Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo có đáp án
50 câu hỏi
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
LẠITHƯ CHO VƯƠNG THÔNG
(Nguyễn Trãi)
Tôi nghe: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy. Cho nên người dùng binh giỏi không lấy sự thắng nhỏ mà mừng, không lấy sự thua to mà sợ. Nay các ông lấy tàn tốt vài nghìn, giữ một thành trơ trọi, lương sắp hết và viện chưa thấy đến, chúng lìa lòng mà quân ngày ít đi, cái thế mạnh yếu được thua, có thể ngồi mà tính được. Huống hồ nước An – nam binh tướng thì nhiều, tâm lực đều nhau, chiến khí càng tinh, sĩ khí càng mạnh, kẻ sĩ trí mưu, các tướng sĩ vũ dũng, chẳng khác cây rừng rậm rạp, răng lược khít nhau vậy. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu.
Vừa rồi mấy người kì tướng của ta, tuổi trẻ tính ngông, không theo ước thúc, khinh chiến lỡ cơ, các ông lấy thế làm đắc chí. Nay đem những tướng hiệu ở các nơi Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn, Nghệ cùng ở các sở Tiền Vệ, Tam Giang, Xương Giang, Trần Di (1) và Thái đô đốc cùng các quan Tam ty (2) chỉ huy, thiên bách hộ, ước hơn vài trăm người, quân nhân một vạn vài nghìn người, trai gái lớn nhỏ hơn ba vạn người bị các ông làm lầm lỡ, mà so với vài người tỳ tướng của ta, thì ai hơn ai kém, ai được ai thua? Thế mà ông không hề lấy thế làm lo, lại còn giương vây nói mẽ, có khác gì nhà đương cháy mà chim én còn nhơn nhơn vui vẻ cùng nhau, há chẳng đáng cười lắm sao! Vả nay ở miền Lưỡng
Quảng nghe tin quân ta thừa thắng ruổi dài, bọn đạo tặc đã nhân dịp mà trỗi dậy. Tích Lịch đại vương(3) đã giữ đất xưng đế, mà binh tượng của ta ngày đêm tiến đánh, Bằng tường(4) Long Châu(5) ta đều lấy được. Nay ông vẫn còn ngày ngày mong đợi viện binh mà nói phao là viện binh sắp đến, thì có khác gì trong mộng nói chuyện mộng không? Lại càng đáng cười lắm!
Ngày trước Thái đô đốc và các chỉ huy thiên vạn hộ(6) cùng các quan phủ huyện châu có bảo tôi đem sự lý trong tờ chiếu của Thái tôn hoàng đế cho lập họ Trần để vào Kinh(7) mà tâu bày và tố cáo việc quan Tổng binh không biết trấn thủ Nam phương(8) lại theo kế của người khác, tự gửi văn thư đi thu binh mã các vệ giả làm giảng hòa rồi thì bội ước để đến nỗi bọn ấy nhao nhao kêu la thất sở. Song tôi nghĩ cứ tờ tâu ngày trước bắt được thì thấy tổng binh đại nhân thực có lòng thành, chỉ vì bọn họ Phương họ Mã làm mê hoặc mới nên nỗi thế. Bởi vậy lời bàn ấy chưa quyết. Nếu ngài nay lại biết theo lời ước cũ, thì nên cho quân về ngay, cùng hòa giải với Thái đô đốc, vừa để thoát khổ can qua cho cho hai nước, vừa để giải mối oán bị bán rẻ của Thái công. Như thế thì trọn quân mà khỏi họa, há chẳng hay sao! Nhược bằng cứ chấp mê mà giữ đến chết không biết biến thông thì cũng như câu Đường Thái Tôn bảo “tận trung vô ích” (hết trung không ích gì) vậy. Vả kẻ đại trượng phu làm việc nên phải lỗi lạc đường hoàng.
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái tromg một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phả là việc làm của bậc đại trượng phu!
