Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo có đáp án
24 câu hỏi
Đọc ngữ liệu sau:
[...] Cứ đến chủ đề về ơn nghĩa sinh thành thì ngập tràn hộp thư “Thay lời muốn nói” sẽ là những câu xin lỗi ba mẹ từ các bạn trẻ. Là những lời xin lỗi được gửi đến những bậc ba mẹ còn sống. Mà, nội dung của những lời xin lỗi cũng... na ná nhau, kiểu như: “Con biết ba mẹ rất cực khổ vì con... Con biết con đã làm cho ba mẹ buồn rất nhiều. Con xin lỗi ba mẹ”. Xin lỗi, nhưng mình hay gọi đây là “những lời xin lỗi mang tính phong trào ”, và những áy náy ray rứt này là “những áy náy ray rứt theo làn sóng”, mỗi khi có ai hay có chương trình nào gợi nhắc, thì các bạn mới sực nhớ ra. Mà khổ cái, bản thân những lời xin lỗi ấy sợ rằng khó làm người được xin lỗi vui hơn, bởi vì đâu đợi tới chính họ, ngay cả chúng mình là những người làm chương trình đây cũng đều hiểu rằng, có lẽ chỉ vài ngày sau chương trình, cùng với nhịp sống ngày càng nhanh ngày càng vội, cùng với lịch đi học, đi làm, đi giải trí sau giờ học, giờ làm..., những lời xin lỗi ấy sợ rằng sẽ sớm được vứt ra sau đầu; và những cảm giác áy náy, ăn năn ấy sẽ sớm chìm sâu, chẳng còn mảy may gợn sóng. Cho đến khi... lại được nhắc mà sực nhớ ra ở lần kể tiếp. Điều đó, đáng buồn là một sự thật ở một bộ phận không nhỏ những người trẻ, bây giờ.
(Thương còn không hết..., ghét nhau chi, Lê Đỗ Quỳnh Hương, Nxb Trẻ, tr.31-32)
Chỉ ra những nghịch lí trong những lời xin lỗi của các bạn trẻ được nêu trong đoạn trích.
Những nghịch lí trong những lời xin lỗi của các bạn trẻ được nêu trong đoạn trích: Nội dung lời xin lỗi na ná nhau, không xuất phát từ tình cảm chân thành của con cái với đấng sinh thành
- Tâm trạng của người xin lỗi: áy náy ray rứt theo làn sóng, xuất hiện rồi tan biến ngay sau đó.
- Người được nhận lời xin lỗi: khó có thể vui hơn.
Tác giả thể hiện tâm trạng như thế nào trước thực trạng những lời xin lỗi phong trào tràn ngập mỗi dịp làm về chủ đề ơn nghĩa sinh thành?
Trước thực trạng những lời xin lỗi phong trào tràn ngập mỗi dịp làm về chủ đề về ơn nghĩa sinh thành, tác giả thể hiện tâm trạng băn khoăn, lòng ngậm ngùi buồn.
Theo anh/chị, nguyên nhân nào dẫn tới những lời xin lỗi mang tính phong trào và những áy náy ray rứt theo làn sóng trong ứng xử của một bộ phận không nhỏ những người trẻ ngày nay?
Một số nguyên nhân dẫn tới những lời xin lỗi mang tính phong trào và những áy náy ray rứt theo làn sóng trong ứng xử của một bộ phận không nhỏ những người trẻ ngày nay:
- Tâm lí e ngại thể hiện tình cảm của người Á Đông.
- Lối sống hời hợt, thiếu sâu sắc.
- Bị cuốn theo nhịp sống vội vã khiến con người dễ quên đi những việc ân nghĩa.
Gợi ý: Điều quan trọng nhất trong một lời xin lỗi: Sự chân thành; Thái độ hối lỗi...
Ví dụ: Điều quan trọng nhất trong một lời xin lỗi là thái độ chân thành. Vì một lời xin lỗi chân thành cho thấy sự hối lỗi thực sự, tỏ rõ người xin lỗi muốn được cảm thông, tha thứ và muốn khắc phục, sửa chữa lỗi lầm mình mắc phải.
Đọc ngữ liệu sau:
NỖI ĐAU THƯỞ TRƯỚC
(Trích Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)
Thuở nô lệ, thân ta nước mất
Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm
Một đời đau suốt trăm năm
Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!
Giặc cướp hết, non cao biển rộng
Cướp cả tên nòi giống tổ tiên
Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền
Non sông một khúc ruột liền chia ba
Lũ bán nước lột da dân nước
Tan mồ cha cũng rước voi giày
Máu đà nhúng đỏ bàn tay
Biết chi đau đớn cỏ cây đồng bào!
Ôi nhớ những năm nào thuở trước
Xóm làng ta xơ xác héo hon
Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy.
Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!
Con đói lả ôm lưng mẹ khóc
Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi
Kiếp người cơm vãi cơm rơi
Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi!
*
….
Chín năm kháng chiến thánh thần
Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn!
Một dân tộc hai bàn tay trắng
Đồng tâm là chiến thắng thành công
Dân ta gan dạ anh hùng:
Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn
Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc
Tay chém thù, tay sắc như gươm!
Củ khoai, củ sắn thay cơm
Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng
Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát
Trông trời cao mà mát tâm can
* Chú thích:
- Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành ( (1920 - 2002) quê gốc ở làng Phủ Lại thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một nhà thơ tiêu biểu thơ Cách mạng Việt Nam, đồng thời ông còn là một chính khách, một cán bộ Cách mạng lão thành.
Thể thơ và nhân vật trữ tình của văn bản Nỗi đau thuở trước.
- Thể thơ: song thất lục bát.
- Nhân vật trữ tình: người con yêu nước.
