Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 12 (có đáp án) - Đề 7
Đề thi

Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 12 (có đáp án) - Đề 7

A
Admin
VănLớp 1281 lượt thi
6 câu hỏi
Đoạn văn

Phần 1: Đọc hiểu (5,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

Tôi không được sinh ra và lớn lên trong Hà Nội

Hà Nội tự sinh ra và lớn lên trong tôi

Một cây yêu thương xum xuê vòm lá

Cây yêu thương tạc hình Cột Cờ Hà Nội thổi vào hồn tôi phấp phới hai từ “Tổ quốc", rạo rực mỗi lần tôi phóng xe qua

Cây yêu thương mang hình hài phố cũ nắng ngủ quên trên mái ngói nghiêng nghiêng

Hồ Gươm, Hồ Tây, hồ Ngọc Khánh những mặt hồ sóng sánh đổ vào tôi ánh sáng

Di cư vào tôi những đỏ trắng tím hồng của hoa phượng, loa kèn, bằng lăng sen ngát

Du mục vào tôi chợ hoa đêm Quảng Bá những vầng nón lá sáng vầng trăng

Bãi Sông Hồng cong dáng em thiếu nữ mùi hoa sữa vương mềm tóc

Cửa Ô vào đêm mở ra lối nhỏ ảo mờ sương phủ lạc bước người về

Ba mươi sáu phố dẫn về ngực tháp Rùa

Những chiều đổ lá xoã thu về

Dáng người gồng gánh vơi mỏng triền đê

Cuộc sống chảy ngập ngừng hè phố hàng nước chè đầu ngõ quán phở bình dân

Rất xa

Rất gần

Rất thương

Rất lạ. . .

Những hoa những lá những giọng những người

Như dành mình tôi

Để hoá thân tôi.

Tôi không được sinh ra và lớn lên trong Hà Nội

Hà Nội tự sinh ra và lớn lên trong tôi

(Hà Nội, in trong Những ngôi sao hình quang gánh, Nguyễn Phan Quế Mai,

NXB Hội Nhà văn, 2011)

1. Tự luận
1 điểm

Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Xem đáp án

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

2. Tự luận
1 điểm

Trong bài thơ trên, tác giả đã dùng hình ảnh nào làm biểu tượng để chỉ sự lớn lên của Hà Nội “trong tôi”?

Xem đáp án

Hình ảnh được dùng như một biểu tượng để chỉ sự lớn lên của Hà Nội trong “tôi”: cây yêu thương.

3. Tự luận
1 điểm

Tác giả đã diễn tả cụ thể sự “tự lớn lên” của Hà Nội “trong tôi” như thế nào?

Xem đáp án

Tác giả đã diễn tả cụ thể sự “tự lớn lên” của Hà Nội “trong tôi” bằng cách miêu tả sự hình thành một cách tự nhiên những ấn tượng sâu sắc, thân thương về một Hà Nội với các di tích (Cột Cờ Hà Nội, Cửa Ô), những địa danh của Hà Nội (Hồ Gươm, Hồ Tây, chợ hoa đêm Quảng Bá, Sông Hồng), những đặc điểm riêng biệt, thanh lịch, cổ kính.

4. Tự luận
1 điểm

Nêu ngắn gọn ý nghĩa, tác dụng của hai từ “du mục” và “di cư” trong hai dòng thơ sau:

Di cư vào tôi những đỏ trắng tím hồng của hoa phượng, loa kèn, bằng lăng sen ngát

Du mục vào tôi chợ hoa đêm Quảng Bá những vầng nón lá sáng vầng trăng tin

Xem đáp án

Ý nghĩa, tác dụng của hai từ “du mục” và “di cư” trong hai dòng thơ: diễn tả những giá trị vật chất của Hà Nội chuyển hoá, bồi đắp dần thành những giá trị tinh thần, làm giàu cho tâm hồn chủ thể trữ tình.

5. Tự luận
1 điểm

Anh/ chị có ý kiến như thế nào nếu có người cho rằng “Bài thơ Hà Nội của Nguyễn Phan Quế Mai là sự lạm dụng hình thức dẫn đến lời thơ cầu kì, tối nghĩa”?

Xem đáp án

Có thể trả lời theo nhiều cách trên cơ sở bảo đảm những yêu cầu sau:

- Chỉ ra được nét độc đáo về hình thức của bài thơ.

- Nêu được quan điểm (đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần) với ý kiến được nêu trong đề.

- Lí giải lí do nêu quan điểm của bản thân.

6. Tự luận
1 điểm

Phần 2: Viết (5,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

(...)

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? (Nguyễn Bính, trích Tương Tư, Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, Hà Nội, 1986)

 

(...)

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,

Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.

Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!

Gió bao lần từng trận gió thương đi,

– Mà kỷ niệm, ôi, còn gọi ta chi…

(Xuân Diệu, trích Tương tư chiều, Tuyển tập Tự lực văn đoàn, tập III, NXB Hội nhà văn, 2004)

 

Xem đáp án

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

So sánh, đánh giá điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý cần hướng tới:

* Mở bài: Dẫn dắt, nêu khái quát điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ..

* Thân bài:

- Điểm giống nhau:

+ Cùng viết về đề tài tương tư – một trạng thái tình cảm thường xuất hiện khi con người đang yêu.

+ Thể hiện nỗi nhớ da diết, mãnh liệt của chủ thể trữ tình.

- Điểm khác nhau:

+ Nỗi nhớ trong đoạn thơ của Nguyễn Bính mang nặng nỗi niềm trăn trở, băn khoăn. Tình cảm được thể hiện một cách tế nhị, kín đáo. Trạng thái tương tư được thể hiện trong đoạn thơ của Xuân Diệu lại sôi nổi, mãnh liệt, dâng trào. Đây là trạng thái tương tư của một tình yêu rất hiện đại.

+ Về hình thức: thể thơ, nhịp điệu,...

- Đánh giá:

+ Hai đoạn thơ có nhiều điểm tương đồng về đề tài, cảm hứng chủ đạo và khác nhau về hình thức thể hiện.

+ Đây là hai đoạn thơ hay viết về đề tài tình yêu đôi lứa của hai nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại; kết tinh những giá trị nghệ thuật và tư tưởng khi viết về đề tài này.

*Kết bài: Nêu ấn tượng sâu đậm về hai đoạn thơ hoặc khẳng định hai đoạn thơ có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với người đọc, nhất là những người trẻ hiện nay.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

e. Sáng tạo

- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.