(Trích Lại thư dụ Vương Thông, Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội)
Chú thích:
(1): Vệ Trần – di đóng ở ải Trấn- di phủ Lạng Sơn, tức ải Chi Lăng thuộc huyệnChi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
(2): Tam ty là cơ quan đứng đầu chính quyền đô hộ của nhà Minh ở nước ta
(3): Tích – lịch đại vương có lẽ là một thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa ở vùngLưỡng Quảng
(4): Bằng Tường thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(5): Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(6): Trong sách in là binh, nhưng có lẽ in nhầm chữ hộ
(7): Tức là Yên – kinh (Bắc – Kinh), thủ đô của nhà Minh
(8): Trong sách in là Bắc phương thì không hợp. Chúng tôi chữa lại làm Nam phương.
Văn chính luận
Thơ chữ Hán
Thơ Nôm
Tập thơ Môn hoa mộc
A. Văn chính luận
Đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản trên là:
Tướng giặc, khi chúng hung hăng sang xâm chiếm nước ta
Tướng giặc, khi chúng dẫn viện binh tới
Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
Tướng giặc, khi chúng chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớn
C. Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
So sánh, đối lập
Nhân hóa, so sánh
Nói quá, đối lập
Đối lập, ẩn dụ
D. Đối lập, ẩn dụ
Muốn đánh hãy quyết tử
Nên cho lui quân
Quân giặc đừng vội huênh hoang
Đừng nói về mộng tưởng
Thao tác đối sánh
Thao tác phân tích
Thao tác bình luận
Thao tác chứng minh
A. Thao tác đối sánh
Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng cách nói nào? Nhằm mục đích gì?
Dùng hình ảnh gáo nước khẳng định thắng lợi của quân giặc quá bé nhỏ
Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
Dùng nghệ thuật đối lập khẳng định ta chỉ tạm thua
Dùng hình ảnh biển cả để khẳng định quân ta rất mạnh
B. Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
Mục đích của luận điểm thứ 3 trong văn bản là:
Đừng nói về mộng tưởng không có thật.
Tướng giặc nên cho lui quân về ngay.
Muốn chiến thắng cần phải quyết tử.
Quân giặc đừng vội huênh hoang với chiến thắng nhỏ.
Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi ở đoạn văn bản sau và chỉ ra vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản:
“Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái trong một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phải là việc làm của bậc đại trượng phu!”
- Nghệ thuật lập luận:
+ Chọn cách tôn trọng đối phương: tùy lựa chọn
+ Lồng ghép định hướng thể hiện lòng tự tôn của đối phương bằng lối nói tự trọng của những người cầm quân: quyết tử chiến; quyết sống mái
+ Dùng thủ pháp đối lập (quyết chiến lớn lao hành động đánh lén); hình ảnh chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, đàn bà “khíchtướng” để đối phương phải tỏ thái độ, hành động.
- Vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản: đoạn này nằm cuối văn bản thể hiện sự nhất quán với toàn văn bản về thái độ đối với tướng giặc: coi thường, mỉa mai…; về mục đích khẳng định: không thể thắng được quân ta, sự thất bại không thể tránh khỏi của kẻ thù;…
Từ văn bản “Lại thư cho Vương Thông” của Nguyễn Trãi đã giúp em nhận thấy những tài năng nào của Nguyễn Trãi?
- Tài năng của Nguyễn Trãi:
+ Về quân sự, chính trị: am hiểu đối phương, thời cuộc, thế trận (lực lượng hiện tại của đôi bên)
+ Về văn chương: tài thuyết phục biện luận (sử dụng nhiều thao tác lập luận, lí lẽ sắc bén, lập luận logic; bằng chứng
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Trần trần mựa cậy những ta lành,
Phúc hoạ tình cờ xẩy chửa đành.
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,
Lòng người quanh nữa nước non quanh.
Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn,
Nếu có sâu thì bỏ canh.
Ở thế an nhàn chăng có sự,
Ngàn muôn tốn nhượng chớ đua tranh.