Xác định bố cục, nội dung của từng đoạn trong văn bản Nỗi đau thuở trước.
Bố cục, nội dung của từng đoạn trong văn bản Nỗi đau thuở trước.
- Bố cục: 3 đoạn
+ Đoạn 1: Nỗi đau của đất nước có giặc ngoại xâm.
+ Đoạn 2: Nỗi khổ nhục của người dân mất nước.
+ Đoạn 3: Kháng chiến thành công.
Nỗi đau thuở trước đã tái hiện cảnh ngộ nào của đất nước? Hãy phân tích một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu làm rõ cảnh ngộ đó.
- Nỗi đau thuở trước đã tái hiện ảnh ngộ nào của đất nước: Một đất nước không có chủ quyền.
- Phân tích một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu làm rõ cảnh ngộ đó.
Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!/Giặc cướp hết, non cao biển rộng
Cướp cả tên nòi giống tổ tiên/Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền
Non sông một khúc ruột liền chia ba
-> Nghệ thuật tiểu đối, ẩn dụ (Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!)
Vần ( dao – cao; tiên – miền); điệp từ (cướp)
-> Cách ghép nối hai phần song thất và lục bát trong thơ tạo ra sự uyên chuyển, diễn đạt ý nghĩa chân thực, sinh động thảm cảnh đất nước nô lệ mạng sống người dân luôn bị đe dọa, đất nước bị chia cắt, giống nòi suy yếu, tên tuổi đất nước không còn.
- Một dân tộc phải sống kiếp nô lệ lầm than:
Con đói lả ôm lưng mẹ khóc/Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi.
Kiếp người cơm vãi cơm rơi/Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi!
-> Hình ảnh thơ tả thực, giàu sức gợi (con đói lả ôm lưng mẹ, đầu thóc cầm hoa) dòng thơ giàu ý nghĩa khái quát (Kiếp người cơm vài cơm rơi); câu cảm Biết đâu...
-> Diễn tả cuộc sống cơ cực, nỗi đau xót tột cùng của nhân vật trữ tình khi phải chứng kiến cuộc sống lầm than, tăm tối của người dân nước mình.
Đoạn thơ cuối có vai trò như thế nào đối với văn bản? Từ đó nhận xét mạch – cảm xúc, chủ để, bức thông điệp của văn bản Nỗi đau thuở trước.
- Đoạn cuối thể hiện rõ mạch cảm xúc của văn bản: nỗi căm giận quân xuân đớn xót
thương cho cảnh đất nước lầm than là động lực là sức mạnh để làm nên cuộc kháng
chiến (gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn!) để có được ngày tươi sáng (Trông trời
cao mà mát tâm can)
* Nhận xét:
- Mạch cảm xúc của văn bản: đi từ căm giận, đau xót (âm hưởng thơ trầm lăng) đến
niềm vui của ngày kháng chiến thành công (âm hưởng thơ tươi sáng, sảng khoái).
- Chủ đề của văn bản: Qua việc tái hiện cảnh mất nước lầm than, tác giả thể hiện tình yêu nước sâu sắc, niềm tự hào về dân tộc anh dũng, quật cường.
- Bức thông điệp:
+ Đất nước bị xâm lăng, nô lệ, dân chúng phải sống cảnh lầm than.
+ Con người, đất nước bị nô lệ hãy đứng lên tự cứu mình, giải phóng đất nước.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
NGƯỜI PHẢI CHẾT
Lược dẫn: Mọi người tập trung rất đông ở trước Đông Dương đại học đường để chờ đón vị bác sĩ trẻ tài ba Trần Thế Đoàn nhưng đã quá giờ mà chưa thấy anh ta đâu. Có người cho rằng “Anh này có vẻ một danh nhân muốn cho mọi người chờ đợi mình...” Trong số những người đứng chờ ở đó có một phóng viên trẻ tuổi – Lê Phong. Không để ý đến vẻ náo động của đám đông, anh ta cứ đi đi lại lại một cách lơ đãng, thỉnh thoảng đứng lại biên mấy chữ lên một cuốn sổ tay. Rồi lại thản nhiên lững thững đi trong phòng như đi giữa chỗ vắng. Tuy vậy, ai nhận kỹ, cũng thấy đôi mắt anh ta vẫn tinh nhanh và quan sát từng cử chỉ của mọi người, quan sát rất chóng nhưng rất chu đáo. Nét mặt linh động với cái miệng mím lại chốc chốc thoáng qua. Rồi người bác sĩ họ Trần cũng đến, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng trong 3 phút đã diễn ra….
Người thiếu niên bỗng hỏi một câu đột nhiên:
- Lúc nãy ông ở nhà viết một bức thư dài phải không? Ông cần viết đến nỗi chút nữa thì lỡ mất một việc quan trọng là hôm nay có cuộc phát bằng long trọng.
Đoàn kinh ngạc nhìn người thiếu niên thì anh ta tiếp:
- Mà lại vừa nhận được một bức thư lạ, một bức thư làm cho ông bối rối có phải không?
Vẻ kinh ngạc của Đoàn lại càng rõ rệt, nhưng người thiếu niên cứ bình tĩnh nói, tiếng hạ thấp, có ý chỉ riêng Đoàn nghe.
- Thưa ông, bức thư ấy nói những gì, xin ông cho biết.
Bây giờ Đoàn mới trấn định được tâm trí, hỏi lại người thiếu niên:
- Những điều ấy có liên lạc gì với việc ông phỏng vấn tôi?
