Giải SBT Lịch sử 12 KNTT Bài 8. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975) có đáp án
Đề thi

Giải SBT Lịch sử 12 KNTT Bài 8. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975) có đáp án

A
Admin
Lịch sửLớp 1236 lượt thi
23 câu hỏi
1. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hãy xác định chỉ một ý trả lời đúng cho các câu từ 1 đến 17 sau đây.

Ý nào không phản ánh đúng bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam?

Đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất nước nhà.

Mỹ thay chân Pháp dựng lên chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt Việt Nam.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới ngày càng mở rộng.

Mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc - Campuchia đã xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp.

Xem đáp án
Chọn D
2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trong giai đoạn 1954 - 1960, cách mạng miền Bắc Việt Nam thực hiện nhiệm vụ nào sau đây?

Khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội.

Chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ.

Tập trung chi viện cho miền Nam chống “Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ.

Xem đáp án
Chọn A
3. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 1 - 1959) đã thổi bùng phong trào nào sau đây?

Phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Nguỵ mà diệt".

Phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công".

Phong trào Đồng khởi.

Phong trào phá kho thóc.

Xem đáp án
Chọn C
4. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Đối với miền Bắc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9 - 1960) của Đảng đã đề ra nhiệm vụ là

khôi phục kinh tế, hàn gấn vết thương chiến tranh.

thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với trọng tâm là xây dựng chủ nghĩa xã hội.

thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai để mở rộng, phát triển cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội.

tiếp tục tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất để cân đối cơ cấu theo thành phần.

Xem đáp án
Chọn B
5. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Chiến thắng quân sự nào sau đây của quân dân miền Nam đã chứng minh khả năng đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ? 

Đồng khởi.

Ấp Bắc.

Bình Giã.

Vạn Tường.

Xem đáp án
Chọn B
6. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Điểm mới trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 là

cử cố vấn Mỹ đến miền Nam Việt Nam.

trang vị vũ khí cho quân đội miền Nam.

lập “ấp chiến lược” khắp miền Nam.

đem quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến.

Xem đáp án
Chọn D
7. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Điểm chung của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt" và “Chiến tranh cục bộ" do Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam là

chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân cũ.

chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới.

tiến hành chủ yếu bằng quân đội Mỹ.

hành quân “tìm diệt" bộ đội chủ lực của ta.

Xem đáp án
Chọn B
8. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phương án nào sau đây không phải là ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 của quân dân Việt Nam?

Buộc Mỹ phải kí kết Hiệp định Pa-ri và rút quân về nước.

Buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hoa" chiến tranh xâm lược.

Làm lung lay ý chí xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ

Mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Xem đáp án
Chọn A
9. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng tác động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam?

Báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn.

Mỹ buộc phải thay đổi kế hoạch chiến lược.

Mở ra thời kì vừa đánh, vừa đàm.

Mở ra phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ.

Xem đáp án
Chọn C
10. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trong những năm 1969 - 1973, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ triển khai ở miền Nam Việt Nam bằng lực lượng nào là chủ yếu?

Quân đội Sài Gòn.

Quân viễn chinh Mỹ.

Quân đồng minh của Mỹ.

Quân viễn chinh và cố vấn Mỹ.

Xem đáp án
Chọn A
11. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân dân ta đã buộc Mỹ phải

rút hết quân về nước.

thừa nhận thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Kí Hiệp định Pa-ri.

tuyên bố kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Xem đáp án
Chọn B
12. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không" (1972) của quân dân Việt Nam có ý nghĩa nào sau đây?

Buộc Mỹ phải kí kết Hiệp định Pa-ri và rút quân về nước.

Buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hóa” chiến tranh xâm lược.

Làm lung lay ý chí xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Khởi đầu phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ.

Xem đáp án
Chọn A
13. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Sau khi Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã không thực hiện hành động nào sau đây?

Thực thi các điều khoản của Hiệp định Pa-ri.

Tiến hành chiến dịch tràn ngập lãnh thổ.

Liên tiếp mở các cuộc hành quân.

Tiếp tục bình định, lấn chiếm vùng giải phóng.

Xem đáp án
Chọn A
14. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 21 (1973) đã tiếp tục phát triển chủ trương nào đề ra từ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (1959)?

Tiếp tục dùng bạo lực cách mạng, nắm vững thế tiến công chiến lược.

