Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 10 Cánh diều có đáp án
52 câu hỏi
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Buổi chiều rất êm ả. Về phía tây, mây trời rực rỡ những mầu sáng lạn và ánh nắng chiều loàng một khúc sông, trông như một giải vàng nổi lên giữa đồi ruộng đã bắt đầu tím lại. Một đàn chim đi ăn về vút bay qua ngang đầu, tiếng cánh vỗ rào rào như trận mưa; tôi ngửng lên nhìn theo đến khi cái vết đen linh động của đàn chim lặn hẳn với chân mây.
Tôi theo con đường nhỏ ở ven đồi, qua hai dẫy phố, một cái chợ nhỏ, rồi rẽ về bên phải. Nhà ông Ba ở ngay chân đồi, trông xuống chợ, một cái nhà gạch cũ, tường phủ rêu xanh. Tôi không lưỡng lự, bước đến đẩy cổng vào.
[...] Phố chợ ở ngay đầu cầu. Con sông Cống uốn éo trong dẫy đồi, khuất đi, rồi lại loáng loáng đằng xa, chạy giữa những giải ruộng eo hẹp. Bấy giờ sương đã xuống, dặng núi ở chân trời đã bị che lấp. Chúng tôi dạo qua một lượt ở phố, hay dẩy nhà lá nhỏ bé, nhưng ngăn nắp và sạch sẽ, trông rất vui mắt.
Sẩm tối, ông Ba cùng tôi về, một mâm cỗ đầy đã thấy bầy trên chiếc bàn ở giữa sân, bà Ba đang chạy loăng quăng sửa soạn các thức ăn. Thấy tôi, bà vội vã mời:
- Cậu về ăn cơm. Có bữa ăn xoàng, xin cậu ăn thực bụng nhé.
Tôi mỉm cười, rồi ngồi vào bàn, tuy trong người mệt mỏi và không thấy đói mà cũng phải cố ăn để vui lòng bà chủ. Ông Ba thì vui vẻ lắm, như rất thích được có người đến chơi, nhất người ấy lại là tôi. Ông uống từng chén rượu lớn, cười nói vang lên. Bà Ba ngồi yên lặng bên cạnh, luôn luôn gắp thức ăn vào bát, ép tôi ăn. Bà cũng hình như vui vẻ lắm vì thấy chồng vui vẻ.
[…]Bữa cơm xong, ông Ba bắc ghế ra ngoài sân cùng tôi ngồi nói chuyện. Ngọn đèn dầu có cái chao lụa xanh xinh xắn - chắc hẳn là một công trình của hai cô thiếu nữ - để trên chiếc bàn con, chiếu ra một vùng ánh sáng, làm nổi trắng mấy gốc trè cằn cỗi. Chiều đã tối hẳn, trên trời cao, hàng ngàn ngôi sao thi nhau lấp lánh qua không khí trong và mát. Ðêm của vùng đồi bao bọc lấy tôi, đầy những hương thơm lạ theo cơn gió từ đâu đưa lại. Muôn tiếng đều khe khẽ làm cho cái yên lặng vang động như tiếng đàn; những con bướm nhỏ vụt từ bóng tối ra, đến chập chờn ở trước ngọn đèn, rồi lại lẩn vào bóng tối, như những sự gia lẹ làng của cảnh rừng nói chung quanh.
Tôi thấy vui sướng và thư thái trong lòng. Lần đầu, đêm tối và cảnh vật đối với tôi thân mật như một người bạn, khác với khi ở Hà Nội, đêm chỉ là những cuộc vui chơi mệt mỏi và nặng nề.
(Trích Nắng trong vườn, Thạch Lam, NXB Hội Nhà văn & Cty Nhã Nam, 2015, tr.16-17)
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba
Không có ngôi kể
A. Ngôi thứ nhất
Nghị luận
Biểu cảm
Tự sự
Miêu tả
C. Tự sự
Buổi trưa
Buổi sáng
Buổi tối
Buổi chiều
C. Buổi tối
Dòng nào sau đây miêu tả đúng ngôi nhà của ông Ba?
Chiếc bàn con, chiếu ra một vùng ánh sáng
Uốn éo trong dẫy đồi, khuất đi
Chiếc bàn con, chiếu ra một vùng ánh sáng
Một cái nhà gạch cũ, tường phủ rêu xanh
Khi được vợ chồng ông Ba mời dùng cơm, thái độ của nhân vật tôi như thế nào?
Vui vẻ, nhưng miễn cưỡng
Thích thú, trân trọng
Vui vẻ, nhưng mệt mỏi
Thản nhiên, không quan tâm.
