Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 7 Cánh diều có đáp án
39 câu hỏi
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
THỎVÀRÙA
Ngàyxưa,thỏlúcnàocũngcườimũiconrùavềsựchậmchạp.Nhưngrùa thìdằn lòng trước sựkhoe khoang của thỏ.
Mộthôm, trước đông đủ bá thú, rùathách thỏ chạy thi.Thỏ trả lời:
Ðừngcóđùadai!Bạnkhôngbiếtlàtôicóthểchạycảchụcvòngquanh bạnhay sao.
Rùa mỉm cười:
- Khôngcầnnhiều lời.Muốnbiếtai nhanhthìcứ việcthi.
[...]
Mộtlúcsau,thỏđứnglạiđợirùa,nhântiệndiễuchơichobõghét.Ðợi một lúc mà rùa vẫn chưa tới.Thỏ vừa thiêm thiếp vừa lẩm bẩm:
- Tacứchợpmắtmộttítrênbãicỏnày.Khitrờimátxuốngtasẽchạytiếp cũng chẳng muộn gì!
Thếrồinódạngchân,duỗitay,nhắmmắtngủngonlành.Mộtlúcsau,con rùa ì ạch bò tới.Nóbỏquachỗconthỏđangngủsay,rồiđếnđượcmứccuối.Tiếngreohò náo nhiệt. Lúc đó, con thỏ vừa mở mắt. Biết mình thua cuộc, thỏ xấu hổ trốn vàorừng.
(Sưu tầm)
a. Cho biết thể loại của văn bản trên? Chỉ ra ít nhất một đặc điểm của thể loại đó?
b. Qua truyện “Thỏ và Rùa”, tác giả dân gian gửi gắm những thông điệp ( bài học ) gì?
c. Từ bài học trong văn bản, em rút ra được bài học gì cho bản thân? ( nêu ít nhất hai bài học cụ thể)
a. - Thể loại của văn bản: truyện ngụ ngôn
- Đặc điểm của thể loại:
+ Đề tài là những vấn đề đạo đức, cách ứng xử trong cuộc sống.
+ Được kể ngắn gọn, hàm xúc, bằng văn xuôi hoặc văn vần.
+ Nhân vật có thể là loài vật, đồ vật, cây cối hoặc con người, không có tên riêng.
b. Thông điệp tác giả dân gian gửi gắm qua truyện “Thỏ và Rùa”: Câu chuyện ca ngợi những người có ý chí, quyết tâm, kiên trì, phê phán những kẻ lười biếng, thích khoe khoang, tự cao tự đại. Truyện nhắc nhở những người có tài năng thiên bẩm nhưng đừng kiêu ngạo, khoe khoang, lười biếng bởi sẽ làm ủy hoại bản thân, thay vào đó hãy điềm tình, ý chí, khiêm tốn thì sẽ thành công.
c. Bài học rút ra cho bản thân:
- Bài học rút ra qua nhân vật Rùa: Trong mọi hoàn cảnh con người cần rèn luyện và phát huy ý chí, nghị lực của bản thân. Đồng thời cần không ngừng kiên trì, bền bỉ, nhẫn nại trong mọi công việc. Nhưng cũng phải suy ngẫm ngược lại, dù siêng năng, cẩn thận nhưng quá chậm chạp cũng sẽ phải chịu thua người nhanh và chắc chắn. Trong công việc hàng ngày của chúng ta giữa một người chậm và một người nhanh nhẹn thì chắc chắn người nhanh nhẹn sẽ được trọng dụng nhiều hơn và họ sẽ tiến xa hơn trong sự nghiệp, cũng như trong cuộc sống.
- Bài học rút ra từ nhân vật Thỏ: dù bản thân có tài năng nhưng nếu lười biếng, ngạo mạn, coi thường người khác thì cũng sẽ gặp thất bại. Những người dù nhanh nhẹn nhưng luôn cẩu thả trong suy nghĩ và hành động cuối cùng sẽ bị đánh bại bởi những người siêng năng, cẩn thận, dù bản chất họ chậm hơn rất nhiều.
a. Xác định dấu câu mà em đã được học trong chương trình ngữ văn 7 trong đoạn văn sau. Nêu công dụng của dấu câu đó.
Không cần nhiều lời. Muốn biết ai nhanh thì cứ việc thi.
[...]