Giương cao ngọn cờ đấu tranh hòa bình.

Tiến hành khởi nghĩa trên khắp miền Nam.

Đấu tranh hòa bình buộc Mỹ thi hành Hiệp định Pa-ri.

Xem đáp án
Chọn A
15. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Thắng lợi nào sau đây đánh dấu mốc kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam?

Trận “Điện Biên Phủ trên không".

Hiệp định Pa-ri được kí kết.

Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Xem đáp án
Chọn C
16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Ý nào không phải là nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước?

Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân dân Việt Nam giàu lòng yêu nước, đoàn kết, chiến đấu dũng cảm.

Sự phối hợp, đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương.

Đế quốc Mỹ chủ động rút quân về nước sau những thất bại trên chiến trường.

Xem đáp án
Chọn D
17. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) để lại bài học nào sau đây cho cuộc chiến tranh giữ nước ở Việt Nam?

Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chống phong kiến và chống đế quốc.

Cần nắm vững nghệ thuật tổng khởi nghĩa tiến lên chiến tranh cách mạng.

Tổ chức toàn dân nổi dậy trên cơ sở khối liên minh công - nông.

Đề ra và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Xem đáp án
Chọn D
18. Tự luận
• 1 điểm

Dựa vào đoạn thông tin dưới đây và kiến thức đã học, hãy xác định câu đúng hoặc sai về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

THÔNG TIN. Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi (1954), đế quốc Mỹ thay chân Pháp ở miền Nam nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam. Nhân dân Việt Nam phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất đất nước. Phong trào Đồng khởi (1959 - 1960) là một bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đưa cách mạng miền Nam vượt qua khó khăn, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Từ năm 1961, đế quốc Mỹ buộc phải triển khai các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới ở Việt Nam. Đế quốc Mỹ lần lượt triển khai các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh". Tuy nhiên, tất cả các chiến lược chiến tranh của Mỹ đều bị đánh bại. Trong đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Hiệp định Pa-ri (1973) được kí kết là những bước ngoặt của cuộc kháng chiến. Sau khi Mỹ rút quân, quân dân Việt Nam đẩy nhanh tiến trình giải phóng miền Nam, giữ vững thế tiến công. Với phương châm: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.

A. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.

B. "Chiến tranh đặc biệt" là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng quân đội viễn chinh là chủ yếu.

C. "Chiến tranh cục bộ” được thực hiện từ năm 1961, là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội Mỹ là chủ yếu.

D. Cuộc Tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 của quân dân Việt Nam đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ thừa nhận sự thất bại của “Chiến tranh cục bộ".

E. Triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ tăng cường đưa quân đội viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

G. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (1972) và Hiệp định Pa-ri (1973) được kí kết đánh dấu bước ngoặt của cuộc kháng chiến, nhân dân Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ “đánh cho Mỹ cút".

H. Nhiệm vụ của cách mạng giai đoạn 1973 - 1975 là phá thủ đoạn mới lập "ấp chiến lược" của đối phương, giành dân, giành đất.

I. Phương thức chủ yếu để giải phóng miền Nam là đấu tranh hòa bình, giương cao tính chính nghĩa của dân tộc.

K. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, phương châm của quân đội Việt Nam là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng.

Xem đáp án

Lời giải:

- Đúng: A, D, G, K.

- Sai: B, C, E, H, I.

19. Tự luận
• 1 điểm

Tìm từ hoặc cụm từ phù hợp để hoàn thành các đoạn thông tin dưới đây về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

(1954 - 1975).

3.1.Phong trào... (1) thắng lợi đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công; chấm dứt thời kì ổn định tạm thời của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của... (2) ở miền Nam; mở ra thời kì khủng hoảng triền miên của chính quyền Sài Gòn cho đến tận ngày sụp đổ cuối cùng. Từ thế đấu tranh chính trị là chủ yếu, ta chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh... (3), đập tan từng mảng... (4) địch ở nông thôn, giành quyền làm chủ. Phong trào Đồng khởi ở nông thôn đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh ở thành thị. Từ Đồng khởi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.

3.2.Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi do có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối đúng đắn, sáng tạo. Đó là đường lối đồng thời tiến hành... (1) ở miền Bắc và... (2) ở miền Nam, phát triển không ngừng nghệ thuật... (3), kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao, kết hợp một cách đúng đấn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nhân dân Việt Nam giáu lòng yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm tạo nên sức mạnh để chiến thắng. Cuộc kháng chiến thắng lợi còn do có sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ nhau chống kẻ thù chung của... (4); sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới, nhất là... (5); phong trảo phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới.