- Vâng! Không có liên lạc gì, hay chỉ liên lạc ít thôi, nhưng đó là điều rất quan hệ. Thưa ông Trần Thế Đoàn, xin ông nghe tôi và trả lời cho tôi rành mạch. Ông có những kẻ thù ghê gớm toan hại ông, những kẻ thù ấy ông có biết không và nếu biết, ông có rõ được một chút gì về mưu mô của họ không?
Đoàn lúc ấy lại nhìn người thiếu niên một cách rất kỳ dị,chưa kịp đáp thì anh ta lại nói:
- Xin ông cho biết, đó là những điều cực kỳ quan trọng, vì. . .
Đoàn bỗng hỏi:
- Nhưng ông là ai?
- Tôi là phóng viên báo “Thời Thế”.
- Vâng. Nhưng là người... Tên ông là gì?
- Tên tôi là Lê Phong, và là người rất có cảm tình với ông.
- Ông Lê Phong! Tôi vẫn biết tiếng ông... Tôi định đến thăm ông để hỏi những việc riêng và cần ông giúp.
Lê Phong đáp:
- Càng hay, vì những việc riêng ấy chính lúc này là lúc ông nên nói ra.
- Không, tôi không nói ở đây được xin mời ông lại chơi nhà hay chốc nữa ra, tôi sẽ xin đến báo "Thời Thế”. Bây giờ (Đoàn nhìn đồng hồ) bây giờ gần đến giờ rồi, xin lỗi ông. À mà tại sao ông biết?
- Biết gì kia?
- Biết các điều ông hỏi tôi. Ông biết từ bao giờ?
-Vừa rồi.
-...?...
- Vâng. Vết mực ở ngón tay ông, ông viết bức thư dài, ông chưa kịp rửa tay, và đến muộn, còn bức thư mới nhận được, ông nhét nó vào túi áo một cách cũng vội vã đến nỗi để tôi trông thấy mé phong bì nhô lên. . . Còn về những kẻ thù của ông thì tôi cũng vừa mới thấy trong lúc tôi nói chuyện với ông, tôi vẫn để ý đến hai người lạ mặt đứng cách đây ngót 10 thước và nhìn ông một cách hằn học không biết ngần nào. Chúng lẩn xa rồi.
Nhưng tôi vẫn nhận được: một người ăn vận quần áo tím thẫm, đeo kính trắng, quấn phu la tuy trời không rét lắm, còn người kia thì rỗ hoa mặc quần áo màu tro, cao lớn, và cụt một tay.
Đoàn kêu sẽ lên một tiếng:
- Trời ơi! Người cụt tay?
- Vâng cụt tay trái, tay ấn thọc luôn vào túi, nhưng tôi vẫn chú ý nên không giấu được tôi...
Đoàn nhắc đi nhắc lại:
- Người cụt tay? Trời ơi! Tôi hiểu rồi, suốt mấy ngày nay, khi ở trường ra, khi sắp bước vào nhà, khi đi xem chiếu bóng hay ở hiệu cao lâu, lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, tôi thường gặp hắn, tôi cũng chú ý đến cái tay cụt ấy, nhưng tôi không ngờ gì... Đến bây giờ...
Mặt Đoàn tái xanh đi. Chàng hốt hoảng nhìn ra, không trả lời những tiếng chào hỏi của những người bạn qua đấy như trước nữa. Chàng thốt nhiên nắm lấy tay Lê Phong:
- Ông Lê Phong, nếu vậy thì tính mệnh tôi nguy mất, tính mệnh tôi nguy thật, ông... Tôi nhờ ông tìm giúp kẻ thù tôi nhé...ông ngăn cản hộ, tôi biết chỉ ông ngăn cản nổi...
Giọng nói mỗi lúc một thêm van vỉ:
- Vâng, xin ông giúp tôi, ông cứu tôi... Trời! Đến lúc này,việc tôi sắp thành, kết quả gần thấy rồi, mà... Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời tôi, nhưng tôi cũng không được vui mấy.
- Thế ra ông biết cách hành động của kẻ thù đã lâu.
- Tôi biết gì? Có lẽ tôi ngờ thôi... Tôi vẫn ngờ rằng có kẻ muốn hại tôi, nhưng mãi hôm nay, mãi lúc này, tôi mới biết rõ.
-Thế sao ông không đi trình sở Liêm phóng?
- Tôi cũng định thế, nhưng xét ra có điều bất tiện. Ông Lê Phong, ông tìm ra nhé! ông đi bắt ngay hộ hai đứa nhé. Tôi đến điên cuồng lên mất?
Lê Phong ôn tồn nói:
- Đi bắt! Tôi chỉ là người nhà báo... Vả lại chúng nó không ở đây nữa, chúng hẳn tránh xa rồi.
- Ông chắc không?
Lê Phong toan trả lời "Tôi đoán thế”. Nhưng muốn an ủi Đoàn, anh ta nói:
- Chắc. Nhưng ông vẫn phải đề phòng cẩn thận. Bây giờ xin ông cứ yên tâm vào giảng đường vì hình như đến giờ rồi. À quên, ông đứng lại để tôi chụp ông bức ảnh.
Bấm xong bức ảnh. Lê Phong bắt tay người thiếu niên bác sĩ lúc đó vừa có người ra gọi, rồi lững thững đến ngồi lên một cái ghế dài gần cửa, cặm cụi viết lên cuốn sổ tay.
Anh ta vừa viết được cái đầu đề:
- “Một cuộc phỏng vấn vội vàng. Mấy phút cùng thiếu niên bác sĩ Trần Thế Đoàn, một nhà thông thái kỳ dị...”
Bỗng đập tay xuống ghế chép miệng:
- Ồ ngốc chưa ! Vội gì thì vội, nhưng quên không xem bức thư lạ lùng kia thì ngu thực...