Một lúc sau, thỏ đứng lại đợi rùa, nhân tiện diễu chơi cho bõ ghét. Ðợi một lúc mà rùa vẫn chưa tới. Thỏ vừa thiêm thiếp vừa lẩm bẩm:
Ta cứ chợp mắt một tí trên bãi cỏ này. Khi trời mát xuống ta sẽ chạy tiếp cũng chẳng muộn gì!
b. Đặt câu có dấu chấm lửng để liệt kê những biểu hiện của tính kiên trì?
c. Tìm một phó từ trong câu:
“Ta cứ chợp mắt một tí trên bãi cỏ này. Khi trời mát xuống ta sẽ chạy tiếp cũng chẳng muộn gì!”
d. Đặt câu với phó từ em vừa tìm.
a. - Xác định dấu câu: dấu chấm lửng [...]
- Tác dụng: Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt.
b. Đặt câu có dấu chấm lửng để liệt kê những biểu hiện của tính kiên trì:
Những biểu hiện dễ thấy nhất của tính kiên trì là không nản chí trước mọi thử thách, sẵn sàng học hỏi để phục vụ mục đích thực hiện dự định, sẵn sàng thực hiện một công việc lặp đi lặp lại nếu nó có ích cho mục tiêu đã đề ra,...
c. - Phó từ trong câu: sẽ
d. Đặt câu với phó từ: Nếu một người kiên trì với sự lựa chọn của mình, thì người đó sẽ thành công.
Đọc văn bản sau:
CHUYỆN BÓ ĐŨA
Ngày xưa, có ông lão nông dân nọ rất thông minh. Ông rất buồn vì thấy trong gia đình, các con ông hay cãi cọ với nhau. Ông cố khuyên nhủ, nhưng vô ích.
Một hôm, nằm trên giường bệnh, ông gọi các con lại. Ông buộc đũa thành một bó, để trước mặt con. Sau đó, ông truyền cho mỗi đứa đến bẻ bó đũa làm đôi, nhưng không đứa nào bẻ nổi. Cuối cùng, ông cởi bó đũa ra, đưa cho mỗi đứa một chiếc. Ai nấy bẻ gẫy dễ dàng.
Mấy đứa con nhìn nhau, không biết người cha có ý nói gì. Ông già nghiêm nghị bảo:
- Các con yêu dấu! Bây giờ các con còn đoàn kết như bó đũa này thì không kẻ thù nào làm hại được các con. Nhưng nếu các con cứ chia rẽ và cãi vã, thì các con sẽ sớm bị tiêu diệt1.
(158 Truyện ngụ ngôn Aesop, Phan Như Huyên, 1995, http://sites.google.com/sites/158truyenngungonaseop/131---150)- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
- Ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ ba
Xác định nội dung của văn bản.
Nội dung của văn bản: Văn bản là câu chuyện bài học về sự đoàn kết, yêu thương lẫn nhau trong gia đình được người cha thông minh gửi gắm cho các con qua hình ảnh một bó đũa vững chắc không sao bẻ gãy được và một chiếc đũa bẻ gãy dễ dàng.
Xác định tình huống trong truyện. Tình huống ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện đặc điểm nhân vật?
- Tình huống trong truyện: Người cha đưa cho các con cả bó đũa yêu cầu bẻ làm đôi, không ai có thể bẻ gãy; sau lại đưa cho các con từng chiếc đũa riêng lẻ thì họ bẻ gãy dễ dàng. Từ chuyện bó đũa, ông khuyên các con đoàn kết, thương yêu để không bao giờ bị tiêu diệt.
- Tác dụng của tình huống trong việc thể hiện đặc điểm nhân vật: Tình huống truyện đã thể hiện sự từng trải, khôn khéo của người cha trong việc mượn sự yếu ớt của chiếc đũa và sức mạnh của bó đũa để khuyên dạy con.
Bài học rút ra từ văn bản?
Bài học rút ra từ văn bản:
- Đoàn kết làm nên sức mạnh; “ba cây chụm lại thành hòn núi cao”;…
- Sự tương trợ nhau làm nên chỗ dựa vững vàng cho mọi thành viên trong gia đình;...
Em có suy nghĩ gì về hình ảnh người cha trong câu chuyện trên ?
- Suy nghĩ về hình ảnh người cha trong câu chuyện: Đó là một ông lão thông minh, khôn khéo, luôn yêu thương và suy nghĩ cho các con, mong các con nên người, đoàn kết, yêu thương lẫn nhau.