Xem đáp án

Lời giải:

♦ Yêu cầu số 1: Điền thông tin

(1) Đồng khởi

(2) Mỹ

(3) vũ trang

(4) chính quyền.

♦ Yêu cầu số 2: Điền thông tin

(1) cách mạng xã hội chủ nghĩa

(2) cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,

(3) chiến tranh nhân dân

(4) nhân dân ba nước Đông Dương

(5) các nước xã hội chủ nghĩa.

20. Tự luận
• 1 điểm

Hãy lập và hoàn thành bảng tóm tắt (theo gợi ý dưới đây) về các chiến lược chiến tranh mà Mỹ đề ra và thực hiện trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

 Hãy lập và hoàn thành bảng tóm tắt (theo gợi ý dưới đây) về các chiến lược chiến tranh mà Mỹ đề ra và thực hiện trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. (ảnh 1)

Xem đáp án

Lời giải:

Chiến lược chiến tranh

Thời gian

Thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Các thắng lợi quân sự tiêu biểu của quân dân miền Nam

Chiến tranh

đặc biệt

1961 - 1965

- Tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn;

- Dồn dân lập “ấp chiến lược”;

- Sử dụng các chiến thuật mới: “trực thăng vận” và “thiết xa vận”;

- Mở các cuộc hành quân càn quét lực lượng cách mạng.

- Phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.

- Ấp Bắc (1963);

- Bình Giã (1964);

- An Lão (1965);

- Ba Gia (1965);

- Đồng Xoài (1965);

Chiến tranh

cục bộ

1965 - 1968

- Tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn;

- Mở các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định”.

- Mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.

- Vạn Tường (1965).

- Hai mùa khô (1965 - 1966 và 1966 - 1967).

- Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968).

Việt Nam hóa

chiến tranh

1969 - 1973

- Tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn;

- Mỹ từng bước rút quân về nước (“thay màu da trên xác chết”).

- Hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô để hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với Việt Nam.

- Tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai.

- Mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Đông Dương

- Đánh bại cuộc hành quân xâm lược Campuchia (1970).

- Đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào (1971).

- Tiến công chiến lược năm 1972;

21. Tự luận
• 1 điểm

Ghép thông tin ở cột A với thông tin ở cột B cho phù hợp với ý nghĩa của các chiến thắng quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).

Ghép thông tin ở cột A với thông tin ở cột B cho phù hợp với ý nghĩa của các chiến thắng quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). (ảnh 1)

Xem đáp án

Lời giải:

Ghép nội dung theo thứ tự sau:

1 - b

2 - e

3 - c

4 - d.

22. Tự luận
• 1 điểm

Bằng thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1954 - 1975), em hãy làm rõ nhận định trong tư liệu dưới đây.

TƯ LIỆU. "Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

(Theo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ IV, NXB Sự thật, 1977, tr. 27 - 28)

Xem đáp án

Lời giải:

- Ý nghĩa trong nước:

+ Kết thúc 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược, 30 năm chiến tranh cách mạng, chấm dứt ách cai trị của chủ nghĩa đế quốc.

+ Thắng lợi đó mở ra thời kì mới cho lịch sử Việt Nam: cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Ý nghĩa quốc tế:

+ Làm tăng thêm sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

+ Thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc.

+ Góp phần vào cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các nước trên thế giới tiến lên, góp phần vào cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các nước trên thế giới.

+ Thắng lợi của cách mạng Việt Nam có tác động trực tiếp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân trên bán đảo Đông Dương.

23. Tự luận
• 1 điểm

Hãy sưu tầm tư liệu từ sách, báo, internet,... để xây dựng bài giới thiệu (theo ý tưởng của em) về một trong hai chủ đề sau:

7.1.Một sự kiện hoặc nhân vật lịch sử tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).

7.2.Một phong trào phản chiến, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược trên thế giới.

Xem đáp án

Lời giải:

(*) Lựa chọn: thực hiện chủ đề 1.

