Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức có đáp án

A
Admin
VănLớp 1036 lượt thi
46 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc kĩ văn bản dưới đây, sau đó trả lời các câu hỏi:

BẢO KÍNH CẢNH GIỚI (bài 46)

Kẻ khôn thì bảo kẻ ngây phàm,
Nghề nghiệp cầm tay ở mới cam.
Nên thợ nên thầy vì có học,
No ăn no mặc bởi hay làm.
Một cơm hai việc nhiều người muốn,
Hai thớ ba giòng hoạ kẻ tham.
Thấy lợi thì làm cho phải nghĩa,
Mựa tây mặt khiến liễn lòng đam.

(Nguyễn Trãi, trích Thơ Nôm Đường luật, Lã Nhâm Thìn, NXB. Giáo dục, 1998)

Chú thích:

- Phàm: Không thanh nhã, người lỗ mãng

- Một cơm hai việc: Chi ăn một mà làm được hai thì tốt

- Hải thớ ba đông: Thớ như thớ cây, dòng như dòng nước. Chỉ người không chuyên nhất một nghề gì. Người như thế thì ít ai muốn dùng.

- Mựa tây: Chớ riêng

- Lòng đam: lòng mê say, lòng tham

Ý cả câu cuối: làm việc cho phải nghĩa chứ không nên vì lợi ích cá nhân mà này sinh lòng tham mà thay lòng, đối đạ.

1. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Thể thơ bảy chữ

Thể thơ thất ngôn trường thiên

Xem đáp án
B. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Trong văn bản trên, từ "kẻ khôn" có nghĩa là gì?

Tham lam, lười biếng

Vụ lợi, ích kỉ

Khôn ngoan, chăm chỉ

Tham vọng, khôn ngoan

Xem đáp án

C. Khôn ngoan, chăm chỉ

3. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Trong bài thơ, Nguyễn Trãi lấy ý/cảm hứng từ nhiều câu tục ngữ. Đâu là câu tục ngữ có nội dung gần với những câu thơ trong bài?

Nhập gia tùy tục.

Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giới.

Học một biết mười

Đói cho sạch, rách cho thơm

Xem đáp án
B. Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giới.
4. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hiệu quả của phép đối được sử dụng trong hai câu thơ sau: "Một cơm hai việc nhiều người muốn/ Hai thở ba dòng họa kẻ tham."

Làm nổi bật lòng tham, sự thay đổi của con người trước lợi ích.

Lâm nổi bật tình nghĩa của con người.

Làm nổi bật sự chăm chỉ, cầu tiến của con người.

Làm nổi bật giá trị của việc học

Xem đáp án
A. Làm nổi bật lòng tham, sự thay đổi của con người trước lợi ích.
5. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nội dung chính của văn bản trên là gì?

Cần lựa chọn môi trường, hoàn cảnh sống phù hợp với bản thân mình và lựa chọn tiếp xúc những gì thực sự tốt cho mình.

Công danh sự nghiệp, đời sống của mỗi người có được thăng tiến, ấm no hay không, tất cả đều do sự chăm chỉ, chuyên cần học tập, lao động; đều gắn liền với nghĩa.

Trọn nghĩa, trọn tình sẽ là cách ta tự làm cho cuộc sống này trở nên ý nghĩa và giá trị.

Danh lợi đều sẽ chỉ nhất thời và khó dài lâu, chỉ có kiến thức ta học được sẽ mang lại giá trị vĩnh viễn

Xem đáp án

B. Công danh sự nghiệp, đời sống của mỗi người có được thăng tiến, ấm no hay không, tất cả đều do sự chăm chỉ, chuyên cần học tập, lao động; đều gần liền với nghĩa.

6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào không nêu đúng nghệ thuật của bài thơ?

Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, sâu sắc

Sử dụng phép đối

Ý nghĩa châm biếm, đả kích

Hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng

Xem đáp án
D. Hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng
7. Tự luận
• 1 điểm
Nêu những đặc điểm cơ bản về nghệ thuật của bài thơ.
Xem đáp án

Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:

- Thể thơ Thất ngôn bát cú.

- Biện pháp nghệ thuật liệt kê, điệp cấu trúc.

- Ngôn ngữ mang tính thế sự, triết lí thể hiện lời răn dạy thiết thực có ý nghĩa muôn đời.

- Nghệ thuật đảo ngữ.

8. Tự luận
• 1 điểm

Trình bày suy nghĩ của bản thân về bài học rút ra từ văn bản trên.

Xem đáp án

Bài học rút ra trong văn bản: mỗi người cần giữ cho lòng sao cho thanh bạch. Với Nguyễn Trãi, kẻ khôn, người dại hay danh lợi ở đời, tất cả đều chỉ đáng trân nếu gắn liền với nghĩa. Trọn nghĩa, trọn tình sẽ là cách ta tự làm cho cuộc sống này trở nên ý nghĩa và giá trị. Mọi hám danh, hám lợi đều sẽ chỉ nhất thời và khó dài lâu. 

Đoạn văn

Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi dưới đây:

Vũ Thị Thiết, người con gái quêở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Tronglàng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trưong Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồngphải đến thất hòa. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm.Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹchàng có dặn rằng:

- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binhcách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡmắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.

Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:

- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉxin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến chotiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễurủ bãi hoang, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiến vừa tàn, áo chàng đành rứt. Nước mắtcảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình, muôn dặm quan san!

(Trích Chuyện người con gái Nam Xương, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Hội Nhà văn, 2018)

9. Tự luận
• 1 điểm
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Xem đáp án
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
10. Tự luận
• 1 điểm

Theo đoạn trích, Vũ Thị Thiết được giới thiệu như thế nào?

Xem đáp án

Vũ Thị Thiết được giới thiệu là “người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.