Viết đoạn văn ngắn (7-10 dòng) bày tỏ suy nghĩ của em về ý nghĩa của tinh thần đoàn kết.
Có một câu ngạn ngữ Trung Quốc nói rằng: "Đoàn kết thì sống chia rẽ thì chết". Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh điều đó là một chân lý vô cùng đúng đắn. Đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta từ xa xưa. Đoàn kết là sự hợp tác, chung tay góp sức tạo thành một khối thống nhất cả về tư tưởng và hành động nhằm thực hiện một mục đích chung, mang lại lợi ích cho sự phát triển của tập thể. Đoàn kết là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện ở sự tương trợ, giúp đỡ bằng những việc làm cụ thể, nhất là khi gặp khó khăn, khó khăn. Đoàn kết là tập hợp mọi người thành một khối thống nhất, liên kết chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, cùng làm việc và hỗ trợ nhau giải quyết công việc. Sự kết hợp đó sẽ tạo nên sức mạnh to lớn giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, rào cản về vật chất và tinh thần, đem lại kết quả tốt đẹp cho cuộc sống. Chúng ta phải đoàn kết để bảo vệ hòa bình dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Đọc văn bản sau:
BƯỚM VÀ SÂU
Có một con Bướm vàng xinh đẹp suốt ngày bay lượn, vừa chập chờn hạ cánh đậu xuống cành hoa này đã vội vã bay sang đóa hoa khác.
Vốn tính hay hợm hĩnh, cho nên khi gặp mấy đóa hoa sâu, Bướm giở giọng khinh bỉ, khích bác những con Sâu đang cuốn mình ẩn bên trong.
- Này con Sâu kia, trông chúng bay sao mà tởm thế! Sao bọn bay lại dám ẩn nấp ở trong những bông hoa xinh đẹp, làm cho nó sớm tàn héo như vậy? Trời sinh ra hoa là để cho họ nhà Bướm chúng tao, đâu phải dành cho chúng bay. Thật chúng bay đúng là đồ ăn hại!
Sâu bèn cãi lại:
- Không, anh Bướm ơi. Hoa là chỗ ở của chúng tôi. Chúng tôi đã sinh ra ở đó và lớn lên ở đó. Chính họ nhà Bướm các anh đã hút hết nhụy hoa, làm hoa mau tàn chứ đâu phải tại chúng tôi.
Nghe đến đây, Bướm liền to tiếng ngay:
- Bọn Sâu dơ bẩn kia, không được xấc láo như vậy. Trong muôn loài chúng bay thấy có ai đẹp bằng tao không nào? Chỉ có chúng tao, họ nhà Bướm mới xứng đáng là chủ nhân của các loài hoa, mới có quyền hưởng hương sắc và cả nhụy ngọt của hoa mà thôi.
Sâu nghe giọng kiêu căng của Bướm như vậy, liền ôn tồn bảo:
- Anh Bướm ơi, đừng nên to tiếng như thế nữa. Hãy nhìn lại sau gót mình cái đã. Anh có biết không? Xưa kia anh cũng là Sâu thôi. Cớ sao bây giờ anh lại giở giọng kênh kiệu và khinh bạc chúng tôi như vậy. Bỏ quên dòng giống, gốc gác của mình thì có gì để mà tự phụ, để mà lên mặt dạy kẻ khác.
Bướm không sao cãi lại được, đành im lặng chuồn mất.
Ngạn ngữ có câu: "Thành bướm đừng có quên sâu". Đó là một lời nhắc nhở đáng quý đối với ai mau quên gốc gác của mình. (Theo lời kể của ông Thạch Sao, Chùa Mới, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh)
(Truyệnngụngôn Việt Namchọnlọc - Nguyễn Cừ)
Hãy xác định thể loại và ngôi kể của truyện “Bướm và Sâu”.
- Thể loại: Truyện ngụ ngôn
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba
Liệt kê một số từ ngữ chỉ không gian và thời gian trong truyện“Bướm và Sâu”. Nhận xét về không gian được miêu tả trong truyện “Bướm và Sâu”.
- Từ ngữ chỉ không gian: Cành hoa; đóa hoa; trong những bông hoa xinh đep,...
- Từ ngữ chỉ thời gian: suốt ngày, xưa kia, bây giờ,...