(*) Tham khảo: Liệt sĩ - Bác Sĩ Đặng Thùy Trâm: Sáng mãi ngọn lửa tuổi hai mươi

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ra trong một gia đình tri thức ở Huế, lớn lên tại Hà Nội. Bố là ông Đặng Ngọc Khuê (Huế), bác sĩ ngoại khoa; mẹ là bà Doãn Ngọc Trâm (Quảng Nam), giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Gia đình của Liệt sĩ - Bác sĩ Đặng Thùy Trâm có 4 người con gái tên Trâm, trong đó Đặng Thùy Trâm là chị cả, sau lần lượt là 3 cô em gái: Phương Trâm; Hiền Trâm và Kim Trâm.

Tuổi thơ của Đặng Thùy Trâm trải qua thời kỳ khốn khó trong những năm kháng chiến. Là người yêu thích văn học, Đặng Thùy Trâm đọc nhiều sách, thuộc nhiều thơ, bị ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách của các nhân vật lý tưởng trong văn học như Pavel Korchagin trong 'Thép đã tôi thế đấy', Ruồi trâu... Đó là những nhân vật mà chất lý tưởng luôn rừng rực trong trái tim tuổi thanh xuân của họ.

Tháng 4/1952, Đặng Thùy Trâm được kết nạp vào Đội Thiếu niên tháng Tám, đến tháng 9/1952, Đồng chí được bầu vào Ban Chỉ huy đội thôn Duy Tình, Hậu Lộc, Thanh Hóa. Năm 1955 - 1957, Đồng chí theo gia đình về thị xã Thanh Hóa và học tập tại Trường Lam Sơn. Từ tháng 9/1952 cho đến năm 1957, Đặng Thùy Trâm được bầu vào Ban Chỉ huy đội Thiếu niên. Năm 1958, gia đình Đặng Thùy Trâm chuyển ra Hà Nội, Đồng chí học cấp 3 tại Trường Chu Văn An. Ngày 1/4/1960, Đồng chí được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động tại Chi đoàn lớp 9C của Trường. Niên khóa 1960-1961, Đồng chí được công nhận là Đoàn viên ưu tú của Trường Chu Văn An.

Trong thời gian học tập ở trường phổ thông, Đặng Thùy Trâm được khen thưởng rất nhiều lần. Cuối niên khóa 1955 - 1956 và niên khóa 1956 - 1957, hai lần, Đồng chí được nhà trường tặng giấy khen về công tác văn nghệ. Niên khóa 1958 - 1959, Đồng chí được Sở Giáo dục Hà Nội tặng bằng khen về công tác bổ túc văn hóa. Cuối niên khóa 1959 - 1960, Đặng Thùy Trâm tiếp tục được tặng giấy khen về thành tích học tập và công tác. Cuối niên khóa 1960 - 1961, Đoàn trường khen: Đoàn viên ưu tú.

Năm 1961, nối nghiệp gia đình, Đặng Thùy Trâm thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Suốt thời gian học ở trường, Đồng chí luôn tích cực học tập công tác, xung phong gương mẫu thực hiện công tác của trường, lớp và Chi bộ. Tháng 4/1965, Đặng Thùy Trâm được công nhận là quần chúng tích cực của Đảng, tháng 2/1966, Đồng chí được công nhận là đối tượng bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng của Chi bộ Y5 CKB.

Từ năm 1961 đến 1966, đồng chí Đặng Thùy Trâm được nhà trường tặng giấy khen về thành tích học tập, hai lần Đồng chí được Đoàn trường tặng bằng khen Đoàn viên ưu tú, tặng huy hiệu “Đoàn viên Điện Biên Ấp Bắc” và huy hiệu “Đoàn viên Thanh niên 3 sẵn sàng”. Ngoài ra, 2 lần Đồng chí còn được Trường Đại học Y khoa tặng bằng khen Sinh viên tiên tiến và một lần khen vì “Tích cực học tập và công tác”.

Tháng 6/1966, với những thành tích học tập và hoạt động xuất sắc, đồng chí Đặng Thùy Trâm được Trường Đại học Y khoa Hà Nội cho tốt nghiệp sớm hơn một năm với tấm bằng hạng ưu. Sau khi tốt nghiệp, Đồng chí tình nguyện vượt Trường Sơn vào công tác tại chiến trường Quảng Ngãi. Lúc này nếu ở Hà Nội, đồng chí Đặng Thùy Trâm có thể tìm được cho mình một công việc tốt theo đúng ngành nghề. Nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam ruột thịt, người con gái Hà Nội ấy đã xung phong vào miền Nam, nơi những chiến sĩ đang chiến đấu ác liệt nhất, anh dũng nhất.

