Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức có đáp án
0 câu hỏi
Đọc kĩ văn bản dưới đây, sau đó trả lời các câu hỏi:
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước đi theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đọc kĩ ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi dưới đây:
VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH
…
Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,
Nước khe cơm ống gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.
Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập loè ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Đâu chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái
Người thì sa nanh sói ngà voi,
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy, có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?
(Trích “Văn tế thập loại chúng sinh” – Nguyễn Du, thivien.net)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
MÓN LẠ MIỀN NAM
Có người đọc cuốn “miếng ngon Hà Nội” của tôi xong, thúc giục:
- Miền Nam nước Việt có nhiều thức ngon lành lắm, sao không sưu tầm lại mà viết thành một cuốn nữa coi chơi?
Tôi bỏ nhà đi lang bạt từ lúc mười bảy tuổi. Đến Sài Gòn dạo đó, tôi đã ăn nem Thủ Đức, thưởng thức phá lấu Lồ Ồ, ăn tóp mỡ nhiễn đường ở Sa Đéc, nếm suông ở Cây mai, thịt bò bảy món Bà Hom, mì Cột đèn Năm ngọn. Rồi đến kỳ này, lại trở về quê ngoại mến thương, tôi đã thưởng thức nhiều món hơn, nhưng thú thực tôi không thấy các món đó có nói lên được cái gì mới mẻ, lạ lùng cho lắm. Có lẽ tô cá Chìa Vôi ngon thực, nhưng lòng còn gởi về cố lý nên cá rô đầm Sét vẫn là hơn, trái su-su mát như da cô gái tuyết trinh, ô hay, sao lại như đăng đắng, mà miếng thịt gà muốn chế hóa cách gì đi nữa cũng vẫn cứ nhạt phèo ?
Mãi đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi khẩu cái. Tự nhiên, không vì lý do gì hết, vào một buổi chiều xuống mầu kia, mình nhìn thấy miếng thịt gà đậm đà hơn, trái su-su thoang thoảng ngọt và con cá Chìa vôi ăn béo mà thơm.
Ồ, tại sao lại thế! Thì ra ngon hay không là tự ở lòng mình. Chưa chắc miếng ngon miền Nam bây giờ khác trước. Nhưng người xa nhà cảm thấy ngon lành khác trước, có lẽ vì bây giờ y nhận thức được lòng thương yêu của những người ở chung quanh rõ rệt, đậm đà hơn trước […]
Thương biết bao là thương, mến chừng nào là mến! Nhưng mến thương sao cho bằng thương mến người vợ miền Nam xót xa người chồng Bắc xa nhà, nay làm món ăn này, mai làm món ăn khác, mong sao cho chồng khuây khỏa được nỗi buồn thiên lý tương tư. Dùng thịt nhiều xót ruột em nấu canh chua cá lóc anh món lạ miền Nam xơi; chạo tôm quận vào mía lau ăn ngọt và bùi; nếu anh mệt thì dùng bát cháo chìa vôi nhé!
Bánh bèo bì ở Bún nổi tiếng là ngon; tô mì Bà Điểm; hủ tíu chợ giữa Mỹ Tho; bánh in Cao lãnh; Nem Tân Hương ăn mịn xớt mà giòn; tôm nướng Tân Thuận Đông vừa thơm vừa ngọt. Gà nhúng hèm ngon nhất là Bình Hòa; con “móng tay” Long Hải; bưởi Tân Triều; măng Lái Thiêu; cam Cái Bè; dừa xiêm Mỹ; dưa hấu Cầu Ngang; con cá nhám rào thịt ngon lừ, ăn mát ruột mà lành; trứng chích, trứng diệt vừa bùi vừa béo; có cô gái theo chồng ra tỉnh mà vẫn còn nhớ mãi nem nướng Đức Hòa, cá cháy Cái Vồn, Măng le Bà Rịa ngon hỡi là ngon!
Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay mặt ra, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kì được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.
Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xả và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp. Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng […]
(Trích “Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966.
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, tinh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đầy sinh thú. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng cũng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người, chưa ai dám nói đến mật bướm.
(Nguyễn Tuân, Tờ hoa )
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
TỰ KHÚC CỦA SÔNG
Một ngày đầu mùa Thu. Từ phố núi, tôi về với mảnh đất cố đô. Con sông dùng dằng chảy trước mặt tôi. Chiếc cầu sáu vài, mười hai nhịp bắc ngang đệm gót cho biết bao nhiêu đời người, bao nhiêu thế hệ đi qua. Tôi dừng chân đứng lại, ngắm đôi bờ man mác buồn – vui. Tôi dừng chân, đứng lại, lắng nghe câu Nam Ai – Nam Bình dìu dặt khoan thai, cất lên trong veo giữa đêm trăng.
Con đò xuôi mái chèo ngày xưa chỉ còn là ký ức tuổi thơ, mỗi lần tôi theo nội về quê hương, làng chài ven biển. Con đò bây giờ, trôi theo dòng Hương thương nhớ bằng tiếng máy nổ. Dẫu thế, con sông vẫn dịu dàng đưa dọc, đưa ngang tiếng đàn, tiếng hát của người ca sĩ xứ Huế. Con sông, vẫn để lại nhiều dư âm khôn nguôi với người xa quê ở tận bốn phương trời.
Chẳng biết, mẹ tôi nặng nợ gì với dòng sông này, nên đều đệm chữ Hương theo sau mỗi cái tên cho các cô con gái của mình. Tôi, mặc nhiên được chọn con sông thơ mộng nhất Huế. Tôi, mặc nhiên mang theo cả những nỗi buồn rơi trên mắt mẹ, đọng lại thành cơn mưa cuối mùa nơi phố núi, theo tháng ngày lớn lên. Tôi, mặc nhiên, xem như đó là định mệnh gắn bó số phận của mình khi trở về với biển, với sông, với nắng mưa dầm dề xứ sở này.
Một ngày đầu thu nào khác. Tôi, bỗng nhớ ra, hình như có núi đang đợi? Chẳng biết, tôi sẽ gắn bó với sông được bao lâu? Chẳng biết, tôi có thực sự cho rằng: Tình yêu với sông là số phận, để ở lại, để mãi mãi trôi theo những vui buồn lênh đênh? Nhưng, chắc chắn, dẫu một ngày nào đó có đổi thay trở về với núi, với đồi, với mùa hoa dã quỳ rộn ràng nở vàng ven đường, và về với ánh mắt hân hoan reo mừng của mẹ, tôi vẫn sẽ nhớ về sông, nhớ về những con đò trôi dọc, trôi ngang mỗi đêm trăng rằm tháng tám.
Trong mắt tôi còn nhiều lắm những khát khao và đam mê. Đôi chân tôi còn muốn được tung tăng, dợm bước khắp chân trời góc bể. Trái tim tôi còn rộng lớn và bao la quá chừng cho những đợi chờ phía trước con đường. Tình yêu tôi còn mênh, còn muốn nhân rộng cho tất thảy mọi sinh linh vạn vật trên đời. Tôi chỉ là con sông tham lam những dòng chảy, muốn được bảo bọc, muốn được ôm trọn trời, muốn quanh co uốn lượn chơi điệu valse tràn đầy yêu thương mãi mãi trên thế nhân này. Tôi chỉ là một con sông bé nhỏ thôi, giữa đời rộng rãi...
(Văn Giáng, https://isach.info)
