Đề thi cuối kì 1 Ngữ văn 11 (có đáp án) - Đề 6
11 câu hỏi
(…) Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.
Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. (…)
Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu
- Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
(Thạch Lam – Trích Nhà mẹ Lê - Truyện ngắn Thạch Lam – NXB Hội Nhà văn 2008)
Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Truyện vừa
Truyện ngắn
Tiểu thuyết
Truyện dài
B. Truyện ngắn
Một số phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản là:
Tự sự, miêu tả
Tự sự, nghị luận
Miêu tả, biểu cảm
Nghị luận, miêu tả
A. Tự sự, miêu tả
Truyện được kể theo ngôi
Thứ nhất
Thứ hai
Thứ ba
Không có ngôi kể
C. Thứ ba
Đề tài của văn bản là gì?
Số phận người nông dân
Hủ tục xã hội
Tình yêu thiên nhiên
Cuộc sống của người trí thức
A. Số phận người nông dân
Đoạn văn bản “ Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo: “Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.”” cho anh/chị hiểu gì về những con người lao động phố chợ:
Họ thích buôn chuyện và có nhiều thời gian rảnh rỗi.
Họ có cuộc sống nghèo khổ, đói rách
Họ sống lạc quan, quan tâm tới những người xung quanh.
Họ sống chật chội, chen chúc ở phố chợ.
C. Họ sống lạc quan, quan tâm tới những người xung quanh.
Từ “gia truyền” được hiểu là
Truyền nhiều đời trong một nhà/ một họ.
Truyền từ nhà này sang nhà kia.
Lưu truyền trong một gia đình nhất định.
Bí quyết được truyền qua nhiều đời.
A. Truyền nhiều đời trong một nhà/ một họ.
Ý nào không nói lên đặc sắc về nghệ thuật của đoạn văn bản trên?
Truyện không có cốt truyện
Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giàu chất thơ.
Có những hình ảnh so sánh độc đáo
Sử dụng nghệ thuật biếm họa, khoa trương
D. Sử dụng nghệ thuật biếm họa, khoa trương
Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết” là?
Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo lối diễn đạt mới mẻ cho câu văn.
Khắc họa rõ cuộc sống đói rách cùng cực của gia đình bác Lê.
Cho thấy sự cảm thương, chia sẻ của nhà văn với cuộc sống của người nông dân.
Cả 3 đáp án trên
D. Cả 3 đáp án trên
Cảm nhận về nhân vật bác Lê trong đoạn văn bản (trình bày bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5-6 câu).
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
- Yêu cầu về nội dung:
HS có thể trình bày theo cách cảm nhận riêng. Nên hướng vào một số ý chính sau sau:
Một người mẹ nghèo, đông con, cả đời vất vả, lam lũ, khổ cực.
Một người mẹ yêu thương, chăm sóc, hết lòng vì con cái.
Hình ảnh tiêu biểu cho số phận của người nông dân lao động nghèo khổ
Thông điệp sâu sắc nhất anh/chị rút ra được từ đoạn văn trên là gì? Vì sao?
- Thí sinh trình bày được 01 thông điệp sâu sắc nhất theo quan điểm cá nhân,
- Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
Một số thông điệp gợi ý:
+ Cần biết sống lạc quan, yêu thương, chia sẻ
+ Cần biết yêu thương, quý trọng gia đình.
+ Sống là không ngừng nỗ lực, cố gắng, ….
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử ở một bộ phận học sinh hiện nay.
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Đảm bảo cấu trúc ba phần: Mở - Thân – Kết.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Viết văn bản nghị luận về tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử ở một bộ phận học sinh
c. Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo các ý sau:
- Tình trạng hút thuốc lá điện tử đang có xu hướng gia tăng và có diễn biến phức tạp ở một bộ phận các bạn học sinh. Nguyên nhân là do thói a dua, đua đòi, thích khám phá; do sự thiếu quan tâm của cha mẹ; quản lí chưa chặt chẽ tại một số Nhà trường…
- Tình trạng này đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây tác động tới sức khỏe, thể chất học sinh; gây ảnh hưởng tới an ninh, trật tự trường học; kéo theo nhiều tệ nạn khác…
- Để giải quyết vấn nạn cần nhiều giải pháp đồng bộ: nâng cao ý thức của các bạn học sinh; tăng cường quản lí của cha mẹ, của Nhà trường, tăng cường các hoạt động tuyên truyền bổ ích, lí thú...
- Liên hệ rút ra bài học cho bản thân.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Diễn đạt sáng tạo, sinh động, giàu hình ảnh, có giọng điệu riêng.