- Nhận xét về không gian được miêu tả trong truyện: không gian trong truyện là không gian thiên nhiên với đầy đủ các loài hoa, bướm, sâu. Đây là không gian tiêu biểu trong truyện ngụ ngôn
Tìm phó từ và cho biết nó bổ sung ý nghĩa gì cho động từ trong câu văn sau: “Chính họ nhà Bướm các anh đã hút hết nhụy hoa, làm hoa mau tàn chứ đâu phải tại chúng tôi.”
- Phó từ: đã
- Phó từ “đã” đứng trước động từ “hút” bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ “hút”.
Xác định tình huống trong truyện “Bướm và Sâu”. Tình huống ấy có tác dụng thế nào trong việc thể hiện đặc điểm nhân vật?
- Tình huống truyện: Vốn tính hay hợm hĩnh, cho nên khi gặp Sâu trong mấy đóa hoa, Bướm giở giọng khinh bỉ, khích bác, chê bai. Bướm đã quên rằng trước khi thành Bướm thì mình cũng là Sâu.
- Tác dụng của tình huống trong việc thể hiện đặc điểm nhân vật: Bộc lộ tác hại trong cách ứng xử sai lầm của nhân vật (Bướm)
Hãy tóm tắt cuộc đối thoại giữa hai nhân vật trong truyện “Bướm và Sâu” và cho biết lời thoại đó đã thể hiện tính cách gì của mỗi nhân vật?
- Tóm tắt cuộc đối thoại giữa hai nhân vật:
Mỗi nhân vật trong truyện nói 02 lượt lời
+ Lời nhân vật Bướm: “Này con Sâu kia, trông chúng bay sao mà tởm thế!... Thật chúng bay đúng là đồ ăn hại!; Bọn Sâu dơ bẩn kia… cả nhụy ngọt của hoa mà thôi.”
+ Lời nhân vật Sâu: “Không, anh Bướm ơi... đâu phải tại chúng tôi; Anh Bướm ơi, đừng nên to tiếng như thế nữa... để mà lên mặt dạy kẻ khác.”
- Tính cách nhân vật được thể hiện qua lời thoại:
+ Bướm xấc láo, hợm hĩnh, kiêu căng, luôn cho mình là trung tâm, quên nguồn gốc xuất thân của mình.
+ Sâu nhẹ nhàng, ôn tồn, hiền hậu, tôn trọng người khác, lời nói sâu cay, thấm thía.
Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 4 - 6 câu) nêu lên bài học cho bản thân từ truyện “Bướm và Sâu”.
Câu chuyện ngụ ngôn ngắn ngủi nhưng ẩn chứa thông điệp sâu sắc về cội nguồn, gốc gác của mỗi người qua câu ngạn ngữ “Thành bướm đừng có quên sâu”. Dù chúng ta khôn lớn, trưởng thành và trở thành bất kì ai, điều đặc biệt không thay đổi là mỗi người chỉ có một quê hương duy nhất. Vì vậy, chúng ta cần khắc ghi nguồn cội của mình, nơi có tổ tiên, ông cha. Đó cũng chính là cách chính ta thể hiện sự biết ơn. Ngoài ra, chúng ta cũng không được xem thường người khác, sống giản dị, chan hòa với mọi người.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị,...
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.
Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ
Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!
Heo may thổi xao xác trong điêm
Không gian lặng im...
Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!
(Mùa thu và mẹ, Lương Đình Khoa)
Tự sự
Miêu tả
Biểu cảm
Nghị luận
C. Biểu cảm
Năm chữ
Tự do
Bốn chữ
Lục bát
Dòng nào sau đây chứa các từ ngữ gợi sự tảo tần và vất vả của người mẹ?
Rong ruổi, chắt chiu, vai gầy, thao thức, rưng rưng
Rong ruổi, chắt chiu, ngọt ngào, thao thức, rưng rưng
Rong ruổi, chắt chiu, vai gầy, mùa thu, rưng rưng
Rong ruổi, chắt chiu, vai gầy, thao thức, lặng im
Dấu chấm lửng trong câu thơ: “Ổi, những trái na, hồng, ổi, thị...” có tác dụng gì?
Tỏ ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết
Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ hay hài hước, châm biếm
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng
Dùng để kết thúc câu cầu khiến
Đọc khổ thơ thứ nhất và cho biết, vị ngọt ngào được tác giả cảm nhận tạo nên bởi điều gì?