(Bảo kính cảnh giới bài 9, Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh biên soạn,NXB Khoa học xã hội, 1976)
Chú thích:
– Trần trần: Tự nhiên, chất phác, ý chỉ lối sống có sao là vậy
– Mựa: chớ đừng – mựa cậy: Đừng ỷ vào, đừng cậy vào
– Tốn: từ tốn; nhượng: khiêm nhượng – ngàn muôn tốn nhượng: Muôn đời sống từ tốn, khiêm nhường
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Thất ngôn xen lục ngôn
Thất ngôn bát cú Đường luật
Thơ trường thiên bảy chữ
1 – 2 – 4 – 6
1 – 2 – 4 – 6 – 8
1 – 3 – 5 – 7
1 – 2 – 3 – 4 – 6
B. 1 – 2 – 4 – 6 – 8
Đề - Thực – Luận – Kết
Bốn câu đầu – Bốn câu sau
Hai câu đầu – Sáu câu sau
Sáu câu đầu – Hai câu sau
Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ gì?
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,
Lòng người quanh nữa nước non quanh.
Phép đối – Phép điệp – Nhân hóa – Hoán dụ - Liệt kê
Phép đối – So sánh – Nhân hóa - Ẩn dụ - Hoán dụ
Phép đối – Phép điệp – So sánh – Nhân hóa - Ẩn dụ
Phép đối – So sánh – Nhân hóa – Hoán dụ - Liệt kê
C. Phép đối – Phép điệp – So sánh – Nhân hóa - Ẩn dụ
Hai câu thơ sau có thể hiểu như thế nào?
Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn,
Nếu có sâu thì bỏ canh.
Không đề phòng lúc bé, không thể lớn lên được, bát canh có sâu thì ắt phải bỏ đi.
Tu chí khi nhỏ thì mới có thể thành người, chỉ cần sai phạm thì đều là thứ bỏ đi.
Lúc nhỏ không đề phòng, không thể làm việc lớn, đã mắc sai phạm thì đều là thứ bỏ đi.
Lúc nhỏ không rèn luyện, tu chí, không thành người khi lớn lên, bát canh có sâu thì ắt phải bỏ đi.
B. Tu chí khi nhỏ thì mới có thể thành người, chỉ cần sai phạm thì đều là thứ bỏ đi.
Nội dung chính của bài thơ trên là gì?
Những chiêm nghiệm về đời, về người và thái độ đề cao lối sống an nhàn, không bon chen của Nguyễn Trãi.
Lời khuyên về lối sống không bon chen, an nhàn trước thế sự của Nguyễn Trãi.
Thái độ sống an nhàn, hưởng lạc không bon chen thế sự của Nguyễn Trãi.
Lời phê phán lòng người và miệng đời, thái độ sống an nhàn không bon chen của Nguyễn Trãi.
A. Những chiêm nghiệm về đời, về người và thái độ đề cao lối sống an nhàn, không bon chen của Nguyễn Trãi.
Theo em, cảm hứng chủ đạo của bài thơ trên là gì?
Lí tưởng về cuộc sống tốt đẹp và những con người tốt đẹp sự lo sợ của Nguyễn Trãi trước lòng người đen bạc của xã hội đương thời.
Phê phán lối sống đen bạc của xã hội đương thời.
Khát khao rèn luyện các lí tưởng cao đẹp và phê phán lối sống đen bạc của xã hội đương thời.
Đề cao lối sống an nhàn và tránh xa sự bon chen của xã hội đương thời.
A. Lí tưởng về cuộc sống tốt đẹp và những con người tốt đẹp sự lo sợ của Nguyễn Trãi trước lòng người đen bạc của xã hội đương thời.
Phân tích giá trị biểu đạt của các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,
Lòng người quanh nữa nước non quanh.
- Phép đối: Miệng thế nhọn – Lòng người quanh/ chông mác nhọn – nước non quanh
- Phép điệp: Nhọn, quanh - So sánh: Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn/ Lòng người quanh nữa nước non quanh
- Ẩn dụ: Chông mác nhọn – Lời nói sắc bén, Nước non quanh – Không thẳng thắn, chính trực.
=> Chiêm nghiệm về đời về người, miệng đời thế gian và lòng người không phải ai cũng thẳng thắn, chính trực, đôi khi cũng như lưỡi chông mác sắc bén có thể gây tổn thương, đau đớn cho chúng ta.