Ngẫm nghĩ một lát, lấy đồng hồ xem. Lê Phong toan đứng dậy, nhưng vẫn ngồi yên. Anh tắc lưỡi một cái, rồi viết rất nhanh, vừa viết vừa đưa mắt nhìn mấy người đến chậm vội vã bước vào giảng đường.
Lúc bốn trang giấy nhỏ đã đầy chữ. Lê Phong bước ra ngoài, đến bên một người ghếch xe đạp đợi ở vệ đường, đưa cái "Tin" mới xé ở sổ tay ra cho hắn và dặn:
- Anh về ngay tòa báo, bảo sửa qua bài tôi viết, rồi đăng ngay, cần lắm. Trang nhất, đầu đề rất to, mau lên cho kịp số hôm nay.
Rồi ngoắt quay vào, anh lẩm bẩm nói một cách rất sung sướng:
- Nào! Lê Phong, đem hết sức hết trí ra! Câu chuyện không đến nỗi tầm thường lắm.
Sắp bước lên thang để vào chỗ dành riêng cho các phóng viên, Lê Phong chợt để ý đến một mảnh giấy nhỏ rơi dưới đất. Anh nhặt lên và bất giác kêu lên một tiếng sẽ: “Ô! lạ chưa!”.Trên mảnh giấy có mấy hàng chữ này, lối chữ in hoa, vạch bằng bút chì:
“Lê Phong, anh coi chừng đó, đừng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì”.
(Trích Thế Lữ, Mai Hương và Lê Phong, 1939)
Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên? Cơ sở nào khiến em nhận định như vậy?
- Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên: truyện trinh thám.
- Cơ sở để khẳng định thể loại truyện trinh thám:
+ Đề tài của truyện: Tội ác.
+ Yếu tố cấu thành nên tác phẩm chính là tội ác.
+ Chủ đề: Xoay quanh truyện phá án, tìm ra lí do phạm tội.
+ Nhân vật: Thám tử - Phóng viên (có tài năng đặc biệt), nạn nhân và kẻ tội phạm.
+ Cốt truyện là một câu đố bí ẩn (cần có lời giải đáp: Tại sao X lại phạm tội cố ý giết người).
+ Thủ pháp nghệ thuật: Tạo sự bí ẩn nhằm đánh lạc hướng người đọc; tạo sự sáng tỏ dẫn dắt người đọc đến việc giải đố bí ẩn.
+ Cấu trúc hình học của hình tượng nhân vật: mối quan hệ tam giác giữa cảnh sát – thủ phạm – nạn nhân. Đây là cuộc đấu trí ngang ngửa giữa thủ phạm với chàng phóng viên Lê Phong tài ba.
Thể loại của văn bản có chứa đoạn trích trên? Cơ sở nào khiến em nhận định như vậy?
- Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ ba.
- Nhận xét về tác dụng của việc sử dụng ngôi kể của nhân vật này đối với nội dung câu chuyện:
+ Tạo cái nhìn khách quan về những sự việc xảy ra.
+ Giúp người kể có thể kể linh hoạt nội dung của câu chuyện.
Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là ai? Dựa vào văn bản đọc, em hãy chia sẻ những hiểu biết của mình về nghề phóng viên?
* Nhân vật chính trong đoạn truyện trên là Lê Phong – một phóng viên rất tài ba - một thám tử nghiệp dư tay ngang.
* Những hiểu biết của em về nghề phóng viên:
- Phóng viên là người làm nghề chuyên chụp ảnh, săn tin, xử lý thông tin, viết bài để đăng cho các tòa soạn báo, tạp chí, truyền hình…
- Công việc của phóng viên bao gồm: quan sát, ghi chép, phỏng vấn người đưa tin, viết bài hoặc sáng tạo nội dung về các sự kiện, tin tức quan trọng.
- Để trở thành một phóng viên thực thụ, cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản như sau:
· Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
· Kỹ năng viết bài rõ ràng, xúc tích và mang tính thuyết phục.
· Kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn để thu thập và lấy thông tin từ các đối tượng liên quan.
· Khả năng nghiên cứu và phân tích thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác của thông tin.
· Làm việc dưới áp lực công việc tốt, bởi phóng viên thường phải làm việc dưới áp lực thời gian và khối lượng khá lớn.
· Trung thực, đưa tin đúng nội dung, không xào nấu làm sai sự thật.
· Có khả năng làm việc và phối hợp đội nhóm tốt.
· Cẩn thận, tỉ mỉ, đảm bảo tính chính xác của nội dung cung cấp đến công chúng.
· Không ngại học tập và tiếp thu thêm kiến thức mới.
Theo em nhan đề của văn bản “Người phải chết” đã hướng sự chú ý của độc giả vào câu chuyện ngay từ nhan đề. “Người phải chết” đã bộc lộ tính chất chủ đề của câu chuyện một “tội ác” sắp sửa được thực hiện; kích thích trí tò mò và khả năng phán đoán của người đọc, hé lộ nạn nhân của vụ án này là ai.
Nhân vật thám tử Lê Phong đã thể hiện những đặc điểm gì của nhân vật chính trong truyện trinh thám? Làm rõ ý kiến của em bằng những chi tiết trong văn bản.
* Nhân vật thám tử Lê Phong thể hiện những đặc điểm nổi bật của nhân vật chính trong truyện trinh thám:
- Khả năng quan sát tỉ mỉ.
- Khả năng suy luận logic.
- Kiến thức uyên bác.
- Tư duy độc lập.
- Lòng dũng cảm.
* Các chi tiết tô đậm tài năng của phóng viên tài ba Lê Phong:
+ Nhạy bén với tin tức, nắm bắt và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.