Vị trái chín trong vườn
Sự tảo tần, chắt chiu của mẹ
A và B đúng
A và B sai
C. A và B đúng
Đọc câu thơ "Đôi vai gầy nghiêng nghiêng" chúng ta cảm nhận được tình cảm của người viết như thế nào?
Vui sướng, tự hào về mẹ
Hạnh phúc, ấm áp vì có mẹ
Xót xa, thương cảm
Buồn bã, u sầu
C. Xót xa, thương cảm
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”?
So sánh
Nhân hóa
Ẩn dụ
Điệp ngữ
C. Ẩn dụ
Khái quát đầy đủ nội dung bài thơ bằng một câu văn hoàn chỉnh?
Bài thơ thể hiện tình yêu thương của người con đối với người mẹ.
Bài thơ thể hiện tình yêu thương, kính trọng đối với người mẹ tảo tần.
Bài thơ thể hiện tình cảm yêu thương của người con đối với người mẹ lam lũ, tảo tần.
Bài thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương, kính trọng của người con đối với người mẹ tảo tần, giàu đức hi sinh.
D. Bài thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương, kính trọng của người con đối với người mẹ tảo tần, giàu đức hi sinh.
Phần trích thơ nào sau đây có nội dung tương đồng với mạch cảm xúc trong bài thơ trên?
Tóc mẹ trắng như mây ngàn năm cũ
Trôi bồng bềnh qua vết nứt thời gian
(Bình Nguyên Trang)
Áo của mẹ quanh năm mòn gấu
Vạt mồ hôi đậm nhạt theo màu
(Phan Huy Đồng)
Tôi ngồi nhớ mẹ tôi xưa
Mùa xuân đến sớm người chưa thấy về...
(Xuân Đam)
Tiễn mẹ lên tầu chiều rưng tắt
Biết có còn được đón mẹ vào thăm!
(Lê Huy Mậu)
B. Áo của mẹ quanh năm mòn gấu
Vạt mồ hôi đậm nhạt theo màu
(Phan Huy Đồng)
Em hãy chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của hệ thống từ láy được sử dụng trong bài thơ.
- Các từ láy: rong ruổi, lặng lẽ, ngọt ngào, chắt chiu, mong manh, nghiêng nghiêng, xao xác, thao thức, rưng rưng.
- Hiệu quả: các từ láy góp phần giúp người đọc hình dung rõ hình dáng, sự tảo tần và vất vả của mẹ. Đồng thời mô tả, nhấn mạnh cảm xúc, tâm trạng của người con, góp phần diễn tả sinh động và sâu sắc tình cảm của người con dành cho mẹ.
Đọc các câu tục ngữ sau và trả lời câu hỏi:
(1) Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.
(2) Nói người chẳng nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần
(3) Tháng Tám nắng rám trái bưởi.
(4) Không nước không phân, chuyên cần vô ích.
(5) Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn.
(6) Sa chân đỡ lại, sa miệng đỡ không lại.
(Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên) - Nguyễn Thuý Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân, Kho tàng tục ngữ người Việt (tập 1, tập 2), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002)
Trong các câu tục ngữ trên, câu nào không có các tiếng hiệp vần? Em rút ra nhận xét gì từ điều đó?
- Trong các câu tục ngữ đã cho, câu “Sa chân đỡ lại, sa miệng đỡ không lại” không có các tiếng hiệp vần.
- Từ hiện tượng này, ta có thể rút ra: Trong kho tàng tục ngữ, có những câu không có các tiếng hiệp vần.
Nêu một số dấu hiệu về nội dung và hình thức giúp em nhận biết các câu trên đây là tục ngữ.
Một số dấu hiệu nổi bật giúp ta nhận biết các câu đã cho đều là tục ngữ:
a. Về hình thức:
- Các câu thường ngắn. Trong 6 câu, câu ngắn nhất thường có 6 tiếng, câu
dài nhất có 14 tiếng.
- Phần lớn cấc câu đều có những hiệp vần.
- Các câu thường nhịp nhàng, cân đối.
b. Về nội dung:
Câu nào cũng chứa đựng kinh nghiệm của ngừoi xưa về một vấn đề cụ thể nào đó trong đời sống xã hội hoặc tự nhiên.
Về nội dung, các câu tục ngữ trên có thể chia làm mấy nhóm?
