trên phạm vi cả nước. Đồng thời, quân... (4) Việt Nam cũng làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân... (3), tích cực góp phần bảo vệ độc lập dân tộc và hòa bình ở khu vực và thế giới.

Xem đáp án

Lời giải:

♦ Yêu cầu số 1: Điền thông tin:

(1) Campuchia

(2) Pôn Pốt

(3) Tây Nam

(4) diệt chủng.

♦ Yêu cầu số 2: Điền thông tin:

(1) lãnh thổ

(2) chủ nghĩa xã hội

(3) tình nguyện

(4) Campuchia.

15. Tự luận
• 1 điểm

Ghép thông tin ở cột A với thông tin ở cột B cho phù hợp với nội dung về cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sau tháng 4 - 1975.

Ghép thông tin ở cột A với thông tin ở cột B cho phù hợp với nội dung về cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sau tháng 4 - 1975. (ảnh 1) 

Xem đáp án

Lời giải:

Ghép nội dung theo thứ tự sau:

1 - c

2 - a

3 - g

4 - b.

16. Tự luận
• 1 điểm

Lập sơ đồ tư duy về những bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay. Theo em, bài học nào là quan trọng nhất? Vì sao?

Xem đáp án

Lời giải:

♦ Yêu cầu số 1: Sơ đồ tư duy

 Lập sơ đồ tư duy về những bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay. Theo em, bài học nào là quan trọng nhất? Vì sao? (ảnh 1)

♦ Yêu cầu số 2:

- Lựa chọn: bài học về sự củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

- Lí do: Trong các cuộc kháng chiến, chính sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc đã giúp chúng ta đánh thắng những kẻ thù hùng mạnh nhất với trang bị vũ khí hiện đại nhất. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, những bài học lịch sử về củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàn dân,... vẫn giữ nguyên giá trị. Cốt lõi và chiều sâu của bài học lịch sử này là sự kiên định, sáng tạo trong thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi đây chính là nhu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ bao trùm, xuyên suốt, nhất quán có tính "sống còn" của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, trong đó sức mạnh dân tộc - sức mạnh nội lực vẫn phải là chủ yếu.

17. Tự luận
• 1 điểm

Sưu tầm tư liệu từ sách, báo và internet, hãy viết bài giới thiệu ngắn gọn về một cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 - 1975.

Xem đáp án

Lời giải:

(*) Tham khảo: Bảo vệ biên giới phía Bắc: cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc

Ngay từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam. Đến trung tuần tháng 2-1979, Trung Quốc đã điều động tổng cộng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập với tổng số 32 sư đoàn, 6 trung đoàn xe tăng với hơn 500 xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với khoảng 2.000 khẩu pháo... Bên cạnh đó, hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và hơn 900 máy bay được đặt trong tình trạng báo động cao độ. Cũng từ tháng 1-1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang để chuẩn bị cho chiến dịch xâm chiếm dọc biên giới với Việt Nam. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, Trung Quốc đã gây ra hàng trăm vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của Công an; phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc...

 Đồng thời với việc chuẩn bị về binh lực, Trung Quốc đẩy mạnh việc chuẩn bị trên mặt trận ngoại giao, tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao con thoi ở khu vực và thế giới, trong đó đặc biệt là chuyến công du Mỹ vào tháng 1-1979 của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Trong nước, Trung Quốc cũng tiến hành chuẩn bị kỹ lưỡng về tuyên truyền với đỉnh điểm là tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học”. Cuộc chiến xâm chiếm trên toàn tuyến biên giới Việt Nam bùng nổ sáng sớm 17-2-1979 là kết quả của quá trình chuẩn bị, tính toán từ trước của Trung Quốc!

Vào 3 giờ 30 phút rạng sáng 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động 600.000 quân, hơn 500 xe tăng, xe bọc thép, hàng nghìn khẩu pháo các loại tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam dài hơn 1.400km. Hướng tấn công chủ yếu của quân Trung Quốc là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên.