+ Nhìn vết mực trên ngón tay và bức thư trong túi của Trần Thế Đoàn mà biết được anh ta vì phải viết 1 bức thư rất dài nên đến muộn.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Nhìn bức thư nhét vội trong túi áo vị bác sĩ trẻ Thế Đoàn và quan sát thấy có 2 kẻ khả nghi đứng quanh đó mà biết được có kẻ đang muốn ám sát bác sĩ này.-> khả năng quan sát tinh tế, tư duy logic cao, phán đoán chuẩn xác.
+ Hành động ghi chép tỉ mỉ, chụp ảnh chuyên nghiệp, xử lý thông tin và đưa tin nhanh chóng. -> Đây chính là yếu tố cần có của một phóng viên chuyên nghiệp.
+ Hé lộ cho Thế Đoàn biết kẻ cụt tay là tên sát thủ nhằm cảnh báo cho nạn nhân biết mà đề phòng. -> hành động trượng nghĩa.
+ Mảnh giấy đe dọa, ngăn cản Lê Phong “Lê Phong, anh coi chừng đó, đứng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì.” Cho biết tài năng phá án của anh. Anh đã từng nhúng tay tìm ra chân tướng rất nhiều vụ án. Cả nạn nhân và kẻ thủ phạm đều biết rõ khả năng này của anh.
+…
Từ nội dung của câu chuyện, em rút ra bài học gì cho bản thân?
Một số bài học cho bản thân:
+ Biết nhiều quá đôi khi cũng gặp nguy hiểm.
+ Giỏi quá đôi khi cũng gặp họa.
+ Kẻ ác luôn đứng trong bóng tối.
+ Cần học cách bảo vệ bản thân.
+ Cần rèn cho mình khả năng quan sát và tư duy logic để phán đoán tình hình...
+…
Đọc ngữ liệu sau:
Hai Chữ Nước Nhà
Tác giả: Trần Tuấn Khải
Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu Bốn bề hổ thét chim kêu Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình
Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước Chút thân tàn lần bước dặm khơi Trông con tầm tã châu rơi Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:
Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay Trời Nam riêng một cõi này Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!
Than vận nước gặp khi biến đổi Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng Bốn phương khói lửa bừng bừng Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông!
Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn dân gian bỏ vợ lìa con Làm cho xiêu tán hao mòn Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!
Thảm vong quốc kể sao cho xiết Trông cơ đồ nhường xé tâm can Ngậm ngùi khóc đất giời than Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!
Khói Nùng lĩnh như xây khối uất Sóng Long giang nhường vật cơn sầu Con ơi! càng nói càng đau… Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?
Cha xót phận tuổi già sức yếu Lỡ sa cơ đành chịu bó tay Thân lươn bao quản vũng lầy Giang sơn gánh vác sau này cậy con
Con nên nhớ tổ tông khi trước Đã từng phen vì nước gian lao Bắc Nam bờ cõi phân mao Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây
Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái Phận liễu bồ xoay với cuồng phong Giết giặc nước, trả thù chồng Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi
Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến Vì giống nòi quyết chiến bao phen Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên Gươm reo chính khí nước rền dư uy
Coi lịch sử gươm kia còn tỏ Mở dư đồ đất nọ chưa tan Giang san này vẫn giang san Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai? | Con nay cũng một người trong nước Phải nhắc câu Gia, Quốc đôi đường Làm trai hồ thỉ bốn phương Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng
Thời thế có anh hùng là thế Chữ vinh hoa xá kể làm chi! Mấy trang hào kiệt xưa kia Hy sinh thân thế cũng vì nước non
Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ Bước cạnh tranh há dễ nhường ai? Phải nên thương lấy giống nòi Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng
Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục; Thân tự do chiên chúc mà vinh Con ơi nhớ đức sinh thành Sao cho khỏi để ô danh với đời
Chớ lần lữa theo loài nô lệ Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai Đem thân đầy đọa tôi đòi Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?
Sống như thế, sống đê, sống mạt Sống làm chi thêm chật non sông! Thà rằng chết quách cho xong Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!
Huống con cũng học hành khôn biết Làm giống người phải xét nông sâu Tuồng chi gục mặt cúi đầu Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!
Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy Cha khuyên con có bấy nhiêu lời Con ơi! con phải là người Thì con theo lấy những lời cha khuyên
Cha nay đã muôn nghìn bi thảm Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau! Chân mây mặt cỏ rầu rầu Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!
Lời cha dặn khắc xương để dạ Mấy gian lao con chớ sai nguyền Tuốt gươm thề với vương thiên Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu
Gan tráng sĩ vững sau như trước Chí nam nhi lấy nước làm nhà Tấm thân xẻ với san hà Tượng đồng bia đá hoạ là cam công
Nữa mai mốt giết xong thù nghịch Mũi long tuyền lau sạch màu tanh Làm cho đất rộng trời kinh Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!
Nghĩa vụ đó con hay chăng tá? Tính toán sao vẹn cả đôi đường Cha dù đất lạ gửi xương Trông về cố quốc khỏi thương hồn già. |
- Thể loại của văn bản: song thất lục bát.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Bao gồm 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ nối tiếp nhau.
+ Hiệp vẫn ở mỗi cặp: cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vân bằng; giữa hai cặp có vần liền.
+ Chữ cuối câu bảy trên vần với chữ thứ 5 câu bảy dưới, chữ cuối câu bảy dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát. Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo.
Xác định 2 yếu tố trong thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn trích?
Hai yếu tố trong thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn trích:
- Mỗi khổ thơ gồm 2 câu thất (7 chữ) và một cặp lục bát (6, 8 chữ)
- Hiệp vẫn ở mỗi cặp: cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vân bằng; giữa hai cặp có vần liền.