Về nội dung các câu tục ngữ có thể chia làm 3 nhóm.
- Kinh nghiệm về thời tiết
- Kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp
- Kinh nghiệm về ứng xử trong đời sống
“Nói người chẳng nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần” - hình thức của câu tục ngữ này có gì khác so với các câu còn lại?
Câu tục ngữ “Nói người chẳng nghĩ đến ta, thử sờ lên gáy xem xa hay gần có hình thức khác các câu còn lại:
- Có số chữ nhiều nhất (14 chữ).
- Nếu ngắt dòng, câu này sẽ có hình thức là một cặp lục bát: Nói người chẳng nghĩ đến ta / Thử sờ lên gáy xem xa hay gần.
Giải thích ý nghĩa của câu “Sa chân đỡ lại, sa miệng đỡ không lại”. Nêu bài học mà em rút ra được từ câu tục ngữ đó.
- Ý nghĩa của câu “Sa chân đỡ lại, sa miệng đỡ không lại!”: câu tục ngữ
đề cập đến việc nói năng của con người. Đi đường, nếu sa sẩy xuống chỗ trũng, thậm chí bị ngã, người ta vẫn có thể đứng dậy đi tiếp. Nhưng trong nói năng, lỡ nói điều gì dại dột, sai trái, nhất là động chạm đến người khác, khó mà chữa lại được.
- Rút ra bài học: luôn cân nhắc cẩn thận khi nói năng.
Hãy tìm một câu tục ngữ có nội dung tương tự câu (2) trên đây và nêu những điểm giống nhau giữa chúng.
- Câu tục ngữ tương tự: Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước, hôm sau người cười.
- Hai câu này có những điểm giống nhau:
+ Về hình thức, cả hai cầu đều có 14 tiếng và có thể ngắt dòng thành cặp lục bát.
+ Về nội dung, cả hai câu đều muốn nói rằng: Trong cuộc sống, ai cũng có ưu điểm, khuyết điểm. Không nên cười nhạo khuyết điểm cửa người khác, vì chính bản thân ta cũng có thể có những điểm đáng chê cười.
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nói quá ở câu tục ngữ “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn.”
Ở câu tục ngữ “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn.”, biện pháp tu từ nói quá được sử dụng ở vế “cấy dày cóc được ăn”. Theo kinh nghiệm của người nông dân, nếu cấy thưa, cây lúa sẽ phát triển mạnh, thân khoẻ, cho bông to, hạt mẩy, năng suất cao (thừa thóc); ngược lại, cấy dày, lúa sẽ phát triển kém, thân không khoẻ, bông nhỏ, hạt lép, năng suất thấp (cóc được ăn). Ở đây, các được ăn được hiểu là không được ăn, đối lập với thừa thóc.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
CÁI CẦU
Cha gửi cho con chiếc ảnh cái cầu
Cha vừa bắc xong qua dòng sông sâu;
Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế,
Con cho mẹ xem - cho xem hơi lâu.
Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghé,
Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ,
Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió,
Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre.
Yêu cái cầu vồng khi trời nổi gió
Bắc giữa trời cao, vệt xanh vệt đỏ,
Dưới gầm cầu vồng nhà máy mới xây
Trời sắp mưa khói trắng hơn mây.
Yêu cái cầu tre bắc qua sông máng
Mùa gặt con đi đón mẹ bên cầu;
Lúc hợp tác từng đoàn nặng gánh
Qua cầu tre, vàng cả dòng sâu
Yêu cái cầu treo lối sang bà ngoại
Như võng trên sông ru người qua lại,
Dưới cầu nhiều thuyền chở đá chở vôi;
Thuyền buồm đi ngược, thuyền thoi đi xuôi
Yêu hơn, cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này ảnh chụp xa xa;
Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mở
Con cứ gọi cái cầu của cha.
(Phạm Tiến Duật, tập thơ Vầng trăng quầng lửa, NXB Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 5 - 6)
Bài thơ kể về một câu chuyện. Đó là câu chuyện gì và người kể là ai?
- Người kể xưng “con”, kể cho mẹ nghe chuyện về những cây cầu sau khi nhận “thư cha” kèm theo bức ảnh chụp cây cầu mà người cha mới xây xong. Cây cầu của cha gợi lên trong người con hình ảnh về những cây cầu gắn với bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương.