11. Tự luận
• 1 điểm

Vì sao trước khi lên đường ra chiến trận, mẹ Trương Sinh lại dặn con: "Quan cao

tước lớn nhường để người ta"?

Xem đáp án

Trước khi lên đường ra chiến trận, mẹ Trương Sinh lại dặn con như vậy vì trong chỗ binh cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy.

12. Tự luận
• 1 điểm

Theo anh/chị, câu nói của Vũ Thị Thiết: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên,thế là đủ rồi" có ý nghĩa gì?

Xem đáp án

Câu nói của Vũ Thị Thiết có ý nghĩa: Nàng chỉ mong ngày chồng trở về trong bình yên, không cần công danh bổng lộc, không mang chức cao quyền quý.

13. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn: “Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triểu còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kĩ khiến chotiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễurủ bãi hoang, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”?

Xem đáp án

- Phép tu từ: phép liệt kê.

- Tác dụng:

+ Hình dung ra những khó khăn, vất và, những nguy hiểm gian truân mà Trương Sinh phải đối mặt khi ra chiến trận, cùng với đó là nỗi nhớ mong, lo âu trăn trở của mẹ già và vợ hiền nơi quê nhà.

+ Tạo ra lối diễn đạt nhịp nhàng, cân đối, giàu tính hình tượng.

14. Tự luận
• 1 điểm

Qua đoạn trích, anh/ chị cảm nhận gì về nhân vật Vũ Thị Thiết?

Xem đáp án

Cảm nhận về nhân vật Vũ Thị Thiết qua đoạn trích: Người phụ nữ đẹp người, đẹp nết; là người vợ hiền dâu thảo, lo lắng chu toàn cho gia đình. Khi chồng chuẩn bị ra trận, nàng chỉ mong chàng trở về trong bình yên, không màng tới công danh sự nghiệp, coi thường địa vị, chức tước.

Đoạn văn

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Am trúc hiên mai ngày tháng qua

Thị phi nào đến cõi yên hà.

Bữa ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là

Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt

Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.

Trong khi hứng động vừa đêm tuyết

Ngâm được câu thần dặng dặng ca.

(Ngôn chí bài 3 - Nguyễn Trãi – Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 396)

Chú thích:

– Thị phi: lời đồn, những dư luận.

– Cõi yên hà: khói mây, chỉ chốn thanh tịnh, bình yên

– Nài chi: cần gì

– Nước dưỡng: giữ nước ao trong để bóng trăng xuống cho đẹp mà thưởng ngoạn

– Đất cày ngõ ải: cày rồi để cho ải, tức để hấp thụ nắng mưa rồi mới trồng trọt.

– Câu thần: câu thơ hay

– Dặng dặng ca: văng vẳng tiếng đàn, hát vang dội.

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Thể thơ của bài thơ trên là:

Thất ngôn bát cú Đường luật

Thất ngôn xen lục ngôn

Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật

Thơ trường thiên bảy chữ

Xem đáp án
B. Thất ngôn xen lục ngôn
16. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Chỉ ra các dòng thơ lục ngôn trong văn bản

Hai câu đề

Hai câu thực

Hai câu luận

Hai câu kết

Xem đáp án
B. Hai câu thực
17. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Từ ngữ thể hiện lối sống giản dị của nhân vật trữ tình trong bài thơ:

Am trúc hiên mai – thị phi

Thanh trì - ải lanh

Dưa muối – nài chi gấm là

Nước dưỡng – đất cày

Xem đáp án

C. Dưa muối – nài chi gấm là

18. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ gì?
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.

Phép đối - Ẩn dụ

Phép điệp - Ẩn dụ

Nhân hóa - Phép điệp

Ẩn dụ - Nhân hóa

Xem đáp án

A. Phép đối - Ẩn dụ

19. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hai câu thơ sau có thể hiểu như thế nào?

Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt

Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.

Giá trị của việc chăm sóc ao nước, đất cày để có thể thưởng trăng và trồng hoa.

Lời khuyên hướng tới các giá trị về tinh thần trong tâm hồn.

Khi chúng ta nuôi dưỡng được những ý thức tốt đẹp thì chúng ta sẽ được thưởng thức và hưởng những kết quả tốt đẹp từ những suy nghĩ ấy.

Lời khuyên cho thấy được sự cố gắng của con người, càng cố gắng càng có được thành quả như ý.

Xem đáp án

C. Khi chúng ta nuôi dưỡng được những ý thức tốt đẹp thì chúng ta sẽ được thưởng thức và hưởng những kết quả tốt đẹp từ những suy nghĩ ấy.

20. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hai câu thực cho em hiểu điều gì về cuộc sống của Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn?

Bữa ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là

Cuộc sống giản dị, thanh bạch

Cuộc sống thiếu thốn, khắc khổ

Cuộc sống đầy đủ, sung túc

Cuộc sống lam lũ, cực nhọc.

Xem đáp án

A. Cuộc sống giản dị, thanh bạch

21. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào không nêu lên đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ:

Ngôn ngữ bình dị, tự nhiên

Kết hợp câu lục ngôn với câu thất ngôn

Phép đối của thơ Đường luật được vận dụng hiệu quả

Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.

Xem đáp án

D. Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.

22. Tự luận
• 1 điểm

Nêu bố cục của bài thơ và nội dung từng phần.

Xem đáp án

Bố cục của bài thơ và nội dung từng phần:

- Hai câu đề: Cuộc sống ấn dật bình yên chốn thôn quê;

- Hai câu thực: Sự thanh bạch, giản dị trong cách ăn, mặc.

- Hai câu luận: Những thú vui di dưỡng tinh thần

- Hai câu kết: Cảm hứng đến, Nguyễn Trãi cất bút làm thơ.

23. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ đối được sử dụng trong bài thơ.