Tháng 3/1967, vừa vào đến Quảng Ngãi, đồng chí Đặng Thùy Trâm được phân công phụ trách Bệnh xá Đức Phổ, Quảng Ngãi - thực chất đây là một bệnh xá tiền phương. Từ tháng 4/1967 đến tháng 5/1970, đồng chí Đặng Thùy Trâm là Bệnh xá trưởng Bệnh xá Đức Phổ. Suốt thời gian ấy, Đồng chí đã cùng với các đồng nghiệp đã cứu chữa cho hàng nghìn thương binh và nhân dân Đức Phổ; đã lăn xả vào cứu chữa thương binh, chăm sóc thương binh, tổ chức cho đơn vị di chuyển thương binh, di chuyển địa điểm để chống càn, đi công tác xuống cơ sở.

Với những cống hiến, ngày 27/9/1968, đồng chí Đặng Thùy Trâm được kết nạp vào Đảng. Trong bản tự nhận xét của mình, Đồng chí viết: “Tha thiết yêu Đảng, yêu Đoàn. Cần phải nỗ lực nhiều để đền đáp công ơn của Đảng. Đối với bạn, với đồng chí luôn quan tâm giúp đỡ và thực hiện đấu tranh phê bình tốt. Tích cực, có nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm trong công tác. Rèn luyện tu dưỡng thường xuyên”.

Ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Bệnh xá Đức Phổ bị lính Mỹ tập kích và đồng chí Đặng Thùy Trâm anh dũng hy sinh khi chưa tròn 28 tuổi đời. Đặng Thùy Trâm đã ngoan cường chiến đấu như tinh thần của Mariuyt, của Gavơrốt trên chiến lũy thành Paris mà Đồng chí từng ngưỡng mộ.

Sau khi tập kích bắn phá Bệnh xá Đức Phổ, Fredric Whitehurst - một lính Mỹ, tại chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi tìm thấy một cuốn sổ tay được bọc bằng vải, định châm lửa đốt nhưng người thông dịch của ông đã cản: "Đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!". Nghe lời khuyên, người lính Mỹ ấy đã không đốt quyển sổ tay. Đó là cuốn nhật ký của một nữ chiến sĩ, một bác sĩ có cái tên thật đẹp: Đặng Thùy Trâm.

Đồng chí Đặng Thùy Trâm và thế hệ cầm súng của Đồng chí mãi mãi tỏa sáng tuổi 20. Trong cuốn nhật ký ghi ngày 6/1/1970, Đồng chí đã viết: “Hãy rèn giũa phẩm chất của một người Đảng viên nghe Th. (tức là Thùy, đồng chí Đặng Thùy Trâm tự xưng; viết tắt trong nguyên bản). Cuộc đời Th. là một cuốn sổ, những dòng chữ ghi trên đó đẹp như một bài ca nhỏ. Xin Th. hãy ghi tiếp những dòng xứng đáng. Hãy hứa trước tòa án lương tâm đi Th. nhé. Th. sẽ giữ trọn tất cả những gì cao quý của một người Đảng viên, một người trí thức…”.

Trong nhật ký của mình, Đặng Thùy Trâm đã thể hiện một tình yêu rộng lớn, một tình người gắn với lý tưởng sống, lẽ sống của cuộc đời Đồng chí, đó là tình cảm với nhân dân, với đồng đội. Khi đứng lớp giảng bài cho học sinh của lớp y tá sơ cấp, xót thương những đứa em và cũng là đồng đội cùng chiến đấu với mình do hoàn cảnh chiến tranh mà không có điều kiện học tập, đồng chí Đặng Thùy Trâm đã tâm sự: “Mình đến với lớp không phải chỉ vì tinh thần trách nhiệm, mà cả bằng tình thương của một người chị đối với những đứa em đã chịu biết bao thiệt thòi đau khổ vì bọn bán nước nên không tìm đến với khoa học được”. Đồng chí đau đáu lo lắng cho anh em, đồng bào, đồng chí trong suốt những đêm thâu; lòng quặn đau khi bom đạn chiến tranh tàn phá hủy diệt quê hương, giết chóc nhân dân mình. Trong một bài thơ, đồng chí Đặng Thùy Trâm đã từng viết:

“Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió

Mưa đan dày trùm cả rừng cây

Nghe gió mùa đông bắc thổi về đây

Lòng bỗng thấy nhớ thương da diết.

Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết

Tôi nghĩ gì trong giá lạnh chiều nay

Chiều nay…

Ai đi giữa hàng cây

Trên những con đường thênh thang của trái tim Tổ quốc.

…

Ai biết chăng dù ta có chết

Cho ngày mai, cho đất nước tự do

Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ

Và trọn vẹn cả tình thương chung thủy…”.

Sinh ra và lớn lên trong gia đình êm ấm, tràn ngập yêu thương, nhưng người bác sĩ trẻ Đặng Thùy Trâm đã dũng cảm dấn thân nơi chiến trường bom đạn, vì nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc, với đồng bào. Trong triền miên nỗi nhớ nhà, vị bác sĩ này vẫn luôn mong ước đến ngày hòa bình, sum họp chỉ để được ngả vào lòng mẹ. Nhưng cô gái đã ngã xuống, không bao giờ thực hiện được ước mơ đơn giản, rất đỗi con người ấy.

Cuối tháng 4/2005, hai cuốn sổ tay là tập nhật ký Đặng Thùy Trâm được viết từ ngày 8/4/1968 đến ngày 20/6/1970 (từ khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ đến 2 ngày trước khi hy sinh) đã được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan Mỹ, lưu giữ sau 35 năm đã được trả lại cho gia đình Bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Sau đó, vào tháng 7/2005, nhật ký của Liệt sĩ - Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập thành sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm, do NXB Hội Nhà Văn Việt Nam phát hành và trở thành một hiện tượng văn học với hơn 400.000 bản được bán. Cuốn sách đã được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng và được báo chí nước ngoài bình luận như một “Nhật ký Anne Frank của Việt Nam”.

Khi còn là học sinh, Đặng Thùy Trâm mơ ước được làm cô giáo dạy văn đưa cái hay, cái đẹp vào tâm hồn trẻ và ví việc đó như sứ mệnh của một kỹ sư tâm hồn. Giờ đây, Nhật ký Đặng Thùy Trâm được thế hệ trẻ trân trọng đón nhận. Đặng Thùy Trâm đã trở thành người kỹ sư tâm hồn và với mỗi chúng ta tâm hồn ấy sống mãi, ngọn lửa từ trái tim đầy nhiệt huyết và yêu thương của cô sẽ còn mãi. Từ khi cuốn nhật ký được biết đến, đã có biết bao cuộc vận động, bao phong trào ý nghĩa được phát động để người trẻ hôm nay học tập và noi gương người con gái Hà Nội kiên cường, bất khuất.

Ghi nhớ công lao của Liệt sĩ - Bác sĩ Đặng Thùy Trâm, năm 2006 Nhà nước ta đã truy tặng Đồng chí danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tên của Đồng chí được đặt cho một trạm xá tại thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Bộ phim Đừng Đốt do Đặng Nhật Minh làm đạo diễn được dựng lên từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm, trong đó đồng chí Đặng Thùy Trâm là nhân vật trung tâm của bộ phim. Ngoài ra, tên của đồng chí Đặng Thùy Trâm còn được đặt cho một con đường ở Quận 8 và một con đường ven sông ở quận Bình Thạnh, TPHCM.

Bài tập 8 trang 46 Bài tập Lịch sử 12 KNTT: Nêu những việc mà em có thể thực hiện để thể hiện lòng biết ơn đối với các thương binh, liệt sĩ và những người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).

Lời giải:

- Những việc mà em có thể thực hiện để thể hiện lòng biết ơn đối với các thương binh, liệt sĩ và những người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975):

+ Tham gia các sự kiện tưởng nhớ: Thường xuyên tham gia các lễ tưởng nhớ và kỷ niệm để tri ân, ghi nhớ đóng góp của thương binh, liệt sĩ và những người có công trong cuộc kháng chiến.

+ Thăm mộ và duy trì khu di tích: Dành thời gian thăm nghĩa trang liệt sĩ và tham gia vào hoạt động duy trì khu di tích, giúp bảo tồn và tôn vinh ký ức lịch sử.

+ Tham gia vào các chiến dịch quyên góp hoặc ủng hộ tài chính cho các tổ chức hỗ trợ thương binh và gia đình liệt sĩ.

+ Sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin và câu chuyện về cuộc kháng chiến, giúp nâng cao ý thức cộng đồng trong việc tri ân các anh hùng, liệt sĩ…