- Nhân vật trữ tình trong văn bản là: người con và cha.
- Họ đang ở trong hoàn cảnh: phải chia ly, người con ở lại còn cha phải đi theo chủ lưu vong ở nước ngoài không có ngày về.
Khổ đầu của bài thơ gợi tả cảnh tượng:
- Không gian đất nước u ám, buồn thảm với sắc màu xám xịt và âm thanh ghê rợn
-> Hiện thực tăm tối, bất an.
- Vần của khổ thơ: Hiệp vẫn ở mỗi cặp: cặp song thất có vẫn trắc, cặp lục bát có vần bằng (đạm - thảm; kêu - khêu).
Tình cảnh đất nước và nỗi lòng của người cha được gợi tả:
+ Tình cảnh đất nước: có giặc ngoại xâm.
+ Nơi đô thị thành tung quách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm hoa xương rừng máu sông!
-> Tác giả sử dụng một số từ ngữ thành tung quách vỡ, bỏ vợ lìa con gợi tả cảnh tượng cụ thể của đất nước có giặc ngoại xâm.
Cách cấu trúc từ ngữ thành tung quách vỡ và hiệp vần trắc (vỡ - vợ) ở 2 câu thất nhấn mạnh, gây ám ảnh về sự tàn phá của chiến tranh, nỗi lầm than của người dân mất nước: bao quanh thành quách từ ngàn đời bị phá hủy, con người bơ vơ, lưu lạc, gia đình vợ con sống trong cảnh ly tán, khắp đất nước chìm trong khói lửa và niềm căm uất.
- Nỗi lòng của người cha: người yêu nước, căm thù giặc.
+ Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dăm khơi
+ Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lắm than nỗi này!
+ Khói Nùng lĩnh như xây khối uất
Sóng Long giang nhường vật cơn sầ
Con ơi! càng nói càng đau...
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?
-> Nghệ thuật ẩn dụ Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước; so sánh nhường xé tâm can diễn tả nỗi lòng của con người yêu nước, đang đau đớn tột cùng và đang bất lực khi nhìn cảnh đất nước bị tàn phá bởi quân xâm lược.
-> Dùng hàng loạt từ ngữ diễn tả cảm xúc, tâm trạng (ngậm ngùi, khối uất; vật cơn sâu, cho xiết, xé) và nghệ thuật nhân hóa (khóc đất giời than), so sánh (Khói Nung lĩnh như xây khối uất/Sóng Long giang nhường vật cơn sâu) diễn tả các trạng thái của tâm hồn không chỉ đau đớn đến vật vã mà còn uất hận bởi chưa thể giết giặc cứu nước.
Người cha đã khuyên con:
- Khuyên con nhớ lời.
+ Đất nước ta nòi giống Lạc Hồng thời nào cũng có anh hùng, hiệp nữ.
+ Đất nước qua nhiều đổi thay suy thịnh nhưng vẫn giữa được đất nước (Trời Nam riêng một cõi này).
+ Đất nước hiện tại đang bị xâm lăng/mất nước đau đớn vô cùng. Nỗi đau mắt nước không kể xiết.
+ Người cha yêu nước, lo lắng cho vận mệnh đất nước (Con ơi! càng nói càng đau.... Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?).
-> Tác giả sử dụng yếu tố của truyền thuyết, lịch sử, câu cảm, câu hỏi tu từ vừa để khích lệ lòng yêu nước, truyền thống anh hùng, vừa để người con thấu cảnh đất nước lầm than mà nuôi ý chí cứu nước.
Xác định chủ đề, cảm hứng, bức thông điệp của văn bản. và cho biết thông điệp đó đã tác động tới cảm xúc, nhận thức của em như thế nào?
Xác định chủ đề, cảm hứng, bức thông điệp của văn bản:
- Chủ đề: diễn tả nỗi đau mất nước, căm thù giặc để ngợi ca lòng yêu nước.
- Cảm hứng: thương cảm, căm thù.
- Bức thông điệp: Đất nước có giặc ngoại xâm, dân chúng lầm than sống trong ly tán; Căm thù quân cướp nước; Nuôi ý chí cứu nước.
- Tác động tới cảm xúc, nhận thức của em: HS tự làm (bám sát nội dung văn bản và câu trả lời phù hợp với văn hóa, truyền thống yêu nước của dân tộc ).
"Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò". Chính sự tinh nghịch, hiếu động và non nớt của học sinh đã dẫn đến rất nhiều vấn đề trong giáo dục. Từ những việc nhỏ như ăn quà vặt, chơi điện tử đến sự vụ nghiêm trọng hơn như bạo lực học đường. Một trong số các vấn đề vẫn còn tồn tại đến tận ngày ngay chính là hiện tượng nói chuyện riêng trong giờ. Điều này mới nghe qua thì có vẻ không đáng để tâm, nhưng nó lại mang đến nhiều hậu quả tiêu cực cho chính bản thân người học và cả cộng đồng xung quanh.
Nói chuyện riêng trong giờ là hiện tượng không còn quá xa lạ với con người. Đó là những tiếng thì thầm, những mẩu giấy được truyền tay nhau với nội dung nằm ngoài phạm vi bài học. Thậm chí, có bạn học sinh còn ý thức kém đến mức dám nói chuyện to như chốn không người ngay khi thầy cô đang giảng bài. Đây là một hiện tượng vô cùng tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến không chỉ bản thân người học mà còn làm giảm chất lượng của buổi dạy của thầy cô.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tiêu cực này. Trước tiên chính là do ý thức chấp hành nội quy của người học chưa cao. Học sinh vẫn là những đối tượng cần phải dạy dỗ, chỉ bảo. Có những bạn chưa thực sự ý thức được sự ảnh hưởng mà hành động của mình mang lại. Họ chỉ đơn giản nghĩ là có một câu chuyện hay, một điều thú vị nào đó và muốn chia sẻ với bạn bè mình. Nhưng thay vì chọn giờ ra chơi hoặc lúc tan học, họ lại nói ngay trong tiết học. Một lí do khác cho hiện tượng nói chuyện riêng của học sinh chính là cách quản lí còn lỏng lẻo của thầy cô, nhà trường. Nhiều thầy cô có thấy nhưng lại nhắm mắt cho qua, dần tạo cho học sinh sự chủ quan cũng như thói quen nói chuyện, làm việc riêng trong lớp.