Xem đáp án

- Nghệ thuật đối xuất hiện trong hai câu thực và hai câu luận:

Bữa ăn >< Áo mặc; dầu có >< nài chi; dưa muối >< gấm là.

Nước dưỡng >< Đất cày; cho thanh >< ngõ ải; trì thưởng nguyệt >< lảnh ương hoa.

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh cuộc sống giản dị, thanh bạch của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn tại quê nhà: Không cầu kì trong ăn uống, tạo những thú vui nuôi dưỡng tinh thần.

+ Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ.

24. Tự luận
• 1 điểm

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về một bài học em rút ra được từ nội dung bài thơ.

Xem đáp án

Bài học ý nghĩa nhất đối với em được rút ra từ văn bản trên đó chính là sự giản dị trong lối sống. Đôi khi, sự giản dị ấy đem đến cho chúng ta sự thanh bình, giúp chúng ta quên đi những muộn phiền ngoài kia, thanh lọc tâm hồn và giúp mỗi người đạt được những ước muốn, kết quả tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang

(Trích Quân trung từ mệnh tập)

(1) Ta nghe: (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được. Nay các ông bằng một nghìn quân, một mình trơ trọi. Đã đến hơn một năm nay, tin tức không thông, mà tự cậy là thành cao hào sâu, có khác gì người mù không sợ cái chết, không biết tự liệu sức mình.

(2) Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh, kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo hay trái ngược. Nếu chỉ khăng khăng câu nệ và kiến thức hẹp hòi, cam lòng chịu lấy tai vạ, thì cũng đáng thương lắm. Vì thế mà tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết. Cho nên ta không ngại nói đi nói lại, lại sai người đến nơi dụ bảo.

(3) Nếu các ông biết tỉnh ngộ thì không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân. Nếu không thể thì giữa người thuận đức với kẻ trái đức, tất có một kẻ sống một kẻ chết. Đó là lẽ tất nhiên. Ta có thể tự theo ý riêng mình sao được! Các ông nên mau mau mở cửa thành, cởi áo giáp cùng ta hòa giải. Ta nếu trái lời giao ước tất nhiên trời chẳng dung cho, nếu các ông cứ chấp mê, ta tất không tha thứ.

(4) Nay hãy tạm lấy một việc trước mắt, bày tỏ từng việc cho các ông nghe: các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tam Đái, Thị Kiều, Tiền Vệ đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyển họa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn. Duy có một thành Khâu Ôn không hiểu sự biến, bo bo giữ kiến thức nhỏ, để cho người trong một thành ngọc đá đều bị thiêu cháy, há chẳng đáng xót thương! Các ông nên nghĩ, chớ để hối hận về sau!

(Trích Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội)

25. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Văn bản trên thuộc thể loại:

Thơ ca

Văn chính luận

Nghị luận xã hội

Thất ngôn xen lục ngôn

Xem đáp án

B. Văn chính luận

26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu văn nào thể hiện được luận đề của văn bản:

(đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.

Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh, kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo hay trái ngược. Nếu chỉ khăng khăng câu nệ và kiến thức hẹp hòi, cam lòng chịu lấy tai vạ, thì cũng đáng thương lắm

Nếu các ông biết tỉnh ngộ thì không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân. Nếu không thể thì giữa người thuận đức với kẻ trái đức, tất có một kẻ sống một kẻ chết. Đó là lẽ tất nhiên

Vì thế mà tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết. Cho nên ta không ngại nói đi nói lại, lại sai người đến nơi dụ bảo.

Xem đáp án

A. (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.

27. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Để nêu dẫn chứng thực tiễn cho luận đề, Nguyễn Trãi đã đề cập đến vấn đề gì?

Quân giặc khăng khăng muốn chiến đấu để bảo vệ danh dự

Quân giặc chỉ còn một nghìn quân, ở thế trơ trọi và lại khăng khăng muốn giữ thói câu nệ, cố thủ

Quân giặc sức cùng lực kiệt, thiếu lương thực và không thức thời.

Quân giặc sức cùng lực kiệt, quân sĩ yếu kém, lừa đối lòng người, khăng khăng muốn cố thủ tại thành.

Xem đáp án
B. Quân giặc chỉ còn một nghìn quân, ở thế trơ trọi và lại khăng khăng muốn giữ thói câu nệ, cố thủ.
28. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Đoạn nào thể hiện được lời khuyên (dụ) của Nguyễn Trãi dành cho quân giặc ở thành Xương Giang?

Đoạn (1)

Đoạn (3)

Đoạn (2)

Đoạn (4)

Xem đáp án
B. Đoạn (3)
29. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Mục đích của Nguyễn Trãi khi viết câu văn “Các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tam Đái, Thị Kiều, Tiền Vệ đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyển họa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn” là gì?

Liệt kê sức mạnh của quân Tây Sơn đã thu phục được rất nhiều các thành

Liệt kê sức mạnh của quân Tây Sơn đã giành thắng lợi liên tiếp và thể hiện ân nghĩa đối với người dân trong thành.

Khuyên nhủ thành Khâu Ôn lấy tấm gương của các thành đã đầu hàng, chuyển họa thành phúc để bảo toàn tính mạng cho mọi người.

Tỏ rõ sức mạnh quân sự đánh đâu thắng đó của quân Tây Sơn đối với thành Khâu Ôn.

Xem đáp án

C. Khuyên nhủ thành Khâu Ôn lấy tấm gương của các thành đã đầu hàng, chuyển họa thành phúc để bảo toàn tính mạng cho mọi người.

30. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nguyễn Trãi đã nêu ra những lợi ích của việc “Nếu các ông biết tỉnh ngộ” (Đầu hàng) là gì?

Đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.

Bảo toàn lực lượng và tính mạng cho hơn 56.000 người.

Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài.

Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.

Xem đáp án
D. Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.
31. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Mục đích của Nguyễn Trãi khi viết “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang” là gì?

