Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo có đáp án

A
Admin
VănLớp 111 lượt thi
0 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi :

MỘT ĐÁM CƯỚI

Xế chiều hôm ấy, bà mẹ chồng và chồng Dần đến. Cả hai cùng mặc quần áo cánh. Bà mẹ khoác một cái áo nâu dài đã bạc ở trên vai. Chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục quả. Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu. Bà mẹ trông thấy bảo Dần:

- Cho bu mượn cái đĩa đi, con!

Mặt Dần đã đỏ bừng. Hai đứa em nó, trông thấy, cười rúc rích. Nó lợi dụng câu sai của mẹ chồng, để chạy tót ra chái đứng. Một lúc lâu nó cũng không vào. Thầy nó phải đỡ lấy chẽ cau ở tay bà mẹ chồng, đặt lên giường thờ mẹ nó. Rồi thầy nó nói thật to:

- Đi nấu nước đi con!

Không thấy con gái thưa, ông phải bảo thằng con trai lớn:

- Chạy ra bảo chị đun ấm nước.

Rồi ông thân hành đi lấy chìa vôi ra để têm trầu. Bà mẹ chồng có lời ngay:

Thôi thì bây giờ mọi sự ông đã thương cho cháu cả rồi, hôm nay tiện được ngày, tôi cũng biện cơi trầu đến kêu với ông để ông cho cháu được lễ các cụ… rồi xin phép ông để chúng tôi đưa cháu về nhà làm ăn.

Đáp lại bao nhiêu lời bóng bẩy, xa xôi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn thon lỏn một câu:

- Vâng! Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.

Rồi ông lại cất cao giọng, bảo con:

- Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé!

Rồi ông ngồi lử thử. Bởi vì ông buồn lắm. Chỉ lát nữa là người ta rước Dần đi. Đêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi. Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông phải bỏ nốt hai đứa con trai để ngược... Chao ôi! Buồn biết mấy?... Ông đờ đẫn cả người. Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá... Ông buồn quá. Ông đáp lại những câu rất dài dòng của bà thông gia bằng những câu ngắn ngủn [...]

Đến tối, đám cưới mới ra đi. Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái nhà trai [...]

Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai... Nó sụt sịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng. Chú rể dắt đứa em lớn của Dần. Còn thằng bé thì ông bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ...

(Trích Một đám cưới, Nam Cao, Văn học 11, Tập một,NXB Giáo dục, 2000, tr.245-247)

Đoạn văn

Đọc văn bản sau:

KÉP TƯ BỀN

(1) Tối đến, cửa rạp Kịch trường đèn thắp sáng trưng như ban ngày, chiếu rõ cái cảnh người đứng lô nhô như luống hoa trăm hồng ngàn tía, bướm ong chờn vờn. Trên thềm, dưới bậc, giữa đường, non nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để đứng ngắm nhau cho đỡ nóng ruột lúc chờ đợi. Tiếng nhạc hòa trong rạp, du dương trầm bổng, chứa chan biết bao tình tứ ái ân, như câu, như kéo, làm cho người ta quên hẳn, mà bất giác moi túi lấy tiền mua vé.

(2) Rồi cái làn sóng người dần dà tràn vào trong. Trên các hàng ghế, chỗ nọ nhắc lại câu bông lơn của kép Tư Bền, chỗ kia bắt chước điệu bộ của kép Tư Bền. Ai nấy đều nóng ruột sốt lòng, mong cho chóng đến giờ mở màn sân khấu, để được cười, được vỗ tay, được học thêm vào lối pha trò mới, để mai làm nhếch mép người yêu.

(3) Vinh dự thay, anh kép Tư Bền! Nhưng mà khốn nạn thân anh! Người ta biết đâu rằng hiện giờ này, ở nhà, cha anh đương dở chứng khò khè, chỉ chờ từng phút để thở một hai hơi nữa làhết nợ, và ở trong buồng trò, anh cũng đương nẫu ruột nhầu gan. Thật vậy, ai ngó vào trong buồng trò mới thấy được cái khổ tâm của anh Tư Bền. Anh ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó, nhưng tay vẫn phải sờ vào hộp phấn hồng để đánh mặt, quệt vào đĩa mực để bôi nhọ cái mồm. Rồi anh phải mặc trái cái áo lụng thụng thêu, lận đôi hia xanh và đội cái cánh mũ chuồn ngược. Anh đóng vai này, trông ra phết giàu sang sung sướng. Chốc nữa, anh còn phải làm cho chủ anh bằng lòng, các bạn anh trông anh mà gắng sức, các khán quan được một phen cười vỡ bụng vỗ rát tay kia mà! Nhưng mà cha anh Tư Bền sắp chết! Ban nãy lúc anh ở nhà ra đi, đã thấy nguy lắm rồi. Thôi! Nhưng mà mặc kệ. Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi lăn ra cả đất chứ?

(Trích Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan)

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

TÔI LÀ BÊ TÔ

“...Ha ha, có chuyện này thật là vui.