Hiện tượng nói chuyện riêng trong lớp gây ra rất nhiều hậu quả cho mỗi học sinh. Trong một tập thể, một vài cá nhân gây ồn ào, mất trật tự sẽ gây ảnh hưởng đến việc học tập của các thành viên khác. Điều này còn tạo nên những thói quen xấu cho người học. Nếu chỉ mải nói chuyện mà không tập trung tiếp thu bài giảng khiến thành tích của người đó ngày càng thụt lùi, giảm sút. Ngoài ra, chất lượng bài dạy của thầy cô ngày hôm đó cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Nếu thử đặt mình vào vị trí của thầy cô - những người đang hăng say giảng bài trên bục, ta sẽ phải thất vọng thế nào khi thấy học sinh bến dưới không chú ý lắng nghe.
Để khắc phục được trình trạng này, cần kết hợp giữa sự cố gắng của mỗi cá nhân và cả tập thể. Mỗi người nên tự giác nâng cao ý thức của bản thân, nghiêm túc chấp hành nội quy trường lớp. Hãy giữ cho trường lớp được văn minh, đem lại môi trường học tập phù hợp nhất cho bản thân và các bạn cùng trang lứa. Bên cạnh đó, thầy cô và nhà trường cần có thêm các biện pháp xử phạt nghiêm khắc với những đối tượng cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến tập thể. Việc giáo dục, bảo ban của phụ huynh cũng góp phần quan trọng giúp hình thành thói quen tốt ở con trẻ.
Có thể khẳng định, việc nói chuyện riêng đã và đang gây ra rất nhiều bất cập đối với giáo dục. Vậy nên mỗi người hãy tự rèn luyện ý thức bản thân, cùng giúp đỡ nhau để tiến bộ trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Điều đó cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà theo hướng tích cực hơn.
Năm nay tôi, được lên lớp 9 bố mẹ giao hẹn nếu năm nay tôi được học sinh giỏi bố mẹ sẽ cho ra biển chơi một tuần. Tôi nhủ thầm sẽ cố gắng học thật tốt để có được chuyến đi chơi đầy hấp dẫn đó. Qua một năm phấn đấu, cuối năm học tôi được công nhận là học sinh giỏi, không những vậy mà còn đứng đầu lớp về thành tích học tập. Bố mẹ tôi vô cùng phấn khởi khi thấy tôi học hành giỏi giang và đúng như lời hẹn, đầu tháng 7 bố đưa cả nhà đi biển.
Chiếc xe bon bon đưa gia đình tôi ra thành phố biển, trước mắt tôi biển hiện ra xanh thẳm, bình yên, từng con sóng bạc đầu nối đuôi nhau nô đùa với bờ cát dài phẳng lặng.
Sau một hồi dập dềnh cùng sóng biển, cả nhà tôi cắm trại trên một hòn đảo nhỏ. Giữa bốn biển mênh mông, đưa mắt nhìn ra xa tôi thấy cảnh vật thật nên thơ, hiền hoà, chợt tôi liên tưởng đến hình ảnh cô Út trong truyện cổ tích Sọ Dừa khi bị dạt vào đảo hoang, vừa nghĩ đến cô Út tôi đã thấy trước mắt có một túp lều nhỏ, xem ra rất sơ sài như mới vừa dựng tạm, và phía ngoài cửa có một cô gái xinh đẹp, dịu dàng đang ngóng về phía xa xa.
- Chào cháu bé! Cháu đi đâu vậy?
- Cháu đi dạo và ngắm biển cô ạ.
- Chắc cô cũng đi du lịch như gia đình cháu?
- Không cô bị lạc vào nơi này đã mấy tuần rồi!
- Cháu thấy cô rất quen, dường như cháu đã gặp cô ở đâu rồi.
- Thế cháu học lớp mấy rồi?
- Dạ. Cháu học lớp 9 rồi cô ạ. Mà cô biết không cháu được đọc rất nhiều truyện cổ tích.
- Thế cháu có thích truyện Sọ Dừa không?
- Cháu thích lắm cô ạ. Và trong các nhân vật đó cháu thích nhất cô út vừa hiền lành vừa tốt bụng. Mà cháu thấy cô giống cô Út lắm hay chính cô là....
- Đúng rồi cháu ạ. Cô đang ở đây chờ thuyền trạng đi sứ về cứu cô.
Ôi thích thật, tôi không thể ngờ lại được gặp cô út ở đây, lại đúng lúc cô đang phải sống cô đơn ngoài đảo vắng. Cô Út quả thật đáng thương.
- Cô ơi! những ngày ở đây cô có buồn không?
Cô út nhìn tôi và nói:
- Buồn và nhớ nhà lắm cháu à! Suốt ngày cô cứ thui thủi một mình hết trong lều lại ra bờ biển ngóng thuyền trạng đi qua. May có hai chú gà làm bạn cũng đỡ đi phần nào.
- Thế cô ăn bằng gì ạ?
