Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo có đáp án
46 câu hỏi
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi :
MỘT ĐÁM CƯỚI
Xế chiều hôm ấy, bà mẹ chồng và chồng Dần đến. Cả hai cùng mặc quần áo cánh. Bà mẹ khoác một cái áo nâu dài đã bạc ở trên vai. Chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục quả. Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu. Bà mẹ trông thấy bảo Dần:
- Cho bu mượn cái đĩa đi, con!
Mặt Dần đã đỏ bừng. Hai đứa em nó, trông thấy, cười rúc rích. Nó lợi dụng câu sai của mẹ chồng, để chạy tót ra chái đứng. Một lúc lâu nó cũng không vào. Thầy nó phải đỡ lấy chẽ cau ở tay bà mẹ chồng, đặt lên giường thờ mẹ nó. Rồi thầy nó nói thật to:
- Đi nấu nước đi con!
Không thấy con gái thưa, ông phải bảo thằng con trai lớn:
- Chạy ra bảo chị đun ấm nước.
Rồi ông thân hành đi lấy chìa vôi ra để têm trầu. Bà mẹ chồng có lời ngay:
Thôi thì bây giờ mọi sự ông đã thương cho cháu cả rồi, hôm nay tiện được ngày, tôi cũng biện cơi trầu đến kêu với ông để ông cho cháu được lễ các cụ… rồi xin phép ông để chúng tôi đưa cháu về nhà làm ăn.
Đáp lại bao nhiêu lời bóng bẩy, xa xôi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn thon lỏn một câu:
- Vâng! Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.
Rồi ông lại cất cao giọng, bảo con:
- Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé!
Rồi ông ngồi lử thử. Bởi vì ông buồn lắm. Chỉ lát nữa là người ta rước Dần đi. Đêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi. Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông phải bỏ nốt hai đứa con trai để ngược... Chao ôi! Buồn biết mấy?... Ông đờ đẫn cả người. Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá... Ông buồn quá. Ông đáp lại những câu rất dài dòng của bà thông gia bằng những câu ngắn ngủn [...]
Đến tối, đám cưới mới ra đi. Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái nhà trai [...]
Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai... Nó sụt sịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng. Chú rể dắt đứa em lớn của Dần. Còn thằng bé thì ông bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ...
(Trích Một đám cưới, Nam Cao, Văn học 11, Tập một,NXB Giáo dục, 2000, tr.245-247)
Xác định điểm nhìn trong câu: “Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá...”
Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên trong
Điểm nhìn của người kể chuyện – điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn của kể chuyện – điểm nhìn bên trong
A. Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên trong
Ẩn dụ
So sánh
Nhân hóa
Hoán dụ
Câu văn nào sau đây thể hiện cảnh tượng ảm đạm, tối tăm, tù túng của cảnh đưa dâu một đám cưới nhà nghèo?
Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ
Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai
Đêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi
Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng
A. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ
Tình huống được kể trong đoạn trích là tình huống gì?
Đám cưới trong sự vui vẻ của hai gia đình
Đám cưới khi mẹ Dần đi vắng
Đám cưới khi Dần chưa biết mặt chồng
Đám cưới giữa ngày đói
D. Đám cưới giữa ngày đói
Nhận xét nào sau đây không đúng với đoạn trích Một đám cưới - Nam Cao?
Mang giá trị châm biếm sâu sắc, giàu kịch tính
Là đoạn trích phân tích tâm lí nhân vật đặc sắc
Thể hiện tài năng xây dựng nhân vật của nhà văn Nam Cao
Có giá trị nhân đạo và hiện thực lớn
Qua nội dung đoạn trích trên, tác giả muốn khắc họa điều gì?
Khắc họa hình tượng người phụ nữ Việt Nam tảo tần, vất vả trước Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa cảnh một đám cưới với cỗ bàn linh đình, người đưa rước nhộn nhịp, hai họ hân hoan vui mừng
C. Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nhân hậu, bao dung, vị tha
Khó khăn, tính toán, ích kỉ
Cảm thông, niềm nở, lạc quan
Hoạt bát, nhanh nhạy, vui vẻ
Chua cay, nhẹ nhàng
Hóm hỉnh, hài hước
Trầm buồn, cảm thông
Châm biếm, mỉa mai
C. Trầm buồn, cảm thông
Tiếng sụt sịt khóc của nhân vật Dần ở cuối đoạn trích gợi lên suy nghĩ gì về số phận con người trước Cách mạng tháng Tám?
Số phận hẩm hiu, tủi hờn của của người nông dân bị rẻ rúng, xem thường
Sự bất hạnh của người phụ nữ khi không được quyết định hạnh phúc của mình
Số phận nghèo túng, lay lắt của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Bị áp bức bóc lột đến tàn nhẫn, xem như thân phận người ở khi về nhà chồng
C. Số phận nghèo túng, lay lắt của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nội dung đoạn trích gợi liên tưởng đến tác phẩm nào sau đây?
Vợ nhặt (Kim Lân)
Bến quê (Nguyễn Minh Châu)
Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam)
Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
A. Vợ nhặt (Kim Lân)
Dựa vào đoạn trích nêu lí do vì sao ngày đám cưới của con gái ông bố Dần lại "buồn lắm"?
- Ông bố Dần cảm thấy “ buồn lắm" trong ngày đám cưới của con gái vì: Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ; Dần đi lấy chồng, không ai trông coi vườn đất, nhà cửa, con cái cho ông nữa.
Nêu cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ...
Cảm nhận về hình ảnh: Đám cưới diễn ra trong không khí buồn thảm, ảm đạm, lạnh lẽo, là đám cưới chạy đói, thể hiện tình cảnh thê thảm của người nông dân trước cách mạng.
Đọc văn bản sau:
KÉP TƯ BỀN
(1) Tối đến, cửa rạp Kịch trường đèn thắp sáng trưng như ban ngày, chiếu rõ cái cảnh người đứng lô nhô như luống hoa trăm hồng ngàn tía, bướm ong chờn vờn. Trên thềm, dưới bậc, giữa đường, non nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để đứng ngắm nhau cho đỡ nóng ruột lúc chờ đợi. Tiếng nhạc hòa trong rạp, du dương trầm bổng, chứa chan biết bao tình tứ ái ân, như câu, như kéo, làm cho người ta quên hẳn, mà bất giác moi túi lấy tiền mua vé.
(2) Rồi cái làn sóng người dần dà tràn vào trong. Trên các hàng ghế, chỗ nọ nhắc lại câu bông lơn của kép Tư Bền, chỗ kia bắt chước điệu bộ của kép Tư Bền. Ai nấy đều nóng ruột sốt lòng, mong cho chóng đến giờ mở màn sân khấu, để được cười, được vỗ tay, được học thêm vào lối pha trò mới, để mai làm nhếch mép người yêu.
(3) Vinh dự thay, anh kép Tư Bền! Nhưng mà khốn nạn thân anh! Người ta biết đâu rằng hiện giờ này, ở nhà, cha anh đương dở chứng khò khè, chỉ chờ từng phút để thở một hai hơi nữa làhết nợ, và ở trong buồng trò, anh cũng đương nẫu ruột nhầu gan. Thật vậy, ai ngó vào trong buồng trò mới thấy được cái khổ tâm của anh Tư Bền. Anh ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó, nhưng tay vẫn phải sờ vào hộp phấn hồng để đánh mặt, quệt vào đĩa mực để bôi nhọ cái mồm. Rồi anh phải mặc trái cái áo lụng thụng thêu, lận đôi hia xanh và đội cái cánh mũ chuồn ngược. Anh đóng vai này, trông ra phết giàu sang sung sướng. Chốc nữa, anh còn phải làm cho chủ anh bằng lòng, các bạn anh trông anh mà gắng sức, các khán quan được một phen cười vỡ bụng vỗ rát tay kia mà! Nhưng mà cha anh Tư Bền sắp chết! Ban nãy lúc anh ở nhà ra đi, đã thấy nguy lắm rồi. Thôi! Nhưng mà mặc kệ. Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi lăn ra cả đất chứ?
(Trích Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan)
Tự sự, miêu tả, biểu cảm
Biểu cảm, miêu tả, nghị luận
Nghị luận, miêu tả, tự sự
Miêu tả, thuyết minh, tự sự
Trong đoạn trích, mọi người đến xem kép Tư Bền diễn vì mục đích gì?
Vì: Trên các hàng ghế, chỗ nọ nhắc lại câu bông lơn của kép Tư Bền, chỗ kia bắt chước điệu bộ của kép Tư Bền
Vì: Tiếng nhạc hòa trong rạp, du dương trầm bổng, chứa chan biết bao tình tứ ái ân, như câu, như kéo
Vì: cửa rạp Kịch trường đèn thắp sáng trưng như ban ngày, chiếu rõ cái cảnh người đứng lô nhô như luống hoa trăm hồng
Vì: để được cười, được vỗ tay, được học thêm vào lối pha trò mới, để mai làm nhếch mép người yêu
D. Vì: để được cười, được vỗ tay, được học thêm vào lối pha trò mới, để mai làm nhếch mép người yêu
Hành động
Lời nói
Nội tâm
Ngoại hình
B. Lời nói
Anh kép Tư Bền phải lên sân khấu biểu diễn trong hoàn cảnh như thế nào?
Hoàn cảnh trớ trêu: Cha anh ốm sắp chết, anh phải cố cười vui để diễn cho tròn vai
Hoàn cảnh nhốn nháo: Người đứng xem lô nhô không có tôn ti trật tự
Hoàn cảnh nhộn nhịp: Hàng nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để đứng
Hoàn cảnh vui vẻ, được tán thưởng: Các khách xem cười vỡ bụng, vỗ rát tay
A. Hoàn cảnh trớ trêu: Cha anh ốm sắp chết, anh phải cố cười vui để diễn cho tròn vai
Tâm trạng, thái độ của anh kép Tư Bền trong đoạn (3) là gì?
Sung sướng, hãnh diện vì được tán thưởng
Vui vẻ, hạnh phúc vì mang đến tiếng cười cho khán giả
Đau khổ, dằn vặt, lo lắng, sốt ruột vì cha sắp chết
Bức bối, phẫn nộ vì phải làm vừa lòng người chủ của anh
C. Đau khổ, dằn vặt, lo lắng, sốt ruột vì cha sắp chết
Nhận xét về ngôi kể, điểm nhìn của đoạn trích?
Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn của người kể chuyện
Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn của người kể chuyện
Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn của nhân vật
Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn của nhân vật
A. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn của người kể chuyện
Câu văn “Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi lăn ra cả đất chứ” thể hiện điều gì ở kép Tư Bền?
Thể hiện tình cảnh éo le, bi kịch của anh kép Tư Bền
Anh kép Tư Bền là người con ham tiền, hám danh
Thể hiện niềm vui của anh trong đêm diễn
Anh kép Tư Bền là một người con bất hiếu
Phương án nào sau đây không phải là thành công về mặt nghệ thuật của tác phẩm?
Kết hợp giữa điểm nhìn của tác giả và nhân vật
Kết hợp giữa cái bi với cái hài
Giọng điệu tâm tình, ngôn ngữ giàu chất thơ
Xây dựng tình huống truyện độc đáo
Từ hoàn cảnh trớ trêu của kép Tư Bền trong đoạn trích trên, anh/chị suy nghĩ gì về bi kịch của con người trước Cách mạng tháng Tám?
Bi kịch bị tước đoạt quyền làm người
Bi kịch của kiếp người bị cái nghèo đeo bám
Bi kịch bị mọi người xa lánh, xem thường
Bi kịch khi không thực hiện được hoài bão, ước mơ của mình
Qua nhân vật kép Tư Bền, anh/chị suy ngẫm gì về người nghệ sĩ ?
Họ đã hi sinh bản thân, hoàn cảnh riêng để cống hiến những màn trình diễn trọn vẹn
Họ chỉ cần yêu nghề, không cần quan tâm đến cảm nhận của người khác
Họ sống vì những hào quang mà sân khấu mang lại, thỏa mãn nhu cầu vật chất bản thân
Họ xem sân khấu là nơi dễ trục lợi, chỉ cần mánh khóe sẽ mang lại lợi ích cho mình
A. Họ đã hi sinh bản thân, hoàn cảnh riêng để cống hiến những màn trình diễn trọn vẹn
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
TÔI LÀ BÊ TÔ
“...Ha ha, có chuyện này thật là vui.
Tôi đã thấy chị Ni bị mẹ cho ăn đòn. Tối đó, chị Ni đi chơi với đám bạn học, vui vẻ như thế nào đó mà rốt cuộc tận khuya mới về tới nhà. Tới mười giờ thì ba chị Ni và mẹ chị Ni bắt đầu nôn nóng đi ra đi vô, với tôi chạy lon ton phía sau. Trực giác của loài chó mách cho tôi rằng mọi chuyện đều tốt lành, không có gì phải lo lắng. Nhưng tôi lại chẳng nghĩ ra cách nào xoa dịu nỗi bất an trong lòng họ. Điều duy nhất tôi có thể làm là họ đi ra tôi đi ra, họ đi vô tôi đi vô. Tôi lẽo đẽo làm chiếc đuôi của họ, như chiếc đuôi của tôi đang làm chiếc đuôi của tôi. Chị Ni về nhà lúc mười một giờ hai mươi. Đón chào chị ở ngay cửa là vẻ mặt rất phức tạp của mẹ chị, giận dữ, vui mừng, xúc động - cùng một lúc. Ba chị đứng thụt lui ra sau một chút, như không muốn mình là người đầu tiên mắng con gái, mặc dù không thể nói là vẻ mặt ông không nhàu đi vì vật lộn với đủ thứ cảm xúc.
- Sao giờ này con mới về?
Mẹ chị Ni hỏi, có vẻ khó khăn lắm bà mới giữ cho giọng mình nói đừng run lên.
Chị Ni giải thích.
- Thế sao con không gọi điện về nhà?
Chị Ni bảo quên.
- Quên thì phải đánh vài roi cho lần sau đừng quên nữa! Mẹ chị Ni nói, vẻ mặt cho biết đó không phải là câu nói đùa.
Bà đi ra sau nhà, một lát trở lên với cây chổi lông gà trên tay.
- Thế nào, con đồng ý chứ?
- Dạ. Chị Ni đáp rất nhanh, chị nằm sấp mặt trên đi-văng.
Tôi rón rén lùi vào góc nhà và hồi hộp giương mắt nhìn ra, tim thắt lại. Khi người thân yêu của bạn lâm vào nghịch cảnh đó có lẽ bạn cũng giống như tôi, tưởng như địa ngục đang trút xuống đầu mình.
Mẹ chị Ni nhịp cây chổi trong lòng bàn tay, hỏi:
- Tội quên này theo con xứng đáng nhận mấy roi?
- Theo con là ba roi. Tiếng chị Ni vọng lên từ đâu đó, chỗ hai cánh tay đang khoanh tròn dưới mặt, giọng bình tĩnh như đang trao đổi với mẹ về chuyện làm bánh kem - nên bỏ thêm mấy muỗng đường là vừa.
- Có lẽ một roi là đủ nhớ đời rồi.
Ba chị Ni nói giọng khàn khàn như thể ông đang che miệng bằng một chiếc khăn tay.
Tôi nhìn ông, chỉ thấy phía sau lưng, nhưng khi ngọn roi vút xuống tôi có thể hình dung khuôn mặt ông se lại như thế nào.
Trong khi đó nom chị Ni rất tươi tỉnh. Chắc chị hiểu mẹ chị yêu chị không kém gì ba chị. Chỉ khác là mẹ chị dũng cảm hơn. Và tất nhiên là dám chịu trách nhiệm hơn.
Chị Ni kể cho tôi nghe câu chuyện về ông Bá Du.
Tại sao chị kể với tôi chuyện này? Có lẽ do cái cách tôi nhìn chị sau khi chị bị ăn đòn.
Chắc là lúc đó mắt tôi ươn ướt. Tôi đã dụi mặt vào lòng chị và rên ư ử như thể chính tôi chịu nạn vào cái đêm xui rủi đó. Chị bảo ông Bá Du làm quan rất to, ra ngoài thì rất mực oai vệ nhưng về nhà vẫn kính sợ mẹ một phép. Mỗi khi làm điều gì lầm lỗi, ông vẫn bị mẹ bắt nằm sấp trên đi-văng (à quên, hồi đó chưa có đi-văng, chắc là ông nằm trên chiếc tràng kỷ) để đánh đòn.
Ông biết mình sái quấy, nghiến răng chịu đau, không bao giờ khóc. Thế nhưng một bữa kia ông khóc. Khóc rất to. Mẹ ông ngạc nhiên:
- Mọi lần con không khóc, sao hôm nay lại khóc? Chẳng lẽ mẹ đánh oan con?
Ông sụt sịt:
- Thưa mẹ, không phải thế. Mọi lần con không khóc vì mẹ đánh rất đau, con biết mẹ còn khỏe mạnh. Bữa nay thấy mẹ đánh không đau chút xíu nào, biết mẹ đã già yếu, vì thế mà con không cầm được nước mắt.
Chị kể xong, vui vẻ nói:
- Cưng thấy chưa. Ông Bá Du làm quan to mà còn bị mẹ đánh đòn, chị mới học lớp mười, việc gì cưng phải buồn cho chị?
Chị Ni kể chuyện cho tôi nghe, thực ra là tự nói với chính mình. Chị nghĩ là tôi không hiểu được, trong khi tôi hiểu hết. Tôi chỉ không hiểu mỗi một điều tại sao bị đòn đau thì không khóc, còn bị đòn nhẹ hều thì lại khóc.
Chỗ này tôi khác ông Bá Du gì gì đó. Hễ bị đòn càng đau thì tôi khóc càng to(...)”
(Theo Nguyễn Nhật Ánh, Tôi là Bê – Tô, Chương 16, Nxb Trẻ 2012)
Ông Bá Du lại khóc khi bị mẹ đánh vì: mọi lần mẹ ông Bá Du đánh rất đau, còn lần này, bà đánh không đau chút nào. Ông biết mẹ mình đã già yếu nên đau lòng không kìm được nước mắt.
Chỉ ra hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ trong câu in đậm.
- Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: tách biệt thành phần câu “chỉ thấy phía sau lưng”
- Tác dụng: nhấn mạnh vị trí quan sát của Bê-tô và cảm giác đau của đòn roi chị Ni phải chịu.
Từ nội dung đoạn trích anh/chị hãy chia sẻ một số việc nên làm để tránh khiến ba mẹ phải lo lắng, buồn lòng.
Một số việc nên làm để tránh khiến ba mẹ phải lo lắng, buồn lòng:
- Vâng lời cha mẹ, không cãi lời.
- Hỏi ý kiến bố mẹ trước các dự định lớn.
- Gọi điện thoại xin phép bố mẹ khi đi chơi về muộn.
Từ hành động chờ đợi và sự tức giận của mẹ chị Ni, anh chị hãy chia sẻ cảm nhận của mình về tình mẫu tử thiêng liêng.
Tình mẫu tử thiêng liêng là sự yêu thương, nâng niu, quan tâm chăm sóc bằng cả tấm lòng. Đồng thời tình mẫu tử cũng là sự biết ơn kính trọng mà người con dành cho mẹ của mình. Từ tình yêu thương ấy đã dạy cho chúng ta biết cách làm người, vun đắp cho chúng ta những tình cảm cao quý, mong ước chúng ta trở thành người có ích cho xã hội. Với ý nghĩa cao đẹp của tình mẫu tử đó, mỗi con người chúng ta cần có trách nhiệm yêu thương mẹ. Rèn luyện bản thân để trở thành một người có ích trong xã hội và đền đáp công lao dưỡng dục của mẹ. Tình mẫu tử là thứ tình cảm không gì có thể thay đổi được. Vì vậy chúng ta cần trân trọng.
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
- Đoạn thơ trên diễn tả tình cảm của nàng Thúy Kiều với chàng Kim Trọng.
- Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn trích diễn tả nỗi nhớ thương cha mẹ và người yêu của Thúy Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
Từ "nguyệt" trong câu thơ "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng" là từ Hán Việt hay Thuần Việt? Nêu ý nghĩa.
- Từ" nguyệt" là từ Hán Việt.
- Ý nghĩa : Thúy Kiều nhớ về người yêu là chàng Kim Trọng, nàng nhớ về lời thề đôi lứa. ” chén đồng” là chén rượu thề nguyền, đồng lòng, đồng dạ mà Kiều và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng vằng vặc.
Nêu dụng ý nghệ thuật của tác giả khi sử dụng từ “tưởng” và “xót” trong đoạn thơ trên.
- Từ “tưởng” gợi lên được nỗi lòng khắc khoải, nhớ mong về người cũ tình xưa của Thúy Kiều. Trong lòng nàng luôn thường trực nỗi nhớ người yêu đau đớn, dày vò tâm can.
- Từ “xót” tái hiện chân thực nỗi đau đớn đến đứt ruột của Kiều khi nghĩ về cha mẹ. Nàng không thể ở cạnh báo hiếu cho cha mẹ, nàng đau đớn tưởng tượng ở chốn quê nhà cha mẹ đang ngóng chờ tin tức của nàng.
Cụm từ “tấm son” có nghĩa gì?
Nghĩa của cụm từ "tấm son" là: chỉ tấm lòng son sắt, thủy chung, khôn nguôi nhớ về Kim Trọng của Thúy Kiều. Cũng có thể Kiều đang cảm thấy tủi hờn, nhục nhã khi tấm lòng son bị vùi dập, hoen ố, không biết gột rửa thế nào cho hết.
Tìm hai điển cố trong đoạn thơ trên và nêu hiệu quả nghệ thuật của cách sử dụng điển cố đó?
- Hai điển cố trong đoạn thơ trên là: "Sân Lai", "gốc tử"
- Hiệu quả nghệ thuật của cách sử dụng điển cố đó là:
Bộc lộ được lòng hiếu thảo của Kiều với mẹ cha; ngầm so sánh Kiều với những tấm gương chí hiếu xưa.
Khiến lời thơ trở nên trang trọng, thiêng liêng hơn, phù hợp với việc ca ngợi tình cảm hiếu thảo hiếm có của Kiều
Thành ngữ nào được sử dụng trong đoạn trích trên?
Thành ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên là: "Quạt nồng ấp lạnh" được sử dụng nhằm nhấn mạnh nỗi đau xót xa dày xé tâm can của Kiều khi lo lắng nghĩ về cha mẹ. Nàng băn khoăn không biết bố mẹ có được chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo không?
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:
CHÍ KHÍ ANH HÙNG
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Bằng ngay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì.
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du, SGK Ngữ văn 10 tập 2, 2006)
Thể thơ lục bát
Song thất lục bát
Thất ngôn Đường luật
Thể thơ tự do
A. Thể thơ lục bát
Hôn nhân gia đình
Tình yêu tự do
Cuộc sống đời thường
Người anh hùng
D. Người anh hùng
Xác định chủ đề chính của đoạn trích.
Tôn vinh lý tưởng của người anh hùng, khát vọng tự do
Khát vọng tình yêu tự do, đấu tranh bảo vệ hạnh phúc gia đình
Khát vọng công bằng, công lí
Tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ “tam tòng tứ đức”
Cụm từ “hương lửa đương nồng” trong đoạn trích có nghĩa là gì?
Tình yêu nam nữ đương lúc đằm thắm, nồng nàn
Hạnh phúc vợ chồng đương lúc đằm thắm, nồng nàn
Hương thơm đương lúc nồng nàn
Ngọn lửa tình yêu đang rực cháy
B. Hạnh phúc vợ chồng đương lúc đằm thắm, nồng nàn
Đi thẳng
Đi vội
Đi liền một mạch
Đi mau
C. Đi liền một mạch
Cụm từ “phận gái chữ tòng” trong câu “Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng - Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi” có nghĩa là gì?
Đã là vợ phải theo chồng để chia sẻ, tiếp sức cho chồng
Đã là vợ sẽ đi theo chồng vô điều kiện
Đã là vợ phải phục tùng chồng
Đã là vợ phải dựa dẫm, lệ thuộc vào chồng
A. Đã là vợ phải theo chồng để chia sẻ, tiếp sức cho chồng
Biết rõ tính cách của nhau
Biết rõ tình cảm của nhau
Biết rõ lòng dạ của nhau
Biết rõ chí hướng của nhau
C. Biết rõ lòng dạ của nhau
Điểm khác biệt rõ nhất về vẻ đẹp, cốt cách của Từ Hải giữa hai cảnh:
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
Với
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Cảnh trượng phu buổi đầu xây dựng sự nghiệp và sự vinh hiển của người anh hùng
Cảnh chia tay buồn bã, bịn rịn và cảnh đoàn tụ ấm áp, vui vầy
Vóc dáng trượng phu ngày đi và thanh thế người anh hùng ngày về
Cảnh ra đi thanh vắng và cảnh trở về đông vui
A. Cảnh trượng phu buổi đầu xây dựng sự nghiệp và sự vinh hiển của người anh hùng
Rút ra nhận xét về người anh hùng Từ Hải qua đoạn trích?
Là người có chí khí, có khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ
Là người anh hùng của sự nghiệp phi thường
Là người rất tự tin vào tài năng của bản thân
Là con người dung hòa được giang sơn và gia đình
A. Là người có chí khí, có khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ
Từ nhân vật Từ Hải qua đoạn trích trên, liên hệ điều gì về khát vọng tuổi trẻ?
Phải có ý chí, khát vọng hoài bão lớn, biết cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình
Phải biết mưu cầu công danh, sự nghiệp cho bản thân
Phải bản lĩnh, dứt khoát, không vướng bận gia đình
Phải có trách nhiệm chăm lo cho cho người thân, gia đình
A. Phải có ý chí, khát vọng hoài bão lớn, biết cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình
Lời của Thuý Kiều trong văn bản gợi nhớ đến câu nói gì theo quan niệm phong kiến ? Tại sao nàng xin đi theo Từ Hải?
- Lời của Thuý Kiều trong văn bản gợi nhớ đến câu nói theo quan niệm phong kiến: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (quan niệm tam tòng) ........
- Kiều xin đi theo Từ Hải vì nàng muốn gắn kết với Từ Hải không phải chỉ bằng tình tri kỉ, nam nữ mà bằng nghĩa vợ-chồng. Nàng muốn mình là một phần của cuộc đời Từ để có một chỗ dựa trong cuộc đời- một nét tâm lí rất chân thật ở người con gái yếu đuối có cảnh ngộ như nàng. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp lòng chung thuỷ của Kiều.
Nêu ý nghĩa của điển tích được dùng trong câu thơ:
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
- Điển tích được dùng trong câu thơ là: "chim bằng" (chim đại bàng).
- Ý nghĩa của điển tích này là: Nguyễn Du đã mượn hình ảnh chim bằng (chim đại bàng) trong văn chương cổ điển - chim bằng là một giống chim rất lớn, đập cách làm động nước trong ba ngàn dặm, thường tượng trưng cho những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn, tượng trưng cho sự dũng mãnh, khát vọng làm nên việc lớn của những người anh hùng quân tử hán bản lĩnh phi thường để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi đều bộc lộ chí khí anh hùng của người anh hùng Từ Hải. Cuộc chia tay Thúy Kiều chính là thời điểm đánh dấu đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao, thỏa sức tung hoành giang sơn bốn bể.