Tôi đã thấy chị Ni bị mẹ cho ăn đòn. Tối đó, chị Ni đi chơi với đám bạn học, vui vẻ như thế nào đó mà rốt cuộc tận khuya mới về tới nhà. Tới mười giờ thì ba chị Ni và mẹ chị Ni bắt đầu nôn nóng đi ra đi vô, với tôi chạy lon ton phía sau. Trực giác của loài chó mách cho tôi rằng mọi chuyện đều tốt lành, không có gì phải lo lắng. Nhưng tôi lại chẳng nghĩ ra cách nào xoa dịu nỗi bất an trong lòng họ. Điều duy nhất tôi có thể làm là họ đi ra tôi đi ra, họ đi vô tôi đi vô. Tôi lẽo đẽo làm chiếc đuôi của họ, như chiếc đuôi của tôi đang làm chiếc đuôi của tôi. Chị Ni về nhà lúc mười một giờ hai mươi. Đón chào chị ở ngay cửa là vẻ mặt rất phức tạp của mẹ chị, giận dữ, vui mừng, xúc động - cùng một lúc. Ba chị đứng thụt lui ra sau một chút, như không muốn mình là người đầu tiên mắng con gái, mặc dù không thể nói là vẻ mặt ông không nhàu đi vì vật lộn với đủ thứ cảm xúc.

- Sao giờ này con mới về? 

Mẹ chị Ni hỏi, có vẻ khó khăn lắm bà mới giữ cho giọng mình nói đừng run lên. 

Chị Ni giải thích. 

- Thế sao con không gọi điện về nhà?

Chị Ni bảo quên. 

- Quên thì phải đánh vài roi cho lần sau đừng quên nữa! Mẹ chị Ni nói, vẻ mặt cho biết đó không phải là câu nói đùa. 

Bà đi ra sau nhà, một lát trở lên với cây chổi lông gà trên tay. 

- Thế nào, con đồng ý chứ? 

- Dạ. Chị Ni đáp rất nhanh, chị nằm sấp mặt trên đi-văng. 

Tôi rón rén lùi vào góc nhà và hồi hộp giương mắt nhìn ra, tim thắt lại. Khi người thân yêu của bạn lâm vào nghịch cảnh đó có lẽ bạn cũng giống như tôi, tưởng như địa ngục đang trút xuống đầu mình.

Mẹ chị Ni nhịp cây chổi trong lòng bàn tay, hỏi: 

- Tội quên này theo con xứng đáng nhận mấy roi?

- Theo con là ba roi. Tiếng chị Ni vọng lên từ đâu đó, chỗ hai cánh tay đang khoanh tròn dưới mặt, giọng bình tĩnh như đang trao đổi với mẹ về chuyện làm bánh kem - nên bỏ thêm mấy muỗng đường là vừa. 

- Có lẽ một roi là đủ nhớ đời rồi. 

Ba chị Ni nói giọng khàn khàn như thể ông đang che miệng bằng một chiếc khăn tay. 

Tôi nhìn ông, chỉ thấy phía sau lưng, nhưng khi ngọn roi vút xuống tôi có thể hình dung khuôn mặt ông se lại như thế nào. 

Trong khi đó nom chị Ni rất tươi tỉnh. Chắc chị hiểu mẹ chị yêu chị không kém gì ba chị. Chỉ khác là mẹ chị dũng cảm hơn. Và tất nhiên là dám chịu trách nhiệm hơn.

 Chị Ni kể cho tôi nghe câu chuyện về ông Bá Du. 

Tại sao chị kể với tôi chuyện này? Có lẽ do cái cách tôi nhìn chị sau khi chị bị ăn đòn.

Chắc là lúc đó mắt tôi ươn ướt. Tôi đã dụi mặt vào lòng chị và rên ư ử như thể chính tôi chịu nạn vào cái đêm xui rủi đó. Chị bảo ông Bá Du làm quan rất to, ra ngoài thì rất mực oai vệ nhưng về nhà vẫn kính sợ mẹ một phép. Mỗi khi làm điều gì lầm lỗi, ông vẫn bị mẹ bắt nằm sấp trên đi-văng (à quên, hồi đó chưa có đi-văng, chắc là ông nằm trên chiếc tràng kỷ) để đánh đòn. 

Ông biết mình sái quấy, nghiến răng chịu đau, không bao giờ khóc. Thế nhưng một bữa kia ông khóc. Khóc rất to. Mẹ ông ngạc nhiên: 

- Mọi lần con không khóc, sao hôm nay lại khóc? Chẳng lẽ mẹ đánh oan con? 

Ông sụt sịt: 

- Thưa mẹ, không phải thế. Mọi lần con không khóc vì mẹ đánh rất đau, con biết mẹ còn khỏe mạnh. Bữa nay thấy mẹ đánh không đau chút xíu nào, biết mẹ đã già yếu, vì thế mà con không cầm được nước mắt. 

Chị kể xong, vui vẻ nói: 

- Cưng thấy chưa. Ông Bá Du làm quan to mà còn bị mẹ đánh đòn, chị mới học lớp mười, việc gì cưng phải buồn cho chị? 

Chị Ni kể chuyện cho tôi nghe, thực ra là tự nói với chính mình. Chị nghĩ là tôi không hiểu được, trong khi tôi hiểu hết. Tôi chỉ không hiểu mỗi một điều tại sao bị đòn đau thì không khóc, còn bị đòn nhẹ hều thì lại khóc. 

Chỗ này tôi khác ông Bá Du gì gì đó. Hễ bị đòn càng đau thì tôi khóc càng to(...)”

(Theo Nguyễn Nhật Ánh, Tôi là Bê – Tô, Chương 16, Nxb Trẻ 2012)

Đoạn văn

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Đoạn văn

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

CHÍ KHÍ ANH HÙNG

Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong

Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi

Từ rằng: Tâm phúc tương tri

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia

Bằng ngay bốn bể không nhà

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu

Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy chăng là một năm sau vội gì.

Quyết lời dứt áo ra đi

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du, SGK Ngữ văn 10 tập 2, 2006)