Cảm nhận của em về hai câu thơ:
Ở thế an nhàn chăng có sự,
Ngàn muôn tốn nhượng chớ đua tranh.
Lối sống an nhàn, tránh bon chen thế sự, không bon chen sự đời mà tận hưởng cuộc sống tu chí của riêng mình.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy trình bày quan điểm của mình về vấn đề: Để không bị ngả nghiêng trước những lời phán xét của người khác!
Tin tưởng vào chính mình, không nên bị ảnh hưởng bởi những lời phán xét đến con người và bản chất thiện lương, tốt đẹp của mình. Những lời phán xét nếu để hạ bệ chúng ta thì ta càng cần mạnh mẽ để vượt qua và sống với lí tưởng, niềm tin của mình.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con.
Tháng ngày con mẹ lớn khôn,
Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha,
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...
(Trích bài thơ “Nằm trong tiếng nói yêu thương”- Huy Cận)
Miêu tả
Tự sự
Nghị luận
Biểu cảm
Tự do
Song thất lục bát
Lục bát
Thất ngôn tứ tuyệt
Điệp ngữ
Ẩn dụ
Nhân hóa
Nói quá
So sánh
Nhân hóa
Liệt kê
Ẩn dụ
B. Nhân hóa
Tác dụng của tiếng Việt được thể hiện trong hai câu thơ
“Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...”là:
Giúp con người bộc lộ tâm tư, tình cảm của chính mình.
Thể hiện truyền thống của ngườiViệt.
Giúp con người truyền đạt và trao đổi thông tin với nhau.
Là nét đẹp làm nên văn hóa đất nước.
A. Giúp con người bộc lộ tâm tư, tình cảm của chính mình.
Tác dụng của dấu chấm lửng trong câu thơ: “Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ...” là:
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng
Chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ
Còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết
Làm giãn nhịp điệu câu văn
Nội dung của bài thơ trên là gì?
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thông dụng ở nước ta.
Tiếng Việt là ngôn ngữ toàn dân ở nước ta.
Tiếng Việt do ông cha ta sáng tạo và truyền lại cho đời đời con cháu
Tiếng Việt gắn liền với con người Việt Nam từ thuở sơ sinh đến lúc trưởng thành.
D. Tiếng Việt gắn liền với con người Việt Nam từ thuở sơ sinh đến lúc trưởng thành.
Dựa vào nội dung văn bản trên, em hãy nêu một thông điệp mà em rút ra được từ bài thơ “Nằm trong tiếng nói yêu thương”
Thông điệp em rút ra từ bài thơ: tiếng Việt là ngôn ngữ đẹp đẽ,mang trong mình không chỉ là thứ tiếng mẹ đẻ đầy yêu thương mà còn là lời khẳng định chủ quyền, truyền thống văn hóa, bản sắc của riêng dân tộc Việt Nam ta. Tiếng Việt được cha ông ta gìn giữ, bảo vệ và thế hệ trẻ chúng ta cần tự hào, biết ơn và dành tình yêu sâu sắc cho tiếng Việt.
Em hãy nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với tiếng Việt được thể hiện trong bài thơ trên.
Thái độ, tình cảm của tác giả đối với tiếng Việt: Tình yêu tha thiết, niềm tự hào, thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà thơ đối với tiếng Việt.
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
LÁ ĐỎ
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường.
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy cười đôi mắt trong.
1974
(Trích từ Tuyển tập thơ Việt Nam giai đoạn chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Đình Thi, NXB Hội nhà văn, 1999)
Thể thơ 5 chữ
Thể thơ 6 chữ
Thể thơ 7 chữ
Thể thơ tự do
Nhân hóa
So sánh
Hoán dụ
Ẩn dụ
Khoáng đạt, hùng vĩ
Thơ mộng, trữ tình
Khắc nghiệt, dữ dội
Tráng lệ, kì vĩ
Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?