Không ai có thể tin rằng một dân tộc vừa phải trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình lại đi khiêu khích, rồi xâm lược một nước khác, lại là nước lớn hơn, thậm chí là nước đã từng ủng hộ và giúp đỡ to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trước đó, như một số người Trung Quốc nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, thêm một lần nữa, quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Đây là thử thách đầy khắc nghiệt với dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta một lần nữa đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Đối mặt với đội quân xâm lăng từ bên kia biên giới phía Bắc đông tới 60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17-2-1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người. Sự chênh lệch về lực lượng, về vũ khí trang bị là rất lớn. Thế nhưng, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song. Lực lượng ít hơn đội quân Trung Quốc hàng chục lần nhưng quân và dân biên giới đã chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quân đông hơn gấp bội. Sự đánh trả dũng mãnh bảo vệ biên giới của quân và dân ta đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Khoảng 6 vạn quân Trung Quốc đã bị thương vong cùng hàng trăm tù binh bị bắt sống. Thiệt hại nặng nề trên chiến trường, bị dư luận thế giới lên án, Trung Quốc buộc phải rút quân vào ngày 6-3-1979.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc năm 1979 đã khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thế nhưng, để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt này, nhân dân Việt Nam đã phải chịu những tổn thất nặng nề: Hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ thương vong; hàng chục nghìn dân thường bị thiệt mạng. Các thị xã: Cao Bằng, Lạng Sơn, Cam Đường, Lào Cai gần như bị hủy diệt hoàn toàn; tổng cộng có 320 xã, 735 trường học, 41 nông trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 38 lâm trường bị tàn phá; 400 nghìn gia súc bị giết, bị cướp. Khoảng 50% trong tổng số 3,5 triệu người ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống.

Quá khứ bi hùng đó nhắc nhở chúng ta, tất cả các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, phải luôn tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh để đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc. Trên cơ sở đó, có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Nhắc lại sự thật lịch sử về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bên cạnh việc khẳng định sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, còn là dịp để chúng ta tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

18. Tự luận
• 1 điểm

Vận dụng kiến thức đã học, hãy phân tích giá trị thực tiễn của những bài học lịch sử từ các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay.

Xem đáp án

Lời giải:

(*) Tham khảo: Chiến thắng trong các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

- Một là, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm lược của kẻ thù. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi tình huống, vì mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, càng phải dự báo sát tình hình, sớm phát hiện, nhận rõ kẻ thù; xác định, đánh giá đúng đối tượng và đối tác trong từng thời điểm; giữ vững thế chủ động chiến lược, chuẩn bị về tư tưởng, lực lượng, thế trận; sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

- Hai là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, nhất là ở những nơi địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, hải đảo. Việc chủ động, tích cực tham gia xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên, nhất là ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, hải đảo là vô cùng quan trọng. Trong quá trình triển khai cần thấu triệt quan điểm của Đảng về mục tiêu, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, toàn diện cả về tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.

- Ba là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao.

+ Lực lượng vũ trang nhân dân mà nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo trong xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng và củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; không ngừng nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, ngăn ngừa và sẵn sàng đánh thắng các loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù trong mọi hoàn cảnh; kiên quyết không để bị động, bất ngờ, nhất là trước khả năng địch tấn công từ trên không, trên biển; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

+ Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

- Bốn là, nhạy bén nắm bắt tình hình thế giới, khu vực, tăng cường hợp tác, đối ngoại với các nước, nhất là các nước láng giềng. Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của Đảng; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, nhất là với các nước láng giềng, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

19. Tự luận
• 1 điểm

Khai thác tư liệu dưới đây và dự vào kiến thức đã học, hãy viết một đoạn văn (khoảng 300 - 400 chữ) về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

TƯ LIỆU. "Vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng. Chiến sĩ ra sức giữ gìn nước non. Nhà nông ra sức giúp đỡ chiến sĩ. Hai bên công việc khác nhau, nhưng thật ra là hợp tác. Cho nên hai bên đều có công với dân tộc, đều là anh hùng".

(Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, 2011, tr. 134)
Xem đáp án

Lời giải:

- Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

+ Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc.

+ Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

+ Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Trách nhiệm của cá nhân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay:

+ Chăm chỉ, sáng tạo trong học tập, lao động; tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong, sống trong sáng, lành mạnh, tránh các tệ nạn xã hội ;...

+ Tích cực tham gia góp phần xây dựng quê hương bằng những việc làm thiết thực, phù hợp với độ tuổi, khả năng ;...

+ Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tồn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

+ Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu.