Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Cánh diều có đáp án
50 câu hỏi
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi :
MỘT ĐÁM CƯỚI
Xế chiều hôm ấy, bà mẹ chồng và chồng Dần đến. Cả hai cùng mặc quần áo cánh. Bà mẹ khoác một cái áo nâu dài đã bạc ở trên vai. Chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục quả. Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu. Bà mẹ trông thấy bảo Dần:
- Cho bu mượn cái đĩa đi, con!
Mặt Dần đã đỏ bừng. Hai đứa em nó, trông thấy, cười rúc rích. Nó lợi dụng câu sai của mẹ chồng, để chạy tót ra chái đứng. Một lúc lâu nó cũng không vào. Thầy nó phải đỡ lấy chẽ cau ở tay bà mẹ chồng, đặt lên giường thờ mẹ nó. Rồi thầy nó nói thật to:
- Đi nấu nước đi con!
Không thấy con gái thưa, ông phải bảo thằng con trai lớn:
- Chạy ra bảo chị đun ấm nước.
Rồi ông thân hành đi lấy chìa vôi ra để têm trầu. Bà mẹ chồng có lời ngay:
Thôi thì bây giờ mọi sự ông đã thương cho cháu cả rồi, hôm nay tiện được ngày, tôi cũng biện cơi trầu đến kêu với ông để ông cho cháu được lễ các cụ… rồi xin phép ông để chúng tôi đưa cháu về nhà làm ăn.
Đáp lại bao nhiêu lời bóng bẩy, xa xôi ấy, ông bố vợ chỉ trả lời gọn thon lỏn một câu:
- Vâng! Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.
Rồi ông lại cất cao giọng, bảo con:
- Hễ được nước thì bắc lên đây, con nhé!
Rồi ông ngồi lử thử. Bởi vì ông buồn lắm. Chỉ lát nữa là người ta rước Dần đi. Đêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi. Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông phải bỏ nốt hai đứa con trai để ngược... Chao ôi! Buồn biết mấy?... Ông đờ đẫn cả người. Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá... Ông buồn quá. Ông đáp lại những câu rất dài dòng của bà thông gia bằng những câu ngắn ngủn [...]
Đến tối, đám cưới mới ra đi. Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái nhà trai [...]
Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai... Nó sụt sịt khóc, đi bên cạnh mẹ chồng. Chú rể dắt đứa em lớn của Dần. Còn thằng bé thì ông bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ...
(Trích Một đám cưới, Nam Cao, Văn học 11, Tập một,NXB Giáo dục, 2000, tr.245-247)Xác định điểm nhìn trong câu: “Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng; ông cứ ở nhà với ba con, bố con đùm bọc lấy nhau, bây giờ bỏ lại hai đứa bé mà đi, ông thương chúng nó quá...”
Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên trong
Điểm nhìn của người kể chuyện – điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn của kể chuyện – điểm nhìn bên trong
A. Điểm nhìn của nhân vật – điểm nhìn bên trong
Ẩn dụ
So sánh
Nhân hóa
Hoán dụ
B. So sánh
Câu văn nào sau đây thể hiện cảnh tượng ảm đạm, tối tăm, tù túng của cảnh đưa dâu một đám cưới nhà nghèo?
Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ
Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai
Đêm hôm nay, chỉ còn mình ông với hai đứa trẻ con. Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi
Ông nghĩ bụng rằng: giá Dần không phải về nhà người ta, thì có lẽ chẳng đời nào ông phải lên rừng
A. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ
Tình huống được kể trong đoạn trích là tình huống gì?
Đám cưới trong sự vui vẻ của hai gia đình
Đám cưới khi mẹ Dần đi vắng
Đám cưới khi Dần chưa biết mặt chồng
Đám cưới giữa ngày đói
D. Đám cưới giữa ngày đói
Nhận xét nào sau đây không đúng với đoạn trích Một đám cưới - Nam Cao?
Mang giá trị châm biếm sâu sắc, giàu kịch tính
Là đoạn trích phân tích tâm lí nhân vật đặc sắc
Thể hiện tài năng xây dựng nhân vật của nhà văn Nam Cao
Có giá trị nhân đạo và hiện thực lớn
Qua nội dung đoạn trích trên, tác giả muốn khắc họa điều gì?
Khắc họa hình tượng người phụ nữ Việt Nam tảo tần, vất vả trước Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Khắc họa cảnh một đám cưới với cỗ bàn linh đình, người đưa rước nhộn nhịp, hai họ hân hoan vui mừng
C. Khắc họa đậm nét cuộc đời, số phận cũng như vẻ đẹp nhân cách của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nhân hậu, bao dung, vị tha
Khó khăn, tính toán, ích kỉ
Cảm thông, niềm nở, lạc quan
Hoạt bát, nhanh nhạy, vui vẻ
A. Nhân hậu, bao dung, vị tha
Chua cay, nhẹ nhàng
Hóm hỉnh, hài hước
Trầm buồn, cảm thông
Châm biếm, mỉa mai
Tiếng sụt sịt khóc của nhân vật Dần ở cuối đoạn trích gợi lên suy nghĩ gì về số phận con người trước Cách mạng tháng Tám?
Số phận hẩm hiu, tủi hờn của của người nông dân bị rẻ rúng, xem thường
Sự bất hạnh của người phụ nữ khi không được quyết định hạnh phúc của mình
Số phận nghèo túng, lay lắt của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Bị áp bức bóc lột đến tàn nhẫn, xem như thân phận người ở khi về nhà chồng
C. Số phận nghèo túng, lay lắt của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nội dung đoạn trích gợi liên tưởng đến tác phẩm nào sau đây?
Vợ nhặt (Kim Lân)
Bến quê (Nguyễn Minh Châu)
Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam)
Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
A. Vợ nhặt (Kim Lân)
Dựa vào đoạn trích nêu lí do vì sao ngày đám cưới của con gái ông bố Dần lại "buồn lắm"?
- Ông bố Dần cảm thấy “ buồn lắm" trong ngày đám cưới của con gái vì: Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ; Dần đi lấy chồng, không ai trông coi vườn đất, nhà cửa, con cái cho ông nữa.
Nêu cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ...
Cảm nhận về hình ảnh: Đám cưới diễn ra trong không khí buồn thảm, ảm đạm, lạnh lẽo, là đám cưới chạy đói, thể hiện tình cảnh thê thảm của người nông dân trước cách mạng.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
MÓN LẠ MIỀN NAM
Có người đọc cuốn “miếng ngon Hà Nội” của tôi xong, thúc giục:
- Miền Nam nước Việt có nhiều thức ngon lành lắm, sao không sưu tầm lại mà viết thành một cuốn nữa coi chơi?
Tôi bỏ nhà đi lang bạt từ lúc mười bảy tuổi. Đến Sài Gòn dạo đó, tôi đã ăn nem Thủ Đức, thưởng thức phá lấu Lồ Ồ, ăn tóp mỡ nhiễn đường ở Sa Đéc, nếm suông ở Cây mai, thịt bò bảy món Bà Hom, mì Cột đèn Năm ngọn. Rồi đến kỳ này, lại trở về quê ngoại mến thương, tôi đã thưởng thức nhiều món hơn, nhưng thú thực tôi không thấy các món đó có nói lên được cái gì mới mẻ, lạ lùng cho lắm. Có lẽ tô cá Chìa Vôi ngon thực, nhưng lòng còn gởi về cố lý nên cá rô đầm Sét vẫn là hơn, trái su-su mát như da cô gái tuyết trinh, ô hay, sao lại như đăng đắng, mà miếng thịt gà muốn chế hóa cách gì đi nữa cũng vẫn cứ nhạt phèo ?
Mãi đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi khẩu cái. Tự nhiên, không vì lý do gì hết, vào một buổi chiều xuống mầu kia, mình nhìn thấy miếng thịt gà đậm đà hơn, trái su-su thoang thoảng ngọt và con cá Chìa vôi ăn béo mà thơm.
Ồ, tại sao lại thế! Thì ra ngon hay không là tự ở lòng mình. Chưa chắc miếng ngon miền Nam bây giờ khác trước. Nhưng người xa nhà cảm thấy ngon lành khác trước, có lẽ vì bây giờ y nhận thức được lòng thương yêu của những người ở chung quanh rõ rệt, đậm đà hơn trước […]
Thương biết bao là thương, mến chừng nào là mến! Nhưng mến thương sao cho bằng thương mến người vợ miền Nam xót xa người chồng Bắc xa nhà, nay làm món ăn này, mai làm món ăn khác, mong sao cho chồng khuây khỏa được nỗi buồn thiên lý tương tư. Dùng thịt nhiều xót ruột em nấu canh chua cá lóc anh món lạ miền Nam xơi; chạo tôm quận vào mía lau ăn ngọt và bùi; nếu anh mệt thì dùng bát cháo chìa vôi nhé!
Bánh bèo bì ở Bún nổi tiếng là ngon; tô mì Bà Điểm; hủ tíu chợ giữa Mỹ Tho; bánh in Cao lãnh; Nem Tân Hương ăn mịn xớt mà giòn; tôm nướng Tân Thuận Đông vừa thơm vừa ngọt. Gà nhúng hèm ngon nhất là Bình Hòa; con “móng tay” Long Hải; bưởi Tân Triều; măng Lái Thiêu; cam Cái Bè; dừa xiêm Mỹ; dưa hấu Cầu Ngang; con cá nhám rào thịt ngon lừ, ăn mát ruột mà lành; trứng chích, trứng diệt vừa bùi vừa béo; có cô gái theo chồng ra tỉnh mà vẫn còn nhớ mãi nem nướng Đức Hòa, cá cháy Cái Vồn, Măng le Bà Rịa ngon hỡi là ngon!
Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay mặt ra, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kì được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.
Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xả và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp. Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng […]
(Trích “Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng)
Văn hóa ẩm thực
Món ngon của quê hương
Ẩm thực Nam Bộ
Tình cảm vợ chồng
Món lạ miền Nam
Văn hóa ẩm thực
Ẩm thực Nam Bộ
Tình cảm vợ chồng
Yếu tố tự sự thể hiện trong đoạn trích trên là:
Kí ức về việc thưởng thức các món ngon, lạ Miền Nam
Tái hiện lịch sử các món lạ ở Miền Nam
Kí ức về những chuyến đi
Câu chuyện vợ chồng
Cấu trúc của đoạn trích được triển khai theo:
cảm hứng, tư tưởng chủ đề “Món lạ miền Nam”
nhận thức của tác giả về “Món lạ miền Nam”
tình yêu của tác giả về “Món lạ miền Nam”
quan điểm cá nhân của tác giả về “Món lạ miền Nam”
A. cảm hứng, tư tưởng chủ đề “Món lạ miền Nam”
Vì sao tác giả cho rằng món ăn “ngon hay không là tự ở lòng mình”?
Vì gắn liền với tình cảm của người thưởng thức, gợi nhắc kỉ niệm yêu thương
Vì mỗi món ăn gắn liền với đặc trưng vùng, miền
Vì mỗi món ăn gắn liền với kỉ niệm, kí ức gia đình, quê hương xứ sở
Vì mỗi món ăn là tấm lòng của người xa xứ dành cho quê hương
A. Vì gắn liền với tình cảm của người thưởng thức, gợi nhắc kỉ niệm yêu thương
Nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ được thể hiện trong đoạn trích là:
giản dị, mộc mạc, đậm đà, độc đáo
cầu kì, thanh lịch, giàu tính thẩm mĩ
hấp dẫn, tinh tế, sang trọng
thu hút, giàu tính thẩm mĩ
Mục đích của tác giả khi viết bài tùy bút là:
biết ơn người dân và ca ngợi nét độc đáo trong ẩm thực Nam Bộ
ca ngợi nét độc đáo trong ẩm thực Nam Bộ
bộc lộ tình yêu quê hương đất nước qua hương vị món ăn
khám phá nét độc đáo trong hương vị món ăn Miền Nam
Cái Tôi của người viết được thể hiện như thế nào qua đoạn trích?
Tài hoa, mê đắm trước những món ngon, lạ ở miền Nam
Say mê ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, đất trời phương Nam
Ca ngợi những món ăn mang hương vị lạ lẫm, độc đáo trong ẩm thực Miền Nam
Hồi tưởng lại vùng đất đã đi qua bằng sự yêu thương, tôn trọng, tự hào
A. Tài hoa, mê đắm trước những món ngon, lạ ở miền Nam
Thông điệp được gửi gắm qua đoạn trích trên là:
Trân trọng, tự hào mảnh đất mình từng đi qua, những con ngưởi mình từng gắn bó.
Tin tưởng một ngày mai các món lạ ở Miền Nam sẽ vang xa
Nỗi nhớ, niềm thương về con người, vùng đất Nam Bộ
Ca ngợi tình nghĩa đồng bào miền Nam trong việc thưởng thức món lạ ở Miền Nam
A. Trân trọng, tự hào mảnh đất mình từng đi qua, những con ngưởi mình từng gắn bó.
Người đọc nhận được bài học cuộc sống gì qua những chiêm nghiệm của tác giả: “Mãi đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi khẩu cái.... Thì ra ngon hay không là tự ở lòng mình”.
Món ngon với mỗi người là hương vị của kí ức, tình thâm, sự trân quý
Hương vị của món ngon không phải ở vị giác mà là ở cảm xúc yêu thương, trân trọng
Hương vị của món ngon là ở tấm lòng của người đón nhận chứ không phải ở rmón ăn
Hương vị của món ngon ở nỗi nhó, tình yêu mình dành cho quê hương, xứ sở
A. Món ngon với mỗi người là hương vị của kí ức, tình thâm, sự trân quý.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
(Hoàng Cầm, Bên kia sông Đuống)
Đoạn thơ trên đã cho anh/ chị hình dung như thế nào về toàn cảnh sông Đuống khi nhìn từ “ bên này”?
- Toàn cảnh sông Đuống như hiện lên trước mắt với một không gian thoáng đạt, ngút ngàn. Có hình ảnh dòng sông, cát trắng, bãi mía, bờ dâu…bao phủ một màu xanh dịu nhẹ, sáng tươi: màu biếc của ngô khoai, màu xanh của bờ dâu, ánh sáng lấp lánh của dòng sông trôi, của cát trắng phẳng lì.
- Hình dung trước mắt là một miền quê thanh bình, trú phú với những cảnh vật thân thuộc, bình dị nhưng rất đỗi thơ mộng, trữ tình. Sông Đuống nằm nghiêng nghiêng trong suốt những năm kháng chiến như một sinh thể có hồn, vừa duyên dáng nhưng cũng đầy ưu tư, chất chứa bao tâm trạng.
Chỉ ra những biện pháp nghệ thuật đặc sắc được nhà thơ sử dụng trong đoạn văn bản trên.
Đoạn thơ sử dụng khá nhiều những biện pháp nghệ thuật, thí sinh cần nêu được 2 trong số các biện pháp nghệ thuật đặc sắc sau đây:
– Hệ thống từ láy: Lấp lánh, nghiêng nghiêng, xanh xanh, biếng biếc, xót xa kết hợp với nghệ thuật nhân hóa: sông Đuống như một con người “ nằm nghiêng nghiêng”.
– Câu hỏi tu từ sao tiếc nuối, sao xót xa kết hợp với nghệ thuật chuyển đổi cảm giác: xót xa như rụng bàn tay. Nỗi đau trong tâm can khi biết tin quê hương bị giặc chiếm đóng đã cụ thể hóa và chuyển thành nỗi đau thể xác, khiến nhà thơ xót xa, nhức nhối như rụng rời, mất đi một phần cơ thể.
Anh/ chị hiểu gì về tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ trong đoạn văn bản trên?
– Với nỗi buồn chất chứa khi nghe tin quê hương bị giặc chiếm đóng, nhà thơ khao khát được giãi bày, sẻ chia, đồng cảm. Hình tượng em – người con gái Kinh Bắc trong tưởng tưởng đã hiện lên như cùng nhà thơ ngược dòng thời gian về với kí ức để sống lại ngày xưa bên kia sông Đuống một thủa yên bình.
– Tiếng lòng náo nức, bồi hồi của chính nhà thơ khi sống lại với những kỉ niệm đã lắng sâu trong kí ức về một quê hương thanh bình, trú phú và thơ mộng. Từ đó, thể hiện niềm yêu thương nhung nhớ, tự hào của nhà thơ về vẻ đẹp của quê hương mình.
– Đi cùng với nỗi nhớ là cảm giác nuối tiếc đến nghẹn ngào, da diết khi chứng kiến hiện thực đau thương “ Đứng bên này sông sao nhớ tiếc”. Cảm giác “ bên này” thật gần mà không thể làm gì được, cảnh vật trìu mến, thân thương của làng quê đã rơi vào tay giặ
– Nỗi đau đớn, xót xa như dâng lên, cắt cứa vào da thịt. Nỗi đau mất quê cứ nhức nhối, quặn thắt trong trái tim khiến nhà thơ như cảm thấy mất đi một phần máu thịt. “ Sao xót xa như rụng bàn tay”Theo anh chị, trong thời điểm hiện tại, ngoài nỗi nhớ thì tình yêu quê hương đất nước còn được biểu hiện ở những khía cạnh nào nữa?
Trong thời điểm hiện tại, khi đất nước hòa bình, phát triển và hội nhâp, tình yêu quê hương đất nước không chỉ biểu hiện ở nỗi nhớ mà còn:
- Tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, truyền thống văn hóa
- Ý thức tôn tạo, bảo vệ, làm giàu có những vẻ đẹp vốn có
- Xây dựng, phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn
- Quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc nếu bị đe dọa, xâm lược
- ...
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI
(1)… “Chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường qua trước hang, kéo lên đồi, đi đến đâu đó, xa! Đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn.
Việc của chúng tôi là ngồi đây: Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom. Người ta gọi chúng tôi là tổ trinh sát mặt đường. Cái tên gợi sự khát khao làm nên những sự tích anh hùng. Do đó, công việc cũng chẳng đơn giản. Chúng tôi bị bom vùi luôn. Có khi bò trên cao điểm về chỉ thấy hai con mắt lấp lánh. Cười thì hàm răng trắng lóa trên khuôn mặt nhem nhuốc. Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là “những con quỷ mắt đen”.
(2)...Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa lời ra mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn và ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.
Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như cái đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. Xa đến đâu mặc kệ, nhưng tôi thích ngắm tôi trong gương. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng.
Không hiểu sao các anh pháo thủ và lái xe lại hay hỏi thăm tôi. Hỏi thăm hoặc viết những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách nhau hàng nghìn cây số, mặc dù có thể chào nhau hàng ngày. Tôi không săn sóc, vồn vã. Khi bọn bạn gái tôi xúm nhau lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, tôi thường đứng ra xa, khoanh hai tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt. Nhưng chẳng qua tôi điệu thế thôi. Thực tình trong suy nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ…”
(Trích “Những ngôi sao xa xôi”, Lê Minh Khuê)Đoạn trích trên chủ yếu kể về sự kiện gì?
Những cô gái Hà Nội tham gia trinh sát mặt đường
Những cô gái Hà Nội ngồi ngắm sao đêm, đếm bom chưa nổ
Những cô gái Hà Nội thu thập thông tin hằng ngày trên tuyến đường
Những cô gái Hà Nội đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom
Nơi phố thị phồn hoa
Nơi đồng bằng yên tĩnh
Nơi rừng núi hiểm trở
Nơi cao nguyên hùng vĩ
C. Nơi rừng núi hiểm trở
Công việc hằng ngày của các cô gái là gì?
Ngồi ngắm sao đêm, ca hát, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom
Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom
Bò trên cao điểm quan sát toàn tuyến đường, khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom
Dựa vào thành đá quan sát toàn tuyến đường, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom
Tự tin – dũng cảm
Tự tin – kiêu hãnh
Tự tin – Tự ti
Tự tin – tự trọng
Với nhân vật tôi, những người mặc bộ quân phục có ngôi sao trên mũ là những người như thế nào?
Là những con người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất
Là những con người đẹp nhất, can đảm, có đời sống tâm hồn phong phú và cao thượng
Là những người đẹp nhất, yêu đời, sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn lạc quan
Là những con người can đảm, cao thượng; sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do
“Chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường qua trước hang, kéo lên đồi, đi đến đâu đó, xa! Đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn.
Việc của chúng tôi là ngồi đây: Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom. Người ta gọi chúng tôi là tổ trinh sát mặt đường”...
Điểm nhìn người kể chuyện trong đoạn trích trên là:
Từ nhiều điểm nhìn khác nhau: gắn với nhiều quan điểm, cách đánh giá về con người, sự vật
Điểm nhìn bên ngoài: miêu tả con người, sự vật, kể về những điều nhân vật chưa biết
Điểm nhìn không gian: nhìn và miêu tả con người, sự vật từ xa, gần
Điểm nhìn bên trong: kể và tả xuyên qua cảm nhận, ý thức nhân vật
D. Điểm nhìn bên trong: kể và tả xuyên qua cảm nhận, ý thức nhân vật
Lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn trích trên là:
Lời nửa trực tiếp: lời người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật
Lời gián tiếp: lời thuật lại lời nói hay nêu lại ý nghĩ của người hoặc nhân vật
Lời độc thoại nội tâm: tái hiện tiếng nói bên trong của nhân vật
Lời nhại: mô phỏng quan điểm, ý thức của nhân vật với chủ ý mỉa mai hay bông đùa
A. Lời nửa trực tiếp: lời người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật
Nhận định nào nói lên giọng điệu của người kể chuyện trong đoạn trích trên:
Hài hước, dí dỏm, trầm lắng
Bình dị, dí dỏm, buồn bã
Chân thực, tự nhiên, hóm hỉnh
Từ tốn, dân dã, suy tư
Trong đoạn trích, Lê Minh Khuê đã thể hiện thái độ, tình cảm gì dành cho nhân vật tôi?
Trân trọng, ngợi ca, phê phán
Ngợi ca, căm phẫn, yêu thương
Thấu hiểu, thương xót, căm thù
Thấu hiểu, trân trọng, ngợi ca
Theo anh, chị thông điệp nào sau đây phù hợp với đoạn trích trên?
Tuổi trẻ phải có tâm hồn lạc quan, lòng dũng cảm, phải biết hi sinh, cống hiến cho đất nước.
Tuổi trẻ phải có tâm hồn lạc quan, lòng dũng cảm, phải biết hết mình vì mục đích bản thân
Tuổi trẻ phải có tâm hồn lạc quan, lòng dũng cảm, phải biết nỗ lực vì sở thích bản thân
Tuổi trẻ phải có tâm hồn lạc quan, lòng dũng cảm, phải tự tin, khẳng định cá tính riêng
A. Tuổi trẻ phải có tâm hồn lạc quan, lòng dũng cảm, phải biết hi sinh, cống hiến cho đất nước.
Câu “Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là những con quỷ mắt đen” dùng biện pháp tu từ gì? Biện pháp tu từ ấy giúp chúng ta hiểu gì về các nhân vật?
Câu “Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là những con quỷ mắt đen” dùng biện pháp tu từ ẩn dụ. Việc sử dụng biện pháp tu từ này cho thấy tinh thần lạc quan, có trách nhiệm cao với công việc của ba cô gái.
Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trong đoạn trích cho em suy nghĩ gì về tuổi trẻ Việt Nam trong những năm chiến tranh?
Những thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là những người trẻ trung, dũng cảm và tinh thần học hỏi cao, sẵn sàng đóng góp cho tương lai của đất nước. Họ không sợ hiểm nguy và khó khăn, luôn hướng tới mục tiêu tự do và độc lập cho dân tộc.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
CÔ LÁI ĐÒ
Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy
Đi biệt không về... với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông...
Xuân này đến nữa đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân.
Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng trong
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy
Để buồn cho những khách sang sông.
(Nguyễn Bính - Thơ và đời,NXB Văn học, Hà Nội, 1994)
miêu tả
tự sự
biểu cảm
nghị luận
Tình quân
Cô lái đò
Bến sông
Khách sang sông
A. Tình quân
Mang hạnh phúc tìm về
Đem tình yêu đến
Đem mong nhớ trở về
Đem mong nhớ vơi đi
C. Đem mong nhớ trở về
Vì sao cô lái đò lại Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng trong?
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Để buồn cho những khách sang sông
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Từ nào sau đây không cùng trường nghĩa với các từ còn lại?
Mong nhớ
Hồi tưởng
Chờ đợi
Bến sông
D. Bến sông
Cô lái đò hồi tưởng điều gì qua hai câu thơ:
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Ước hẹn, thề nguyền cùng người mình yêu trên bến sông ba xuân trước
Ba xuân trước có những kỉ niệm thật vui vẻ cùng người mình yêu nơi bến sông
Cùng người mình yêu thương dạo thuyền nơi bến sông ba xuân trước
Những tháng ngày cắp sách đến trường vui vẻ cùng người mình yêu
Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
Sự chờ đợi mỏi mòn và nỗi niềm chua xót vì lời thề nguyện đã tàn phai theo năm tháng
Hạnh phúc viên mãn vì đã tìm được một bến đỗ bình yên cho cuộc đời của mình
Hạnh phúc trọn vẹn sau những năm tháng đầy đau khổ, tuyệt vọng và bế tắc trong tình yêu
Thuỷ chung trọn vẹn, sắt son một lời thề dù lời thề nguyện đã tàn phai theo năm tháng
A. Sự chờ đợi mỏi mòn và nỗi niềm chua xót vì lời thề nguyện đã tàn phai theo năm tháng
Dòng nào sau đây nhận xét đúng về thơ Nguyễn Bính?
Thơ ông thể hiện một nỗi buồn ảo não; là tiếng lòng thiết tha gắn bó với quê hương đất nước
Thơ ông thể hiện một điệu hồn da diết; không thiên về cảnh quê mà thiên về tình quê, hồn quê
Thơ ông thể hiện một tâm hồn thơ thiết tha, cháy bỏng, nồng nàn, rạo rực và say đắm
Thơ ông kết hợp độc đáo giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đai; phương Đông và phương Tây
B. Thơ ông thể hiện một điệu hồn da diết; không thiên về cảnh quê mà thiên về tình quê, hồn quê
Hoa - Bướm
Trầu - Cau
Bến - Đò
Thuyền - Sông
C. Bến - Đò
Văn học siêu thực
Văn học hiện thực
Văn học cách mạng
Văn học lãng mạn
D. Văn học lãng mạn
Em hãy viết bài nghị luận về một tác phẩm truyện mà em yêu thích.
Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đói những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.
Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch". Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miêu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy xót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.
Tuy nghèo đói nhưng chàng vẫn có một công việc để làm, để trông mong, đó chính là phu xe, hàng ngày bốc vác, chở gạo ra các chợ. Công việc thì vất vả, đói khát nhưng quả thật anh ta lúc nào cũng có thể vui vẻ, lạc quan. Giữa trời trưa nắng gắt, phải kéo cả một xe gạo đầy nặng trĩu, nhưng chàng ta vẫn có sức cất lên những câu hò:
Muốn ăn cơm trắng mấy giò này
Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”
Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.
Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.
Việc một con trai lớn lên, xây nhà, cưới vợ là việc quá đỗi bình thường, nhưng nhân vật Tràng lại là một thanh niên xấu xí, nghèo đói, gia cảnh khó khăn, đặc biệt là dân ngụ cư nữa nên việc Tràng có được vợ làm rất nhiều người ngạc nhiên. Qua đây, ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân: vợ đáng lẽ ra là người ta yêu, qua tìm hiểu, đính ước mà đến với nhau, nhưng ở đây, Tràng ta lại “nhặt” được vợ theo đúng nghĩa đen và của hồi môn chắc có lẽ chỉ là vài bát bánh đúc mà thị ta vừa ăn lúc trước.
Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư, người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc", người lại lo dùm cho anh ta "Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về". Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.
Cụ Tứ vừa vui vừa buồn, vừa cảm thấy thương xót cho con trai mình. Bà vui vì con trai mình đến tuổi trưởng thành đã cưới được vợ, bà mừng cho hai đứa chúng nó, nhưng bà cũng buồn, buồn vì gia đình nhà mình quá nghèo. Đám cưới gì mà chẳng có cờ có hoa, không một mâm cỗ, không kèn trống, không người đưa đón, chỉ đơn giản là đưa dẫn nhau về ở chung, cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình. Bước vào căn nhà lụp xụp mà hai mẹ con Tràng đang ở mà Thị chỉ biết thở dài, bắt tay vào công việc dọn dẹp. Đến bữa ăn về nhà chồng cũng chỉ là nồi cháo loãng với chút muối trắng, cuộc sống của ba con người quả thực rất nghèo khổ.
Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình. Ông xót thương cho dân tộc trước thảm họa đói chết. Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi…).
Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng…Có thể nói, nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm họa đau thương, chết chóc.
Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.
Thông qua tình huống truyện, nhà văn lên án và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thảm họa đói nghèo, chết chóc. Chính chúng đã làm cho giá trị con người trở thành rẻ rúng như rơm như rác: vợ mà nhặt được.
Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than.
Em hãy viết bài nghị luận về một tác phẩm thơ mà em yêu thích.
Xuân Diệu ông hoàng của thơ tình yêu, chưa kể những bài thơ của ông đều mang những quan niệm rất mới về cuộc sống, tuổi trẻ và về tình yêu. Ông cũng được xem là thi sĩ của mùa thu, cũng chính vì cái lãng mạn, khoảnh khắc xao xuyến của thu mà những vần thơ của nhà thơ hồn hậu và có hồn biết bao nhiêu. Đây mùa thu tới là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu. Mùa thu đó hiện ra thật đáng yêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn rung lên những điệu nhạc xao xuyến lòng người.
Rút từ tập “ Thơ Thơ”, sáng tác "Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, xuất bản năm 1938. Thu đến, những chiếc lá rụng, gió hắt hiu làm xốn xang lòng người đặc biệt là một tâm hồn của một người thi sĩ, vốn đã có chút nhạy cảm với những thay đổi của đất trời dù là nhỏ nhất.
Nhưng có lẽ hình ảnh mùa thu tới trong tác phẩm khiến cho người đọc cảm nhận một không khí tang thương bi ai,những hình ảnh không phải hoa lá, không phải gió đưa cần trúc, không phải mặt nước xanh biếc mà gắn với hình ảnh những cành liễu
"Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng".
Không gian hiện ra với vẻ "đìu hiu", buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như "đứng chịu tang". Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ "buồn buông xuống". Sương thu ướt đẫm trên những nhánh liễu khiến tác giả ngâm nga một câu khiến chúng trở nên có hồn. Những cành liễu giống như những cô giá thướt tha, nhưng mắt buồn đẫm lệ. Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: "đìu hiu – chịu", "tang – ngàn – hàng", "buồn – buông – xuống". Đây tạo nên những nét thú vị của thơ Xuân Diệu những năm đầu thế kỉ 20.
Ngắm nhìn rặng liễu, đột nhiên tác giả chợt nhận ra màu thu đã tới, với cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ "mùa thu tới" đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ.
"Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng".
Cách hiệp vần lưng thần tình: "tới – với", một chữ "dệt" tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu tới cũng chính muôn nơi được nhuộm bởi một màu vàng của cây đổi lá, nó được dệt một cách tỉ mỉ mang tới một vẻ đẹp không phải tự dưng mà có. "Với áo mơ phai dệt lá vàng" là một câu thơ thi vị biết bao, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng. Tuy nhiên mùa thu đó lại bắt đầu với một nỗi buồn ảm đạm hắt hiu.
Thu về cũng chính là lúc cảnh vật đổi khác, khoác lên mình những màu sắc rực rỡ. Thu đã về và thu dần trôi,thời gian trôi nhanh không tưởng. Cảnh vật một lúc một khác, hoa rơi, màu đỏ lấm chấm dần và rủa màu xanh. Cây cối cảnh vật bắt đầu rụng lá trơ cành như đang "run rẩy", khẽ "rung rinh" trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt.
"Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.
Những luồng run rẩy, rung rinh lá,
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh".
Ở khổ thơ này, tác giả sử dụng những từ láy như: "run rẩy", "rung rinh”, "mỏng manh" là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Đặc biệt hình ảnh sắc đỏ “ rủa “ màu xanh khiến cho câu thơ mang một nét đẹp nghệ thuật độc đáo. Màu xanh đó không mướt như ngọc mà từ từ từ lan rộng ra, và mọi thứ như ngấm chất thu vào đó.
Thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo ở khổ thơ thứ 3 được sử dụng một cách triệt để: là "nàng trăng tự ngẩn ngơ" trên bầu trời. Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu. Hình ảnh núi nhấp nhô trong làn sương mờ cành làm nổi bật những hình ảnh của mùa thu. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp:
“Thỉnh thoang nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ… "
"Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò”
Hai tiếng "đã nghe", "đã vắng" gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu với không khí se se lạnh. Chúng ta thấy có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả dang đứng giữa chiều gió thu, se se lạnh,chữ "luồn" đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác.
Đâu đẹp bằng hình ảnh thiên nhiên đẹo đẽ ở khổ thơ cuối.Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim, xuất hiện vẻ đẹp thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp nhưng mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như "bèo dạt mây trôi" của tình ca!
"Mây vẩn từng không chim bay đi,
Khí trời u uất hận chia li"…
"Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì"
Bao giờ trong thơ Xuân Diệu luôn xuất hiện hình bóng của giai nhân. Đây mùa thu tới cũng vậy, xuất hiện hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu.
Bài thơ “Đây mùa thu tới” lắng đọng trong độc giả những cảm xúc rất riêng, không những vậy cách cảm nhận của tác giả cũng rất mới mẻ. Mọi cảnh vật trong bài thơ mặc dù có thiên nhiên nhưng không thể thiếu được trong thơ Xuân Diệu là hình bóng giai nhân. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp đều hiện ra với nỗi buồn mênh mang không biết từ đâu đến.