Người lính Trường Sơn
Nguyễn Đình Thi
Em gái tiền phương
Người lính Trường Sơn và em gái tiền phương
Hai câu sau gợi ra điều gì?
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn
Niềm tin và hi vọng vào ngày chiến thắng của người lính Trường Sơn
Lời chào và lời ước hẹn của cô gái tiền phương và người lính Trường Sơn
Lời chào và lời ước hẹn của người lính Trường Sơn với cô gái tiền phương
Lời hẹn ước giữa hai nhân vật trữ tình
Cảm xúc của tác giả qua văn bản là
niềm vui, tự hào và hy vọng vào tương lai của người lính Trường Sơn.
niềm vui, lạc quan, tin tưởng, tự hào và hy vọng vào ngày mai chiến thắng.
niềm vui sướng, hạnh phúc khi gặp lại người em gái tiền phương.
niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến.
B. niềm vui, lạc quan, tin tưởng, tự hào và hy vọng vào ngày mai chiến thắng.
Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh nào?
Bụi Trường Sơn
Đoàn lính Trường Sơn hành quân vội vã
Đoàn quân đi vội vã, bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa
Ào ào lá đỏ
Nội dung của văn bản: Khung cảnh cuộc hành quân hào hùng, thần tốc; vẻ đẹp của thiên nhiên rừng Trường Sơn; vẻ đẹp của người con gái trẻ trung, tươi tắn; niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến.
Câu thơ “Vai áo bạc quàng súng trường” gợi lên vẻ đẹp gì của người con gái tiền phương?
Câu thơ “Vai áo bạc quàng súng trường” gợi lên vẻ đẹp gần gũi, thân thương, vừa mộc mạc, tảo tần vừa kiên cường, rắn rỏi,… của người con gái tiền phương.
Hình ảnh “em gái tiền phương” gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc?
- Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thật đẹp và oai hùng.
- Họ không tiếc tuổi xuân, không sợ nguy hiểm mà đã ra trận. Họ ra đi với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”…
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
XUÂN VỀ
Đã thấy xuân về với gió đông,
Với trên màu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời, đôi mắt trong.
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe,
Mưa tạnh trời quang, nắng mới hoe.
Lá nõn, nhành non ai tráng bạc?
Gió về từng trận, gió bay đi...
Thong thả, dân gian nghỉ việc đồng,
Lúa thì con gái mượt như nhung
Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng,
Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng.
Trên đường cát mịn, một đôi cô,
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc,
Lần lần tràng hạt niệm nam vô.
(Nguyễn Bính, Trích từ Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, NXB Văn học, 1997, tr.351)
Trên đường cát mịn, một đôi cô,
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.
So sánh
Nhân hóa
Liệt kê
Ẩn dụ
Những sự vật, hiện tượng được tác giả nhắc đến mang đặc trưng của mùa xuân là:
Nắng mới hoe, nhành non, lộc non, lá rụng đầy trời, ong bướm đầy vườn
Nắng mới hoe, lá nõn, nhành non, hương ổi chín nồng nàn, bướm vẽ vòng
Nắng mới hoe, lá nõn, nhành non, hoa đào khoe sắc, bướm ong đầy vườn
Nắng mới hoe, lá nõn, nhành non, hoa bưởi, hoa cam rụng ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng
D. Nắng mới hoe, lá nõn, nhành non, hoa bưởi, hoa cam rụng ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng
Tự do.
Thất ngôn.
Thơ mới.
Bảy chữ.
Chọn câu đúng nhất về tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: “Lúa thì con gái mượt như nhung”.
Gợi hình, gợi cảm. Nhấn mạnh vẻ đẹp của cây lúa.
Gợi hình ảnh sinh động về cây lúa.
Gợi cảm xúc về tình yêu đối với cây lúa.
Nhấn mạnh vẻ đẹp của cây lúa.
A. Gợi hình, gợi cảm. Nhấn mạnh vẻ đẹp của cây lúa.
bồi hồi, xúc động.
buồn thương, nuối tiếc.
lưu luyến, vấn vương.
ngỡ ngàng, vui sướng.
Ý nào khái quát nội dung chính của văn bản?
Bức tranh mùa xuân tươi sáng, trong lành, đầy sức sống.
Bức tranh mùa xuân thanh bình, yên ả.
Bức tranh mùa xuân buồn bã, tĩnh vắng.
Bức tranh mùa xuân đơn sơ, mộc mạc.
A Bức tranh mùa xuân tươi sáng, trong lành, đầy sức sống.
Ý nghĩa của hình ảnh đôi mắt người thiếu nữ trong câu “Ngước mắt nhìn giời, đôi mắt trong”.
Vẻ đẹp đôi mắt của cô gái.
Sự quyến rũ, thơ mộng của cô gái.
Vẻ đẹp trong xanh của bầu trời.
Vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của cô gái.
Giá trị biểu cảm của từ láy “xun xoe” trong câu thơ “Từng đàn con trẻ chạy xun xoe”.
Giá trị biểu cảm của từ láy “xun xoe” trong câu thơ “Từng đàn con trẻ chạy xun xoe”:
- Thể hiện tâm trạng nô nức, háo hức…
- Niềm vui sướng của con trẻ khi xuân về.
Nét đẹp văn hóa làng quê Việt Nam qua hai câu thơ:
“Trên đường cát mịn, một đôi cô,
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.”
Nét đẹp văn hóa làng quê Việt Nam qua hai câu thơ: “Trên đường cát mịn, một đôi cô, Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.”:
- Trang phục truyền thống.
- Lễ hội mùa xuân.
Anh/ chị rút ra được thông điệp tích cực gì sau khi đọc văn bản?
Thông điệp ý nghĩa từ bài thơ:
- Sống hòa hợp, gắn bó, yêu thiên nhiên
- Trân trọng những giá trị của làng quê, hồn quê.
Một mùa thu đầy lãng mạn và trữ tình đã trở thành đề tài quen thuộc trong những trang thi ca. Hữu Thỉnh – một cây bút trưởng thành từ quân đội, với những lời thơ nhẹ nhàng, sâu lắng đã mang đến cho độc giả bao cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời. Bằng sự sáng tạo, tâm hồn nhạy cảm trước sự vật, sự tinh tế trong cách sử dụng từ ngữ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh Sang thu thật quen thuộc và cũng thật mới lạ.
Sang thu với chủ đề về thiên nhiên mùa thu kết hợp cùng cảm hứng chủ đạo là những cảm xúc, những rung động tâm hồn trước cảnh vật thiên nhiên trong những ngày hạ mạt thô sơ giữa thời khói lửa. Bên cạnh đó, là những nét độc đáo trong nghệ thuật, cách sử dụng từ ngữ sáng tạo, hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa để làm nổi bật lên chủ thể trữ tình được nói đến trong bài – mùa thu.
Nếu Xuân Diệu lấy sắc “mơ phai” của lá để báo hiệu thu tới thì Hữu Thỉnh cảm nhận qua “hương ổi”, một mùi hương quen thuộc với miền quê Việt Nam: Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se. Động từ mạnh “phả” mang nghĩa bốc mạnh, tỏa ra thành luồng. Người nghệ sĩ ấy không tả mà chỉ gợi liên tưởng cho người đọc về màu vàng ươm, hương thơm nồng nàn của “hương ổi” tỏa ra những cuối hạ, đầu thu đang phả vào trong “gió se”.
Dấu hiệu tiếp theo là hình ảnh sương thu khi Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về. Sương thu đã được nhân hóa qua từ láy tượng hình “chùng chình” diễn tả những bước đi rất thơ, rất chầm chậm để mang mùa thu đến với nước nhà. Chữ “se” hiệp vần với “về” tạo nên những nhịp thơ nhẹ nhàng, thơ mộng, gợi cảm như chính cảm giác mà mùa thu mang đến vậy. Khổ thơ đầu được Hữu Thỉnh cảm nhận ở đa giác quan, thể hiện một cách sáng tạo những đặc trưng, dấu hiệu thu đến nơi quê nhà thanh bình. Không gian nghệ thuật của bức tranh Sang thu được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai:
Sóng được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây màu hạ
Vắt nửa mình sang thu
Nước trong sông trên vùng đất Bắc trở nên màu thu, mang sắc xanh trong lành, êm đềm và tràn đầy. Nó chảy nhẹ nhàng, như muốn dừng lại để chúng ta có thể cảm nhận rõ nhất những nét đẹp của thiên nhiên và khí hậu thu. Tuy nhiên, sự "dềnh dàng" này tạo nên một sự tương phản với sự "vội vã" của những đàn chim đang bay về phương Nam để tránh rét. Nhìn thấy những đàn chim ấy, chúng ta liên tưởng ngay đến bài thơ Thu vịnh của thi sĩ Nguyễn Khuyến: "Một tiếng trên không ngỗng nước nào?".
Dòng sông, đàn chim và những đám mây mùa thu đều trở nên sống động. Tác giả sử dụng từ "vắt" để mô tả những đám mây. Chúng như được treo lơ lửng trên bầu trời, tự do bay xuống, tạo nên một cảm giác tinh nghịch, dí dỏm và tích cực. Bốn câu thơ đã tinh tế miêu tả những biến đổi của cảnh vật từ mùa hè sang mùa thu. Mỗi cảnh vật mang một đặc điểm riêng, nhưng tất cả cùng tạo nên một bức tranh mùa thu đa sắc.
Những dư âm của mùa hạ vẫn hiện hữu: ánh sáng, những cơn mưa và tiếng sấm rền rĩ. Tuy nhiên, tất cả đã trở nên dịu dàng, hiền hòa hơn, không còn gây bất ngờ và căng thẳng nữa. Đồng thời, tác giả còn truyền đạt những suy ngẫm về cuộc sống qua những câu từ nhẹ nhàng ấy.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh là một tác phẩm đáng ngưỡng mộ. Bằng những câu thơ đẹp, tình cảm và sâu lắng, nó mang đến cho ta biết bao cảm xúc. Nhà thơ không cần dùng bút màu để vẽ lên những cảnh thu rực rỡ và tươi đẹp. Chỉ với một vài nét chấm phá, mô tả hạn chế nhưng tác giả đã khéo léo tái hiện được vẻ đẹp thuần khiết, tĩnh lặng, êm dịu và huyền ảo của mùa thu.
Nắng, mưa và tiếng sấm - những hiện tượng thiên nhiên trong thời điểm chuyển mùa từ hạ sang thu - được Hữu Thỉnh cảm nhận một cách tinh tế. Những từ ngữ như "vẫn còn", "đã vơi dần" và "bớt bất ngờ" mang đến sự diễn đạt tuyệt vời về thời gian và sự hiện hữu của các hiện tượng và vật thể trong thiên nhiên, như ánh nắng thu, cơn mưa thu, tiếng sấm đầu thu. Mùa hạ vẫn còn lưu giữ trong không gian. Nắng, mưa và sấm mùa hạ vẫn còn âm thầm lưu luyến trong hàng cây và trời đất. Nhìn vào cảnh vật thu sang, từ những tác phẩm ngoại cảnh đó, nhà thơ đã suy ngẫm về cuộc sống. "Sấm" và "hàng cây đứng tuổi" là những ẩn dụ tạo nên tính hàm nghĩa của bài thơ "Sang thu". Nắng, mưa và sấm là những biến đổi của thiên nhiên, đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng về sự thay đổi, biến động và những khó khăn trong cuộc sống. Hình ảnh "hàng cây đứng tuổi" là một ẩn dụ để ám chỉ những người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ và được rèn luyện.
Em hãy viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm.
Lần gần nhất mà bạn phải ngồi chờ đợi một ai đó là từ khi nào? Có lẽ thói quen đi trễ đã không còn xa lạ gì với mọi người nữa, nó gần như trở thành thói quen của rất nhiều người trong xã hội, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi,…và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh có thói quen đi học muộn với đủ mọi lí do hết sức vô lí được đưa ra.