Hòa giải chiến tranh, bảo toàn lực lượng và an toan đôi bên, mở đường hiếu sinh cho kẻ giặc.

Thể hiện sức mạng chiến đấu của quân Tây Sơn.

Đe dọa, thách thức kẻ thù ngông cuồng rằng chúng sẽ không có chỗ dung thân.

Thể hiện tài năng quân sự của Nguyễn Trãi.

Xem đáp án

A. Hòa giải chiến tranh, bảo toàn lực lượng và an toan đôi bên, mở đường hiếu sinh cho kẻ giặc.

32. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy nêu bố cục nội dung của bài chính luận “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang”.

Xem đáp án

Bố cục nội dung của bài chính luận:

- Đoạn (1) Nêu luận đề chính nghĩa và thực tiện việc làm sai trái của kẻ địch

- Đoạn (2) Chỉ ra những điều hại khi kẻ giặc không đầu hàng

- Đoạn (3) Chỉ ra những điều lợi khi kẻ giặc đầu hàng lu

- Đoạn (4) Lấy minh chứng thực tiễn để khuyên nhủ (dụ) giặc đầu hàng lấy đại cục làm trọng.

33. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về giọng điệu của Nguyễn Trãi trong văn bản “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang”.

Xem đáp án

Nhận xét giọng điệu:

- Cứng rằn, quyết đoán, chỉ trích thẳng thắn những bảo thủ câu nệ của kẻ thù

- Nhẹ nhàng, đưa ra tình lí để khuyên răn kẻ thù giảng hòa trong hòa bình.

34. Tự luận
• 1 điểm

Trình bày suy nghĩ của em về về tư tưởng của Nguyễn Trãi: Ta nghe: (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khithì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của người lãnh đạo nói chung.

Xem đáp án

- Ý nghĩa luận điểm: Người lãnh đạo, cầm quân biết lấy đại cục làm trọng, cần tuân theo lẽ phải của Trời, không thẻ theo ý mình mà làm.

- Người lãnh đạo:

+ Biết hi sinh.

+ Biết lấy đại cục làm trọng và nghĩ cho người khác.

+ Biết bảo toàn tính mạng của mọi người, không độc đoán chuyên quyền.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

Hai người bạn cũ gặp nhau trên sân ga. Một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, người toát ra mùi rượu nho loại nặng. Còn anh gầy vừa mới xuống tàu, lỉnh kỉnh hành lý, người toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh gầy là cô vợ gầy gò và một cậu con trai cao lêu nghêu.

- Porpphiri đấy ứ? - Anh béo kêu lên - Đúng là bạn thân mến của tôi! Ôi, biết bao lâu chúng mình không gặp nhau…

- Trời, Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! - Anh gầy sững sốt, mừng rỡ.

Hai người bạn ôm hôn nhau đến ba lần, mắt rưng rưng, chăm chú nhìn nhau.

- Mình quả thật không ngờ - anh gầy lên tiếng. Nào, cậu thẳng người, mình xem nào. Ôi, trông cậu vẫn đẹp trai, vẫn lịch thiệp như xưa. À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi…Đây, vợ mình đây! Còn đây là con trai mình. Này con, đây là bạn hồi học phổ thông với bố đấy!

Khi cậu con trai bỏ mũ ra chào, anh gầy nói tiếp:

- Bác là bạn cùng học với bố đấy! - Anh gầy quay sang bạn - À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtơrát Ba vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một quyển sách; còn mình thì chúng gọi Ephian Bốn vì mình hay mách...Dạo ấy mình trẻ con thật! - anh gầy lại nói với con trai - Đừng sợ con! Con lại gần bác thêm chút nữa nào! Còn đây là vợ mình…

Anh béo hoan hỉ lên tiếng:

-  Bây giờ anh sống ra sao? Làm ở đâu? Thành đạt rồi chớ?

- Mình cũng đi làm. Hai năm nay là nhân viên bậc 8, cũng được mề đay hạng năm. Vợ mình dạy nhạc. Mình còn làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm, mình bán 1 rúp 1 cái. Cũng cố sống tàm tạm cậu ạ. Trước đây mình làm ở cục, giờ mình được chuyển về đây, được thăng lên 1 bậc. Còn cậu sao rồi? Chắc là viên chức cỡ bậc 5 rồi chớ, phải không?

- Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa. Mình là viên chức bậc 3 có hai mề đay của nhà nước.

Anh gầy bỗng tái mặt, ngây người ra, nhưng lát sau thì toét miệng cười, mắt sáng lên, toàn thân lại co rúm, so vai rụt cổ, khúm núm:

- Dạ, bẩm quan trên… tôi… tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn… nghĩa là bạn từ nhỏ, thế rồi, bỗng nhiên bạn làm chức to thế…

Anh béo cau mặt:

- Cậu nói gì thế? Sao cậu lại nói cái giọng đó? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ mà, việc gì cậu lại giở cái giọng quan chức thế?

Anh gầy cười hì hì:

- Dạ, bẩm quan… Quan lớn dạy gì ạ? - anh gầy càng rúm ró - quan lớn chiếu cố cho như thế này, kẻ bần dân này đội ơn lắm lắm. Dạ, bẩm quan lớn, thưa đây là con trai tôi, Naphanain… và đây là vợ tôi, Luida.

Anh béo bực mình định quở trách thêm. Tuy nhiên khi nhận thấy trên mặt anh gầy toát ra vẻ nô lệ kính cẩn đến mức làm cho anh béo vừa thất vọng vừa buồn nôn. Anh béo vội ngoảnh mặt đi và đưa tay chào từ biệt anh gầy.

Anh gầy sung sướng nắm mấy ngón tay anh béo, cúi gập người xuống chào, cười hì hì. Cả vợ và con anh gầy cũng ngạc nhiên đầy thú vị.

(Tuyển tập truyện ngắn của Sê – khốp)

35. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?

Ngôi thứ nhất

Ngôi thứ ba

Ngôi thứ hai

Ngôi thứ tư

Xem đáp án
B. Ngôi thứ ba
36. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Nhân vật chính trong truyện ngắn trên là

Anh béo

Gia đình anh gầy

Anh gầy

Anh béo và anh gầy

Xem đáp án

D. Anh béo và anh gầy

37. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Thái độ ban đầu của anh gầy khi gặp anh béo là gì?

Lạ lẫm, bất ngờ

Lo lắng, sợ sệt

Sửng sốt, mừng rỡ

Sửng sốt, chán ghét

Xem đáp án

C. Sửng sốt, mừng rỡ

38. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Tại sao anh gầy “bỗng tái mặt, ngây người ra, nhưng lát sau thì toét miệng cười, mắt sáng lên, toàn thân lại co rúm, so vai rụt cổ, khúm núm”?

Anh béo tiết lộ mình là quan chức bậc ba và có hai mề đay của nhà nước.

Anh béo tiết lộ mình là quan chức bậc năm và có hai mề đay của nhà nước.

Anh béo tiết lộ mình có chức vụ cao hơn anh gầy rất nhiều và có quyền hạn cao trong nhà nước.

Anh béo tiết lộ mình đã có chức vụ và cả cơ ngơi đồ sộ.

Xem đáp án

A. Anh béo tiết lộ mình là quan chức bậc ba và có hai mề đay của nhà nước.

39. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Vì sao anh béo bỗng cảm thấy “vừa thất vọng vừa buồn nôn”?

Khi nhận thấy trên mặt anh gầy toát ra vẻ nô lệ kính cẩn của anh gầy.

Khi anh gầy bỗng quay ngoắt thái độ, gọi anh béo là quan lớn và trên gương mặt anh gầy toát ra vẻ nô lệ, kính cẩn.

Khi anh gầy bỗng nhiên trở nên xa cách và có thái độ nhờ vả anh béo.

Khi thấy anh gầy không còn vô tư, hồn nhiên như xưa khi làm bạn với anh béo.

Xem đáp án

B. Khi anh gầy bỗng quay ngoắt thái độ, gọi anh béo là quan lớn và trên gương mặt anh gầy toát ra vẻ nô lệ, kính cẩn.

40. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hình tượng hai nhân vật anh béo và anh gầy có ý nghĩa gì?

Tác giả đã thể hiện sự châm biếm một cách tinh tế qua hai nhân vật béo và gầy. Một người là kẻ ở trên nhưng vẫn giữ thái độ và niềm vui khi gặp bạn bè. Một người là đại diện cho tầng lớp lao động nghèo tự bán bản thân mình cho quyền lực.

Tác giả đã thể hiện sự châm biếm một cách tinh tế qua hai nhân vật béo và gầy. Người to béo thì có cuộc sống nhẹ nhàng, không phải lo toan cuộc sống đầy đủ, sung túc. Ngược lại, anh gầy lại là nô lệ của quyền lực.

Tác giả đã thể hiện sự châm biếm một cách tinh tế qua hai nhân vật béo và gầy. Thái độ phóng khoáng, niềm nở hết lòng vì tình nghĩa của anh béo. Và sự đối lập mang tính tự ti, tâm lí nô lệ, khuất phục trước quyền lực của anh gầy cũng là tâm lí của nhiều người Nga thời đó.

Tác giả đã thể hiện sự châm biếm một cách tinh tế qua hai nhân vật béo và gầy. Người to béo thì có cuộc sống nhẹ nhàng, không phải lo toan cuộc sống đầy đủ, sung túc. Người gầy là đại diện cho tầng lớp lao động nghèo tự bán bản thân mình cho quyền lực.

Xem đáp án

C. Tác giả đã thể hiện sự châm biếm một cách tinh tế qua hai nhân vật béo và gầy. Thái độ phóng khoáng, niềm nở hết lòng vì tình nghĩa của anh béo. Và sự đối lập mang tính tự ti, tâm lí nô lệ, khuất phục trước quyền lực của anh gầy cũng là tâm lí của nhiều người Nga thời đó.

41. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Chủ đề của truyện ngắn trên là gì?

Lên án xã hội Nga lúc bấy giờ với nhiều con người có tâm lí nô lê, tính cách què quặt đang ngày càng thu mình trong bóng tối, không có ánh sáng của sự chân thành.

Lên án xã hội Nga lúc bấy giờ với nhiều con người khinh tình nghĩa trọng quyền lực.

Lên án xã hội Nga lúc bấy giờ với nhiều con người sống giả tạo, thảo mai và chỉ ham mê quyền lực.

Lên án xã hội Nga lúc bấy giờ với nhiều con người coi trọng quyền lực, ra vẻ giàu sang và quên đi tình nghĩa xưa.

Xem đáp án

A. Lên án xã hội Nga lúc bấy giờ với nhiều con người có tâm lí nô lê, tính cách què quặt đang ngày càng thu mình trong bóng tối, không có ánh sáng của sự chân thành.

42. Tự luận
• 1 điểm
Sự khác biệt giữa anh béo và anh gầy được thể hiện qua những chi tiết nào?
Xem đáp án

Anh béo

Anh gầy

+ Có điều kiện sống tốt:“Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam”

+ không coi thường bạn bè.

+ khi gặp lại bạn bè, anh mừng rỡ reo lên.

+ tâm trạng trùng xuống khi bạn mình thay đổi, từ hào hứng vui vẻ thành buồn nôn, chán nản.

+ nhom nhem:“Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê”

+ lỉnh kỉnh đồ đạc, gánh nặng

+ anh gầy tái mét khi nhận ra bạn có địa vị cao hơn mình: “mắt anh ta sáng lên, sau đó lại cuống quýt mâu thuẫn”

+ cách xưng hô trở nên miễn cưỡng, hoa mĩ và xa cách sau khi biết bạn có địa vị cao hơn mình.

43. Tự luận
• 1 điểm

Chi tiết “Mấy thứ vali, hộp túi của anh ta cũng co rúm lại, nhăn nhó” gợi tả điều gì? Nêu ý nghĩa của chi tiết đó.

Xem đáp án

- Chi tiết “Mấy thứ vali, hộp túi của anh ta cũng co rúm lại, nhăn nhó” nó gợi tả xã hội Nga bị bao trùm bởi nỗi sợ, sự e dè quyền lực.

- Bóng tối ấy không chỉ xuất hiện ở con người từ thế hệ lớn tuổi đến thế hệ mầm non mà ngay cả cảnh vật cũng bị nhuốm màu.

- Dường như cả xã hội Nga đang bị ngập chìm trong đó, không có ánh sáng của sự chân thành.

44. Tự luận
• 1 điểm

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy trình bày suy nghĩ về nghệ thuật truyện ngắn Anh béo và anh gầy.

Xem đáp án

- Nghệ thuật trong truyện là nghệ thuật tương phản đối lập.

- Biểu hiện:

+ Ngay từ nhan đề của bài, đặt giữa hai hình tượng “anh béo” - “anh gầy” tác giả đã dự đoán trước được số phận của hai con người này.

+ Người to béo thì có cuộc sống nhẹ nhàng, không phải lo toan, ngược lại anh gầy lại tỉ lệ nghịch với ngoại hình của anh gầy.

+ Điều đó còn được thể hiện qua việc ban đầu thì anh gầy vui vẻ, niềm nở với người bạn cũ, khi biết được anh béo là viên chức bậc ba, anh lại tỏ thái độ khúm lúm trước quyền lực, tâm lý nô lệ. Không khí khi mới gặp lại thì sôi nổi, lúc chia tay lại trùng xuống.

+ Nổi bật hai tính cách, hai thái độ để cho thấy được tâm lí nô lệ, phụ thuộc, thiếu đi sự chân thành của người lao động nghèo ở Nga lúc bấy giờ.

45. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội em quan tâm.

Xem đáp án

Tuổi học trò, ít nhất một lần trong thời học sinh bạn đã lỡ cảm nắng một cô nàng dễ mến hay một anh chàng đẹp trai, thư sinh nào đó. Và có lẽ, đó là thứ tình cảm trong sáng, thiêng liêng nhất mà các bạn học sinh không thể nào quên. Các bạn biết đấy, tình yêu là điều rất khó để giải nghĩa và tình yêu tuổi học trò cũng vậy. Có những cung bậc cảm xúc đan xen, vui, buồn, giận, hờn ... là thứ mà bạn cảm nhận được. Đúng vậy, mỗi con người chúng ta đều trưởng thành từ những kỉ niệm và tình cảm tốt đẹp. Một trong số những thứ tình cảm cao đẹp ấy không thể không nhắc đến chính là tình yêu tuổi học trò.

Tình yêu là vấn đề muôn đời được hầu hết cả xã hội quan tâm. Tình yêu giúp cho sự sống còn người được nối dài, gắn kết với nhau và làm cho cuộc đời trở nên tươi đẹp và hạnh phúc hơn. Mỗi thời đại lại có cách nhìn nhận và quan điểm khác nhau về tình yêu. Đặc biệt hơn chính la vấn đề về tình yêu tuổi học trò. Tình yêu tuổi học trò là tình cảm, cảm xúc, thứ rung động đầu đời của các bạn nam sinh và nữ sinh khi còn cắp sách đến trường, là tình cảm mà khi ta biết yêu thương một người khác giới, luôn muốn cố gắng, hoàn thiện bản thân mình hơn nữa để xứng đáng với người mình thích. Tình yêu tuổi học trò chính là một thứ tình cảm tốt đẹp, để lại cho mỗi người những trải nghiệm cũng như kỉ niệm quý giá. Theo quan điểm của bản thân tôi, tình yêu tuổi học trò là tình cảm trong sáng nhất, đẹp đẽ, thánh thiện và giàu mơ mộng nhất.

Người ta vẫn luôn gọi những tình cảm tinh khôi đó là những "rung động đầu đời". Trong đoi học sinh, có lẽ là đã hơn một lần bạn cảm thấy "rung động" trước một bạn nào đó. Trước những hành động, cử chỉ quan tâm, trước một ánh nhìn đầy trìu mến hay chỉ đơn giản chỉ là một nụ cười thân thiện của người bạn khác giới, tất cả điều đó có thể khiến cho trái tim bạn phải rung lên những cảm xúc của tình yêu. Bạn có thể đã yêu mến người ấy, đã thích người ấy nhưng chưa hẳn đó chạm đến mức tình yêu. Người ấy luôn hiện hữu trong tâm trí của bạn mỗi lúc vui buồn, bạn luôn để ý và quan tâm đến người ấy từng li từng tí. Bạn buồn vì người ấy tỏ ra lạnh lùng, thờ ơ trước những cử chỉ quan tâm của bạn. Đó chính là những biểu hiện của tình cảm yêu mến nhưng chưa hẳn là tình yêu đích thực.

Ở lứa tuổi học trò như tôi và các bạn, tình yêu không phải là một điều xấu. Đó chỉ đơn giản là những rung động đầu đời rất đỗi đáng yêu, dễ mến của con người. Có rất nhiều người còn cảm thấy tiếc nuối về những tình cảm trong sáng đó khi đã qua rồi thời tuổi học trò. Bởi vậy, chúng ta cần phải tôn trọng, nâng niu thứ tình cảm đó. Đừng để khi thời gian đã qua rồi, ngoảnh đầu nhìn lại, ta mới cảm thấy nuối tiếc. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng nên coi tình yêu là tất cả. Bạn có thể dành thời gian để quan tâm, để ý đến người ấy nhưng đừng quên rằng nhiệm vụ chính của mình vẫn là việc học tập để xây dựng tương lai cho bản thân mình. Bạn giống như một con ong chăm chỉ, cần mẫn, mỗi ngày hút mật để xây dựng tương lai của mình, để cho cuộc đời tỏa hương thơm ngát. Tuy nhiên dù chỉ là một chút lầm lỡ, một giây phút bồng bột trong tình yêu cũng đủ làm cho tòa lâu đài tương lai mà bạn xây dựng bị sụp đổ.

Thay vì để tình yêu làm mất tương lai của bản thân, chúng ta hãy biến nó thành động lực để giúp cho cả hai cùng tiến bộ, cùng giúp đỡ nhau trong học tập, trong cuộc sống. Để từ đó có thể là nền tảng để xây dựng một mối quan hệ lâu dai, bền chặt. Tình yêu học trò chính là những kỉ niệm đẹp khắc sâu trong tâm trí con người, nó khiến cho chúng ta có một phần kí ức tươi đẹp để nhớ về. Chính vì vậy mà bạn hãy biến nó thành những kỉ niệm đáng nhớ, đừng vì quá chú tâm vào yêu đương mà đánh mất tương lai của bản thân. Hãy để tình yêu trở thành động lực và kỉ niệm tươi đẹp nhất trong lứa tuổi học trò.

Mỗi người sẽ có một cách hiểu và cảm nhận về tình yêu tuổi học trò khác nhau, các bậc phụ huynh cũng sẽ cảm thấy lo lắng cho tương lai của con mình vì những hành động, việc làm thể hiện tình yêu có thể ảnh hưởng đến việc học. Bởi nhiều bạn học sinh đã khiến cho nét đẹp đẽ của tình yêu tuổi học trò trở nên xấu xí và có phần phản cảm. Chỉ vì các bạn yêu đương sớm mà trở nên chểnh mảng, thờ ơ chuyện học tập khiến cho thành tích càng ngày càng đi xuống. Điều đó khiến cho ba mẹ và thầy cô phải lo lắng cho mình. Bên cạnh đó, việc các bạn thể hiện tình cảm một cách công khai, thái quá hay thậm chí quá lố lăng đã khiến cho quan niệm về tình yêu tuổi học trò trở nên lệch lạc và bị biến chất, khiến cho nhiều người có cái nhìn không tốt đẹp về tình yêu tuổi học trò.

Tình yêu tuổi học trò là một điều tất yếu trong quy luật trưởng thành của con người. Những bạn trẻ phải biết rõ được giới hạn, biết phân biệt đúng sai trước khi hành động. Mỗi chúng ta ở lứa tuổi học trò cần phải biết tôn trọng và nâng niu những tình cảm ấy để biến nó thành những kỉ niệm đẹp và đáng nhớ của tuổi học trò. Đừng để khi thời gian qua qua đi rồi, ngoảnh đầu nhìn lại, ta mới cảm thấy nuối tiếc một thời đã qua.

46. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học (Chủ đề và nhân vật trong tác phẩm truyện).

Xem đáp án

Nguyễn Tuân được đánh giá là “nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp”, ông có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với nền văn học Việt Nam. Trước cách mạng ông thoát li hiện thực, tìm về một thời vang bóng, tập “Vang bóng một thời” chính là tập truyện tiêu biểu nhất cho phong cách của ông trước cách mạng. Trong đó ta không thể không nhắc đến “Chữ người tử tù” với niềm trân trọng thú viết chữ tao nhã truyền thống.

“Chữ người tử tù” được in trong tập “Vang bóng một thời” xuất bản năm 1940, tác phẩm khi xuất hiện trên tạp chí Tao đàn có tên “Dòng chữ cuối cùng”, sau in thành sách đổi thành “Chữ người tử tù”. Tác phẩm đã truyền tải đầy đủ tinh thần của tác giả, cũng như giá trị nhân văn của tác phẩm. “Chữ” là hiện thân của cái đẹp, cái tài sáng tạo ra cái đẹp, cần được tôn vinh, ngợi ca. “Người tử tù” là đại diện của cái xấu, cái ác, cần phải loại bỏ khỏi xã hội. Ngay từ nhan đề đã chứa đựng những mâu thuẫn gợi ra tình huống truyện éo le, gợi dậy sự tò mò của người đọc. Qua đó làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm: tôn vinh cái đẹp, cái tài, khẳng định sự bất tử của cái đẹp trong cuộc đời.

Tác phẩm có tình huống gặp gỡ hết sức độc đáo, lạ, chúng diễn ra trong hoàn cảnh nhà tù, vào những ngày cuối cùng của người tử tù Huấn Cao, một người mang chí lớn và tài năng lớn nhưng không gặp thời. Vị thế xã hội của hai nhân vật cũng có nhiều đối nghịch. Huấn Cao kẻ tử từ, muốn lật đổ trật tự xã hội đương thời. Còn quản ngục là người đứng đầu trại giam tỉnh Sơn, đại diện cho luật lệ, trật tự xã hội đương thời. Nhưng ở bình diện nghệ thuật, vị thế của họ lại đảo ngược nhau hoàn toàn: Huấn Cao là người có tài viết thư pháp, người sáng tạo ra cái đẹp, còn quản ngục là người yêu và trân trọng cái đẹp và người sáng tạo ra cái đẹp. Đó là mối quan hệ gắn bó khăng khít chặt chẽ với nhau. Với tình huống truyện đầy độc đáo, đã giúp câu chuyện phát triển logic, hợp lí đẩy lên đến cao trào. Qua đó giúp bộc lộ tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề của truyện: Sự bất tử của cái đẹp, sự chiến thắng của cái đẹp. Sức mạnh cảm hóa của cái đẹp.