Van Gogh đã vẽ bức Đêm Đầy Sao (Starry Night) vào năm 1889, khi ông đang điều trị trong một trại tâm thần ở Saint Rémy. Điều thú vị là ông đã vẽ bức tranh này từ trí nhớ của mình, và khung cảnh trong tranh được cho là dựa theo bầu trời đêm của Provence. Starry Night có lẽ là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và có chiều sâu nhất của danh họa.

(Đêm Đầy Sao (Starry Night), 1889, tranh sơn dầu, Vincent van Gogh, MoMA, New York)
Điều đầu tiên tôi nhận thấy khi ngắm nhìn bức tranh này là bầu trời đêm choáng ngợp, chiếm gần hết hậu cảnh. Các đường xoáy tựa dòng chảy đang chuyển động nhẹ nhàng, dập dìu, dường như đang hợp nhất ở trung tâm tạo thành hình xoắn ốc. Mười một ngôi sao màu vàng rực rỡ trông giống như những quả cầu lửa khổng lồ, chiếu sáng toàn bộ khung cảnh. Chúng hoàn toàn tương phản với bầu trời đêm trong mát với nhiều sắc thái xanh lam và xám. Ngoài ra, ở góc trên cùng bên phải còn có vầng trăng lưỡi liềm đang tỏa ra ánh sáng màu cam đậm và còn sáng hơn so với các vì sao. Tầm nhìn ra bầu trời đêm và ngôi làng bị chặn một phần bởi cụm cây hoàng đàn khổng lồ phía trước. Bóng cây to lớn, màu xanh đen nổi bật hẳn so với tông màu nhẹ nhàng chủ đạo của tác phẩm. Những ngôi nhà nhỏ xíu được vẽ kín đáo ở góc dưới bên phải của bức tranh, như hòa với cảnh núi rừng. Kiến trúc của ngôi làng cổ kính, đơn sơ và không có ánh sáng chiếu vào ngôi làng, tạo cảm giác rằng tất cả mọi người ở đó có lẽ đang chìm trong giấc ngủ. Nhìn chung, nét vẽ của ông nặng, dày và có nhịp điệu dồn dập đầy dứt khoát. Vậy nên, tác phẩm tạo cho người thưởng tranh có ảo giác các nét cọ như đang liên tục chuyển động.
Việc Van Gogh vẽ bức tranh này dựa theo trí nhớ của mình đã giúp cho ta thấy phần nào về sự lệch lạc tinh thần và cường độ cảm xúc lớn của ông tại thời điểm đó. Người ta cảm thấy như thể danh họa đã khó có thể kiềm chế cảm xúc của mình, rằng tất cả nỗi tức giận và niềm đam mê của ông đã bao trùm toàn bộ tác phẩm. Mặt trăng và các ngôi sao lớn đến nỗi dường như cả bầu trời đêm sắp sụp xuống. Cây hoàng đàn, một loại cây có hình tượng kín đáo, trang trọng và tang tóc, có vẻ như nham hiểm khi chắn tầm nhìn của chúng ta ngay trước bức tranh. Cứ như thể Van Gogh đang tự tạo ra một thực tại của riêng mình. Ông chọn cách nhấn mạnh những vật thể mà mình cảm thấy là quan trọng, mặc kệ điều đó sẽ dẫn đến việc các góc nhìn bị bóp méo.
Bức tranh như sục sôi sự sống nhờ những nét vẽ tạo ấn tượng về sự chuyển động. Đặc biệt, bầu trời đêm dường như chính là nguồn sống của tác phẩm, nhờ sự năng động bùng nổ. Có vẻ như các thiên hà đang chuyển động và các vì sao sẽ lao vào thị trấn bình yên này bất cứ lúc nào. Các ngôi sao và bầu trời tạo nên một cảm xúc mãnh liệt với nhiều nét vẽ và màu sắc khác nhau, tất cả hòa vào nhau tạo thành một màn sương tựa như hình xoắn ốc ở trung tâm tác phẩm.
Mặt khác, cây hoàng đàn phần nào làm giảm bớt hiệu ứng chói lóa của bầu trời đêm với những chiếc lá sẫm màu, quằn quại vươn lên ở phía bên trái của bức tranh. Thân cây trông rắn rỏi và dường như nhàm chán so với phần còn lại. Nó làm xáo trộn toàn bộ trạng thái cân bằng của một đêm đầy sao, cảnh tượng mà đáng lẽ ra sẽ được khắc họa một cách đầy huyền diệu và trọn vẹn. Dondis từng nói rằng mắt người thường ưu tiên khu vực phía dưới bên trái của bất kỳ trường thị giác nào và có vẻ như Van Gogh đã cố ý vẽ bụi cây hoàng đàn ở vị trí nổi bật ấy. Có thể giải thích rằng bụi cây là đại diện cho nỗi thống khổ bên trong mà danh họa đang phải trải qua vào thời điểm đó. Sự hỗn loạn mà ông ấy đang trải qua có thể đã làm hao kiệt thứ khát vọng sống trong ông.
Bên cạnh đó, những ngôi nhà nhỏ có vẻ khá yên tĩnh. Tất cả các đèn đều đã tắt và mọi người hẳn đang say ngủ. Không ai để ý đến bầu trời đêm đang bừng lên sức sống và bụi cây hoàng đàn đang quằn quại. Điều đó lột tả sự xa lánh và hiểu lầm mà danh họa phải chịu đựng. Tôi cảm thấy rằng ngôi làng đang say giấc đại diện cho phần còn lại của thế giới, những con người không biết về những đam mê cuồng nhiệt và nỗi thống khổ mà Van Gogh đang phải trải qua. Có lẽ ấy là lý do tại sao những ngôi nhà trông như ở rất xa mặc dù chúng thực sự khá gần.