Từ “cái cầu của cha” bạn nhỏ liên tưởng đến nhiều cây cầu khác. Hãy liệt kê và nêu hình dung của em về những cây cầu đó.
Từ “cái cầu của cha”, bạn nhỏ liên tưởng đến nhiều cây cầu khác như.
- Cầu tơ nhỏ con nhện bắc để qua chum nước.
- Cầu ngọn gió con sáo bắc để sang sông.
- Cầu lá tre con kiến bắc để qua ngòi.
- Cầu vồng bắc ngang trời khi trời nổi gió.
- Cái cầu tre bắc qua sông máng.
- Cái cầu treo lối sang bà ngoại.
- Cái cầu ào mẹ thường đãi đỗ.
- Hình dung của em: Những cây cầu nối đôi bờ xa cách, giúp những con người, những miền quê gắn gũi nhau hơn. Những cây cầu cũng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Với bạn nhỏ, những cây cầu nhỏ bé cũng là nơi ghi dấu bao kỉ niệm thân thương về gia đình, người thân.
Biện pháp tu từ nào được sử dụng để biểu đạt tình cảm của bạn nhỏ dành cho những cây cầu? Em hãy chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó.
- Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tụ từ điệp ngữ, lặp đi lặp lại từ “yêu” (6 lần).
- Biện pháp tu từ này đã nhấn mạnh tình yêu tha thiết của bạn nhỏ dành cho những cây cầu.
Theo em, bạn nhỏ yêu nhất là cây cầu nào? Vì sao?
Bạn nhỏ yêu nhất là cây cầu trong bức ảnh của cha, là “cái cầu của cha”. Đối với mẹ, đó là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã - cây cầu đóng vai trò và cũng quan trọng: chi viện cho miền Nam kháng chiến. Đối với bạn nhỏ thì đó là cây cầu của cha, do chính cha bắc cho xe lửa chạy qua sông sâu. Điều đó khiến cây cầu vốn xa lạ trở nên gần gũi và thân thương.
Tình cảm của bạn nhỏ đối với những cây cầu thể hiện điều gì?
Tình cảm của bạn nhỏ đối với những cây cầu thể hiện tình yêu, niềm tự hào về cha mẹ, gia đình, quê hương, đất nước.
Hình ảnh người cha và người mẹ xuất hiện trong bài thơ gợi cho em suy nghĩ và cảm xúc gì?
- Hình ảnh người cha xuất hiện trong bài thơ là một người đi xây cầu, góp phần xây dựng Tố quốc. Vì tính chất công việc, vì tinh thần trách nhiệm với công cuộc kiến thiết đất nước, người cha thường xuyên phải xa nhà, Nhưng ông luôn dành tình cảm cho gia đình. Mỗi lần hoàn thành công việc, người cha không quên chia sẻ niềm vui, niềm tự hào với những người thân trong gia định qua những bức ảnh, những lá thư.
- Người mẹ là một nông dân, sống ở nông thôn, nhiệt tình tham gia lao động sản xuất, chẳng quản các công việc đồng áng nặng nhọc của hợp tác xã. Đó cũng là một người mẹ giàu tình yêu thương, luôn chăm lo cho gia đình.
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật của một truyện ngụ ngôn em ấn tượng.
Ếch ngồi đáy giếng là câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Thông qua hình tượng con ếch kiêu ngạo, huênh hoang cùng những tình tiết hài hước, tác giả dân gian gửi gắm được nhiều bài học và thông điệp sâu sắc về cách nhận thức cuộc sống và lối ứng xử của con người trong quan hệ với những người xung quanh.
Con ếch trong câu chuyện là một kẻ huênh hoang, thiếu hiểu biết. Ếch ta sống trong một cái giếng cạn, không gian sống hạn hẹp cùng với những người hàng xóm nhỏ bé là cua, ốc nên ếch ảo tưởng rằng mình là con vật lớn nhất, là chúa tể nơi đây. Hàng ngày ếch cất lên những tiếng kêu ộp ộp khiến các con vật khác phải khiếp sợ, bởi vậy mà ếch càng tỏ ra huênh hoang, coi thường mọi người xung quanh mình. Từ đáy giếng nhìn lên, bầu trời trong nhận thức của ếch cũng chỉ nhỏ như cái vung, điều đó càng làm cho suy nghĩ mình là chúa tể muôn loài của ếch thêm phần chắc chắn. Hình ảnh con ếch kiêu ngạo, thiếu hiểu biết cũng chính là hình ảnh phản chiếu của những con người sống kiêu căng, ngạo mạn, tầm hiểu biết hạn hẹp nhưng không chịu tiếp thu, học hỏi. Luôn cho bản thân là nhất không chỉ làm nảy sinh những ảo tưởng không thật về bản thân mà còn gây ra những hậu quả khôn lường.