Nổi bật trong tác phẩm chính là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp và nổi tiếng khắp nơi: “người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” tiếng tăm của ai khiến ai ai cũng biết đến. Cái tài của ông còn gắn liền với khát khao, sự nể trọng của người đời. Có được chữ của Huấn Cao là niềm mong mỏi của bất cứ ai, được treo chữ của ông trong nhà là niềm vui, niềm vinh dự lớn. Cái tài của Huấn Cao không chỉ dừng lại ở mức độ bình thường mà đã đạt đến độ phi thường, siêu phàm.

Không chỉ tài năng, vẻ đẹp của Huấn Cao còn là vẻ đẹp của thiên lương trong sáng: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. “Khoảnh” ở đây có thể hiểu là sự kiêu ngạo về tài năng viết chữ, bởi ông ý thức được giá trị của tài năng, luôn tôn trọng từng con chữ mình viết ra. Mỗi chữ ông viết như một món quà mà thượng đế trao cho bản thân nên chỉ có thể dùng những chữ ấy để trao cho những tấm lòng trong thiên hạ. Trong đời ông, ông không vì uy quyền mà trao chữ cho ai bao giờ: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Đặc biệt, tấm lòng thiên lương ấy còn thể hiện trong việc ông đồng ý cho chữ viên quản ngục: “Ta cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, tấm lòng của Huấn Cao với những con người quý trọng cái đẹp, cái tài.

Ở Huấn Cao ta còn thấy được trong ông vẻ đẹp của một con người có nghĩa khí, khí phách hơn người. Ông là người giỏi chữ nghĩa nhưng không đi theo lối mòn, dám cầm đầu một cuộc đại phản, đối đầu với triều đình. Khi bị bắt ông vẫn giữ tư thế hiên ngang, trước lời đe dọa của tên lính áp giải tù, Huấn Cao không hề để tâm, coi thường, vẫn lạnh lùng chúc mũi gông đánh thuỳnh một cái xuống nền đá tảng… Khi viên quản ngục xuống tận phòng giam hỏi han ân cần, chu đáo, Huấn Cao tỏ ra khinh bạc đến điều: “Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn có một điều, là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Vào thời điểm nhận tin dữ (ngày mai vào kinh chịu án chém), Huấn Cao bình tĩnh, mỉm cười.

Và đẹp đẽ nhất là cảnh cho chữ, cả ba vẻ đẹp của ông được hội tụ và tỏa sáng. Trên tấm vải trắng còn nguyên vẹn lần hồ, chữ Huấn Cao “vuông tươi tắn” nói lên hoài bão, tung hoành của một con người có khí phách. Ông không để tâm đến mọi điều xung quanh chỉ tập trung vào việc tạo ra những nét chữ tuyệt tác. Với việc quản ngục xin chữ, Huấn Cao cũng hiểu ra tấm lòng của quản ngục, trong những giây phút cuối đời đã viết chữ dành tặng viên quản ngục, dành tặng cho tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ.

Viên quản ngục là người có số phận bi kịch. Ông vốn có tính cách dịu dàng, biết trọng những người ngay thẳng, nhưng lại phải sống trong tù – môi trường chỉ có tàn nhẫn, lừa lọc. Nhân cách cao đẹp của ông đối lập với hoàn cảnh sống tù đầy, bị giam hãm. Ông tự nhận thức về ki kịch của mình, bi kịch của sự lầm đường lạc lối, nhầm nghề. Nhưng dù vậy, trong quản ngục vẫn giữ được tâm hồn cao đẹp, tâm hồn của một người nghệ sĩ. Ông khao khát có được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà, và nếu không xin được chữ ông Huấn quả là điều đáng tiếc. Nhưng xin được chữ của Huấn Cao là điều vô cùng khó khăn: bản thân ông là quản ngục, nếu có thái độ biệt nhỡn, hay xin chữ kẻ tử tù – Huấn Cao, chắc chắn sẽ gặp tai vạ. Hơn nữa Huấn Cao vốn “khoảnh” không phải ai cũng cho chữ.

Trong những ngày cuối cùng của ông Huấn, quản ngục có hành động bất thường, biệt nhỡn với người tử tù. Cũng như Huấn Cao, vẻ đẹp tâm hồn của quản ngục được thể hiện rõ nhất ở đoạn cho chữ. Ông trân trọng, ngưỡng mộ nên đã bất chấp tất cả để tổ chức một đêm xin chữ chưa từng có. Ba con người, ba nhân cách cao đẹp chụm lại chứng kiến những nét chữ dần dần hiện ra…, viên quản ngục khúm lúm cất từng đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, với thái độ sùng kính, ngưỡng mộ cái đẹp. Trước những lời giảng giải của Huấn Cao, viên quản ngục chắp tay vái người tù một vái, “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Tác phẩm đã sáng tạo tình huống truyện vô cùng độc đáo. Với nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, mỗi nhân vật mang một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp thiên lương, khí phách và trọng đãi người tài. Đồng thời tác phẩm cũng thành công khi Nguyễn Tuân đã gợi lên không khí cổ xưa nay chỉ còn vang bóng. Nhịp điệu câu văn chậm, thong thả, góp phần phục chế lại không khí cổ xưa của tác phẩm. Bút pháp đối lập tương phản vận dụng thành thục, tài hoa.

Qua truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiên lương với cái xấu xa, tàn nhẫn. Đồng thời ông cũng thể hiện tấm lòng trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, qua đó kín đáo bộc lộ lòng yêu nước. Với nghệ thuật xây dựng tình huống đắc sắc, ngôn ngữ tài hoa đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.