- Dạo đầu cô xẻ thịt con cá kình nướng ăn, bây giờ cô bắt cá tươi ở biển làm thức ăn cho qua ngày.
- Cô ơi! Cô có giận hai người chị của mình không?
- Cô cũng giận họ nhưng dẫu sao họ cũng là những người ruột thịt của cô. Cô tin rằng sau này họ sẽ hối hận về việc làm sai trái này. Và chị em cô sẽ hoà thuận, yêu thương nhau như xưa.
- Cô cho cháu hỏi điều này nhé. Sao cô lại đồng ý lấy chàng Sọ Dừa vừa xấu vừa nghèo?
- Bởi cô biết Sọ Dừa là một người tốt và hơn nữa cô tin rằng những người tốt sẽ luôn gặp được nhiều may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống.
- Vậy cháu chúc vợ chồng cô mau chóng đoàn tụ và hạnh phúc.
Tôi vừa dứt lời bỗng thấy ai đó khẽ lay lay vào người, hoá ra là mẹ tôi:
- Mẹ ơi con vừa mơ một giấc mơ tuyệt đẹp!
Mẹ mắng yêu tôi: “Vừa ngồi nghỉ một lát đã ngủ tít rồi”. Tôi mỉm cười sung sướng và kể lại cho mẹ nghe giấc mơ vừa rồi. Nghe xong mẹ nói:
- Ở hiền rồi sẽ gặp lành con ạ. Bây giờ mẹ con ta đi kẻo bố đợi.
Trên đường về trong đầu tôi còn vương vấn mãi hình ảnh cô út hiền lành, dễ thương. Ngoài kia biển như đẹp và nên thơ hơn.
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.
Trong số hàng nghìn di tích lịch sử tại Hà Nội, có hơn 500 di tích đã được xếp hạng, và trong số này, Văn Miếu - Quốc Tử Giám nổi bật lên như một biểu tượng không thể tách rời với sự hình thành của kinh đô Thăng Long dưới triều đại Lý. Đây là một di tích có lịch sử gần nghìn năm, mang quy mô tinh tế và uy nghi, tượng trưng cho Hà Nội và là biểu tượng văn hóa và lịch sử của Việt Nam.
Theo sử sách Đại Việt, vào mùa thu năm Canh Tuất - 1070, Vua Lý Thánh Tông đã quyết định khởi công xây dựng Văn Miếu để tôn vinh các tiền nhân, các học giả và những người đã có đóng góp to lớn cho đất nước. Trong danh sách những người được tôn thờ tại đây, không thể không nhắc đến Khổng Tử - người sáng lập nho giáo phương Đông và Chu Văn An - một trong những thầy giáo nổi tiếng, đạo đức và tri thức của nền giáo dục Việt Nam. Chỉ sau sáu năm, năm 1076, Vua Lý Nhân Tông đã quyết định xây dựng Quốc Tử Giám - một trường đại học Nho học hàng đầu thời bấy giờ, với mục tiêu đào tạo nhân tài cho đất nước. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự lựa chọn đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam trong việc đầu tư và quản lý giáo dục theo mô hình Nho học châu Á.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện nay vẫn lưu giữ 82 tấm bia đá, trên đó ghi tên của 1306 người đã đỗ tiến sĩ trong 82 kỳ thi từ năm 1484 đến năm 1780. Trong số những người này, người đỗ tiến sĩ ở tuổi cao nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang, khi đó đã 82 tuổi. Ngược lại, người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê ở Nam Trực (Nam Định), đỗ trạng nguyên năm Đinh Mùi, tức là năm 1247, khi chỉ mới 13 tuổi. Từ đó, Văn Miếu và Quốc Tử Giám - được xem như trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại suốt đến thế kỷ 19.
Vị trí của Văn Miếu - Quốc Tử Giám tọa lạc trên một khuôn viên rộng hơn 54.000m2, nằm giữa bốn con đường: cổng chính ở đường Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc tiếp giáp đường Nguyễn Thái Học, phía Đông giáp phố Tôn Đức Thắng, và phía Tây là phố Văn Miếu. Khu di tích này được chia thành 5 khu vực. Khu vực 1 bao gồm Văn hồ, cổng tam quan ngoại cùng (cổng lớn) và Văn Miếu môn, với cổng lớn có ba cửa và hai tầng, tầng trên với ba chữ Văn Miếu môn. Khu vực thứ hai bao gồm Đại Trung môn, Thánh Dực môn bên trái và Đạt Tài môn bên phải. Khu vực 3 chứa giếng Thiên Quang (tên có nghĩa là giếng trời trong sáng), với 82 bia Tiến sĩ nằm ở hai hàng, mặt bia hướng về giếng, là một di tích có giá trị đặc biệt. Vượt qua cửa Đại Thành, bạn sẽ vào khu vực thứ 4, nơi có dãy Tả Vu và Hữu Vu, với một dãy đặc biệt giữa là Toà Đại Bái đường, tạo thành một kiến trúc hình chữ U truyền thống. Khu vực cuối cùng là nơi dùng để giảng dạy trong trường Quốc Tử Giám thời Lê, nơi đào tạo nhiều thế hệ người tài "nguyên khí của nước nhà."
Mặc dù đã trải qua nhiều biến động và biến cố trong lịch sử, Văn Miếu - Quốc Tử Giám không còn nguyên vẹn như xưa. Các công trình từ thời kỳ Lý và Lê hầu như không còn tồn tại. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại với sự trang nghiêm và tôn kính của một trường đại học có gần 1000 năm lịch sử của Hà Nội. Đây chính là khu di tích văn hóa hàng đầu và nguồn tự hào của người dân Thủ đô khi nhắc đến truyền thống văn hiến hàng nghìn năm của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