Vào một năm trời mưa lớn, nước mưa dâng cao, ếch lần đầu tiên được ra khỏi miệng giếng chật hẹp để ngắm nhìn cuộc sống rộng lớn bên ngoài. Bên ngoài đáy giếng là một thế giới rộng lớn, cảnh vật đều mới lạ, bầu trời cũng to lớn hơn rất nhiều so với nhận thức trước đó của ếch. Thế nhưng, bản tính vốn kiêu ngạo, vốn hiểu biết lại nông cạn nhưng ếch ta vẫn chứng nào tật ấy luôn cho mình là nhất. Khi ra khỏi miệng giếng, ếch đi lại nghênh ngang mà không chút đề phòng, kết quả là bị một con trâu đi ngang qua giẫm bẹp. Có thể nói, kết cục của ếch thật bi thảm, chỉ vừa bước ra khỏi thế giới nhỏ bé nơi đáy giếng thì đã bị giẫm bẹp, thế nhưng đây cũng là kết quả thích đáng cho những kẻ thiếu hiểu biết nhưng lại luôn tỏ ra hơn người, coi thường mọi người, mọi thứ xung quanh.
Đằng sau kết cục thảm thương của con ếch, tác giả dân gian muốn gửi gắm một thông điệp: Thế giới vô cùng rộng lớn nên mỗi người cần không ngừng học hỏi, trau dồi vốn hiểu biết. Nếu chỉ biết kiêu ngạo, không chịu tiếp thu, học hỏi sẽ phải trả cái giá đắt như cái chết của con ếch. Câu chuyện còn là bài học về sự thích nghi với hoàn cảnh sống xung quanh. Khi sống quá lâu trong môi trường nhỏ hẹp mà không có sự kết nối với bên ngoài có thể làm cho nhận thức của con người trở nên hạn hẹp, trì trệ, mất đi khả năng đánh giá khách quan. Bởi vậy, trong cuộc sống hiện đại, chúng ta cần đặt mình trong nhiều mối quan hệ, cần nhìn nhận thế giới bằng con mắt khách quan và tinh thần ham học hỏi để có thể thích nghi và phát triển trong cuộc sống ấy.
Thông qua hàng loạt những ẩn dụ sáng tạo như "con ếch", "bầu trời", "con trâu", truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng đã mang đến cho chúng ta một câu chuyện dân gian thú vị, sâu sắc hơn cả là qua câu chuyện ấy, chúng ta có thêm những bài học quý giá về cách nhận thức, đánh giá sự vật cùng thái độ sống cần có của con người trong cuộc sống.
Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ em yêu thích.
“Mây và sóng” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Ta-go. Bài thơ đã gợi ra cho người đọc cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng. Em bé trong bài thơ được mời gọi đến thế giới kỳ diệu ở “trên mây” và “trong sóng”. Với sự hiếu kỳ của một đứa trẻ, em đã cất tiếng hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”, “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Nhưng khi em bé nhớ đến mẹ vẫn luôn chờ đợi mình ở nhà, em đã từng chối đầy kiên quyết: “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”, “Làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Chẳng có niềm hạnh phúc nào bằng được ở bên cạnh mẹ mặc dù thế giới ngoài kia nhiều hấp dẫn. Để rồi, em bé đã sáng tạo ra những trò chơi còn thú vị hơn của những người “trên mây” và “trong sóng”. Trong trò chơi đó, em sẽ là mây, là sóng tinh nghịch nô đùa; còn mẹ sẽ là vầng trăng, là bờ biển dịu hiền, ôm ấp và che chở con. Những câu thơ giàu tính tự sự và miêu tả nhưng lại góp phần bộc lộ cảm xúc của nhân vật trong bài thơ. Ta-go đã sử dụng trong bài thơ những lời thoại, chi tiết được kể tuần tự, vừa lặp lại vừa biến hóa kết hợp với hình ảnh giàu tính biểu tượng. Bài thơ chính là một câu chuyện cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.