Giải thích của tôi chỉ là một trong số rất nhiều cảm nhận của những người thường thức nghệ thuật khác về Đêm Đầy Sao. Đây vẫn sẽ luôn là một tác phẩm khó nắm bắt đối với các nhà phê bình nghệ thuật cũng như các sinh viên. Bởi vì chẳng một ai thực sự biết ý định của Van Gogh về bức tranh đây. Mọi người dường như đang sử dụng các mật mã khác nhau để giải mã những gì Van Gogh đang cố gắng thể hiện .Có nhà phê bình cho rằng đây là một tác phẩm tôn giáo, mô tả một câu chuyện trong Kinh thánh. Trong sách Sáng thế ký, Joseph có một giấc mơ về mười một ngôi sao, mặt trời và mặt trăng (mặt trăng và mặt trời dường như được kết hợp với nhau ở đây), tượng trưng cho anh em và cha mẹ của mình, đang cúi đầu trước ngài. Một học giả khác cho rằng bức tranh này thể hiện sự hội tụ thiên văn, vì thực tế là vào thời ấy, có một hiện tượng thiên văn rất nổi tiếng. Khi đó, những người yêu thích thiên văn học và chiêm tinh học như Jules Verne đã sáng tác nhiều tác phẩm về du hành lên mặt trăng. Đối với tôi, tôi luôn có một ý nghĩ đa cảm này về Van Gogh, rằng tôi thấy ông như một nghệ sĩ bi kịch, đầy nỗi đau khổ, là người thực sự muốn làm rất nhiều điều cho nhân loại (ông đã từng là một nhà truyền giáo) nhưng liên tục bị xã hội khước từ. Bức tranh này đã truyền đạt đến tôi thứ tình yêu mà ông dành cho những tạo phẩm tuyệt đẹp của Chúa. Ấy thế mà, tôi cũng cảm nhận được một cảm giác cô đơn rõ rệt, như thể không ai có cái nhìn về thế giới như cách mà ông đã thấy.
Tất nhiên, để hiểu rõ hơn phong cách vẽ của danh họa trong Đêm Đầy Sao, chúng ta phải nhìn vào toàn cảnh. Vincent Van Gogh là một trong những nghệ sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng vĩ đại, cùng với những cá nhân như Cézanne và Gauguin. Trường phái Hậu ấn tượng về cơ bản là một phản ứng chống lại chủ nghĩa ấn tượng, vốn thể hiện niềm tin rằng nghệ thuật nên phản ánh chính xác hiện thực bằng màu sắc và ánh sáng tự nhiên. Những người theo trường phái Hậu ấn tượng tin rằng nghệ thuật không phải để bắt chước hình thức, mà là để tạo ra hình thức. Có nghĩa là, các nghệ sĩ thời kỳ này đã có một cái nhìn chủ quan về thế giới thị giác và vẽ về thế giới của họ, theo nhận thức nghệ thuật của riêng mình. Như chính Van Gogh đã nói, “Chúng ta có thể thành công hơn trong việc tạo ra một bản chất thú vị và thoải mái so với những gì chúng ta có thể nhận ra chỉ bằng một cái nhìn thoáng qua về thực tại”. Đó là lý do tại sao các nghệ sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng không có phong cách cố định – các tác phẩm của họ phản ánh cá tính và nhận thức độc đáo của mỗi cá nhân.
Trong trường hợp của Van Gogh, các tác phẩm của ông dường như phản ánh một cường độ cảm xúc lớn, giống như trong Starry Night. Ông ấy từng nói với anh trai Theo rằng, thay vì sử dụng màu sắc một cách chuẩn xác, ông muốn sử dụng chúng “tùy tiện hơn để thể hiện bản thân một cách gượng ép hơn”. Đặc biệt, ông thích vẽ phong cảnh phản ánh cảm xúc và tâm hồn của chính mình. Theo một cách nào đó, ông có cảm giác được giải phóng khi vượt ra ngoài ranh giới của nghệ thuật truyền thống. Đêm Đầy Sao là hiện thân của phong cách và lối thể hiện độc đáo của Van Gogh. Và thế đấy, những tác phẩm như thế đã gây sức ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật hiện đại ngày nay.
Em hãy viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.
Ô Hen-ri là cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Mĩ đầu thế kỉ XX. Giải thưởng Ô Hen-ri là giải thưởng văn chương ở Mĩ dành cho những truyện ngắn hay nhất hàng năm. Tên tuổi nhà văn mãi mãi lưu danh hậu thế. Truyện “Chiếc lá cuối cùng" tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Ô Hen-ri. Truyện chỉ có ba nhân vật, những họa sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi và cụ già Bơ-men. Truyện có kết cấu chặt chẽ, hầu như không có chi tiết nào thừa, diễn biến xúc động như khi nói về trận ốm kéo dài của Giôn-xi và cái chết bất ngờ của cụ Bơ-men. Có ý kiến cho rằng: Truyện “Chiếc lá cuối cùng" của Ô Hen-ri là bức thông điệp màu xanh về tình thương và sự sống của con người.