Quản lý thời gian là một giải pháp cần thiết để khắc phục được tình trạng trễ giờ, quên thời gian,... và cần phải bố trí đủ thời gian vào buổi sáng để sẵn sàng đi học, trì hoãn các công việc không cần thiết cũng như dự đoán được các vấn đề về giao thông. Rất nhiều người không có ý thức sắp xếp, phân bổ thời gian một cách hợp lý, làm việc gì cũng chậm chạp và họ coi việc đi học muộn trở thành một việc hết sức bình thường. Việc đi đúng giờ không chỉ thể hiện bạn là một người văn minh, hiện đại mà còn là một người biết tôn trọng người khác. Chẳng hạn việc bạn thường xuyên đi trễ sẽ làm mất đi uy tín của bạn, lời hứa không còn có trọng lượng và bị đánh giá là người không đáng tin cậy. Nếu bạn nghĩ rằng đi học muộn là việc của bạn và hậu quả ra sao mình bạn chịu thì nhầm rồi nhé. Khi bạn đến lớp muộn, nó không chỉ làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, mà còn ảnh hưởng đến sự tập trung của học sinh khác, cản trở việc học của tập thể và thường ăn mòn tinh thần lớp học. Thầy cô cũng vì thế mà cảm thấy bực mình và không muốn dạy một lớp học mà có nhiều bạn vô ý thức, vô kỉ luật như vậy.
Việc mọi người đi trễ có thể do một sự cố ngẫu nhiên như: ngủ quên, tắc đường, nhỡ xe, thời tiết,…. nhưng cũng có thể đó đã trở thành một thói quen khó có cách nào sửa đổi. Có rất nhiều nguyên nhân khiến các bạn đến lớp muộn, có thể là nguyên nhân chủ quan với lí do làm bài tập ngủ muộn, sáng dậy muộn,… hay nguyên nhân khách quan như việc tắc đường, xe hỏng,…. Nhưng dù có là lý do gì đi nữa thì việc đi trễ vẫn là một thói quen không tốt để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc và chúng ta cần từ bỏ nó ngay từ bây giờ. Tác hại của việc đi trễ là vô cùng lớn. Nếu mỗi người trong xã hội đều không coi trọng việc đúng giờ thì xã hội sẽ không thể nào tiến bộ được. Để tránh tình trạng đi học muộn, các bạn hãy tự chọn cho mình một biện pháp khắc phục phù hợp với bản thân mình, giảm thiểu tối đa thời gian bị mất bởi những lí do không cần thiết.
Đi trễ không chỉ đơn thuần là một thói quen xấu mà còn là căn bệnh bám rễ vào tư tưởng mỗi người và có thể gây nên những hậu quả khó lường nếu không được khắc phục ngay từ bây giờ. Để khắc phục thói quen đi trễ của bản thân, đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình. Thứ nhất, bạn phải biết cách lập kế hoạch phân bổ thời gian trong ngày một cách hợp lí. Nếu bạn là người chậm chạp, lề mề trong việc chuẩn bị trước khi ra khỏi nhà thì hãy nhớ cài đồng hồ hẹn trước một chút thời gian để không bị lỡ hẹn và đi học đúng giờ. Thứ hai, nếu bạn là người đãng trí hay quên thì hãy tự lập cho mình một thời gian biểu khoa học và nhớ thường xuyên theo dõi nó để chắc chắn rằng mình không bỏ quên hay đi trễ một cuộc hẹn hay một buổi học nào cả. Và bạn cũng nên dự trù thời gian để có thể hoàn thành công việc và những việc có khả năng phát sinh thêm, tránh để quỹ thời gian của bạn bị quá tải, trôi đi một cách lãng phí.
Cha ông ta có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Dù biết rằng việc thay đổi thói quen từ thường xuyên đi trễ thành một người luôn đúng giờ là một việc làm rất khó nhưng không phải là không làm được. Vì vậy bạn và tôi, chúng ta đừng để đi muộn trở thành thói quen không thể sửa mà hãy cùng nhau trở thành người có thói quen làm việc khoa học và hiệu quả hơn. Hãy biết quý trọng thời gian!