Truyện “Chiếc lá cuối cùng" của Ô Hen-ri đã thể hiện một tình bạn cao quý cảm động. Giôn-xi và Xiu là hai nữ họa sĩ trẻ, tuy nghèo mà lắm ước mơ, nhiều yêu thương. Họ gắn bó với nhau về những sở thích và về nghệ thuật mà kết thành chị em cùng chung nhau thuê một phòng họa nơi phố nghèo. Mùa đông năm ấy, chứng viêm phổi hoành hành đã "đánh ngã hàng chục nạn nhân''. Giôn-xi cũng bi cảm lạnh, nằm liệt giường. Mọi thứ thuốc men đều trớ thành "vô dụng", cô yên trí là mình "không thể khỏi được". Giôn-xi lại bị ám ảnh, một khi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân phía cửa sổ rụng xuống thì cô "cũng ra đi thôi". Sự sụp đổ về tinh thần của cô họa sĩ trẻ bất hạnh làm cho bệnh tình ngày thêm trầm trọng. Chính trong hoàn cảnh bi đát ấy, tình bạn được thử thách. Xiu thương đứa em nuôi vô cùng, cô đã khóc "đến ướt đẫm cả một chiếc khăn trải bàn Nhật Bản”. Xiu lo âu. Xiu săn sóc và hết lòng chạy chữa cho em. Xiu làm việc nhiều hơn để kiếm thêm tiền mua thuốc và thức ăn cho Giôn-xi. Khi đứa em tội nghiệp "nằm yên lặng và trắng nhợt như một pho tượng bị đổ” thì Xiu vẫn kiên nhẫn an ủi em. Cô nói qua làn nước mắt: “Em thân yêu, em yên dấu!... Em hãy hứa với chị là hãy nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa...". Em hãy cố ngủ đi"...
Xiu đã tận tình săn sóc em, lúc thì quấy nước súp gà, lúc thì pha sữa với rượu Boóc-đô, lúc thì đặt thêm gối, lúc thì mời bác sĩ, lúc thì cầu cứu bác Bơ-men. Xiu đã giành giật với tử thần để chạy chữa cho đứa em nuôi bé bỏng tội nghiệp.
Xiu là hiện thân của tấm lòng trắc ẩn vị tha, là một con người giàu đức hi sinh thầm lặng, có một trái tim nhân hậu mênh mông. Xiu là một nhân vật rất đẹp làm ta xúc động và ngưỡng mộ về một tình bạn, tình chị em thủy chung, cao quý. Nhân vật Xiu tỏa sáng "bức thông điệp màu xanh" của “Chiếc lá cuối cùng". Để cứu người khỏi tai họa, có những con người đứng trước cái chết không hề sợ chết. Cụ già Bơ-men, một họa sĩ già là một con người giàu đức hi sinh như vậy. Năm ấy, cụ Bơ-men đã 60 tuổi, khắc khố, đã 40 năm cầm bút vẽ mà vẫn không với tới được "gấu áo vị nữ thần" của nghệ thuật. Tuy vậy, cụ đã nói với cô Xiu: "Một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất...". Ông không ngồi làm mẫu nữa, mà đã đứng trong cơn mưa lạnh lẽo, dai dẳng, pha lẫn tuyết đang đổ xuống, chỉ mặc một cái áo sơ mi cũ màu xanh, đứng suốt đêm âm thầm sáng tạo nên "chiếc lá cuối cùng", "chiếc lá dũng cảm". Gió bấc lồng lộn, nhưng chiếc lá thường xuân "đơn độc" ấy vẫn bám chắc lấy cành. Giày và áo quần cụ họa sĩ đã ướt sũng và lạnh buốt. Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi. Chiếc lá cuối cùng do cụ "vẽ” nên đã đánh lui thần chết, cứu sống cô Giôn-xi. Quên mình để cứu người là một hành động cao cả. Cái chết của cụ già Bơ-men đẹp hơn mọi bài ca. Nếu Chúa bị đóng đinh chịu nạn vì hạnh phúc của con người, thì cụ Bơ-men cao đẹp thay đã xả thân vì sự sống của Giôn-xi. Cụ đã vĩnh viễn ra đi, nhưng chiếc lá cuối cùng là một kiệt tác, cụ để lại cho đời, vì sự sống và hạnh phúc của con người thì còn lại mãi mãi. Giôn-xi khỏi bệnh, cô lặng ngắm "tác phẩm kiệt xuất'' của cụ Bơ-men, và cô xúc động nghĩ: "Cụ vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng" với tất cả tình thương và lòng biết ơn vô hạn. Hơn một thế kỉ nay, hàng triệu độc giả trên hành tinh đã cúi đầu nghiêng mình trước nghĩa cử và cái chết của họa sĩ già Bơ-men.
“Chiếc lá cuối cùng” là một trong những tác phẩm văn học nước ngoài đã đem đến cho chúng ta nhiều nhã thú. ''Bức thông điệp màu xanh" ấy, mãi mãi tươi non trong lòng người. Tình bạn bè, tình chị em, tấm lòng nhân hậu, đức hi sinh của họa sĩ trẻ và già ấy làm cho người đọc tin yêu hơn vào lòng tốt của con người. Nó nhắn nhủ nhân loại: hãy phấn đấu cho hạnh phúc của con người, hãy đem nghệ thuật phục vụ con người, vẻ đẹp nhân văn, giá trị nhân bản của “Chiếc lá cuối cùng" đã rung động tâm hồn mỗi chúng ta.
Nghệ sĩ Bơ-men đã ngã xuống vì nghệ thuật, đã hi sinh vì sự sống và hạnh phúc của con người. Nghệ thuật hướng tới con người là nghệ thuật cao đẹp nhất, lâu bền nhất!