A. Vui vẻ, nhưng miễn cưỡng
Phép liên tưởng
Phép thế
Phép lặp
Phép nghịch đối
A. Phép liên tưởng
Dòng nào sau đây nêu không đúng về nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong đoạn trích?
Câu văn nhẹ nhàng, lãng mạn
Giọng văn thủ thỉ trầm lắng, thiết tha
Sử dụng hình ảnh nhiều hình ảnh ước lệ
Diễn đạt mang đậm sắc thái trữ tình
Tâm trạng của nhân vật tôi: thích thú, vui sướng và thư thái trong lòng.
Cảm nhận của anh/chị về bức tranh thiên nhiên qua đoạn trích trên?
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên trong đoạn trích:
Bức tranh làng quê yên ả, thanh bình, có phần êm đềm và tĩnh lặng được cảm nhận qua những cảnh vật quen thuộc: buổi chiều êm ả, đàn chim vỗ cánh rào rào, mây trời ven đồi, cái chợ nhỏ, con sông uốn éo, đồng ruộng eo hẹp…qua những cảnh vật. Qua đó người đọc cảm nhận được một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và thơ mộng.
Từ nội dung đoạn trích, anh/chị hãy trình bày tác dụng của việc trải nghiệm đối với bản thân.
Tác dụng của việc trải nghiệm đối với bản thân:
- Sự trải nghiệm đem lại hiểu biết, kinh nghiệm thực tế.
- Sự trải nghiệm giúp đời sống bảnthân phong phú, sâu sắc hơn.
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
[…]
Dần dần Tân cũng quen với đứa trẻ lặng lẽ sống bên mình. Mỗi lần đi về, Tân lại đến cạnh cái nôi, vén tấm màn trắng lên và nhìn một lát đứa bé nằm trong đó vẫn hai tay cọ quậy và con mắt lờ đờ nhìn mọi vật. Tuy vậy, Tân không nhận thấy rõ rệt cái liên lạc gì với đứa trẻ. Vả lại chàng cũng không nghĩ sâu xa gì về sự đó, chỉ thoáng qua trong trí mà thôi.
Một lần, chàng đang ngồi làm việc ở bàn giấy thì nghe tiếng vợ tắm cho đứa bé ở trong buồng. Vợ chàng gọi:
- Cậu vào đây hộ tôi một tý.
Tân quay mặt vào phía buồng, đáp:
- Con sen đâu, sao không gọi nó?
- Nó còn bận giặt ngoài kia. Thì cậu vào hộ tôi một tí có làm sao. Giữ hộ tôi cái đầu để tôi tắm cho nó thôi mà.
Tân ngần ngại bỏ dở công việc:
- Nào thì vào!
Rồi chàng vào trong buồng ngồi xuống bên cái chậu, hai tay giữ lấy đầu đứa bé. Vợ chàng nói lấy lòng:
- Cậu chỉ cầm một tý thôi. Tôi tắm cho nó xong ngay bây giờ đây.
Tân nhìn đứa bé, không thích một chút nào. Cái thân hình ngắn ngủi và chân tay khẳng khiu của nó làm chàng khó chịu không muốn để ý đến. Chàng càu nhàu mắng đứa bé:
- Nằm im! Mày cứ cọ quậy bắn cả nước lên tao đây này.
Cái đầu đứa bé đầy xà phòng nên càng trơn khó giữ. Tân đã thấy mỏi tay. Chàng bảo vợ:
- Thôi, giữ lấy nó, tôi mỏi tay lắm rồi.
Vợ chàng hơi gắt:
- Hãy giữ một chút nữa. Mới có một tí thế đã kêu mỏi!
Cái giọng nói ấy làm cho Tân không bằng lòng. Chàng buông đứa trẻ, đứng dậy trả lời xẵng:
- Không phải công việc của tôi. Với lại tôi trông nó khó chịu lắm.
Tân không nhận thấy nét mặt ngạc nhiên và buồn rầu của vợ, bước ra ngoài. Một chút hối hận, đến cửa, làm chàng quay mặt lại: vợ chàng đang ôm đầu đứa bé trong lòng khóc nức nở.
Ra ngoài, Tân mới nhận thấy cái cử chỉ vô lý của mình. Một tình thương nảy nở trong lòng chàng. Tân muốn trở vào an ủi vợ, xin lỗi nàng vì đã làm nàng phải buồn rầu. Chàng đứng lại, định quay vào, nhưng không biết cái gì vẫn giữ chàng lại. Tân đến ngồi bên bàn, nghĩ ngợi.
Từ khi hai vợ chồng lấy nhau, những cuộc cãi cọ nhỏ mọn, không có nghĩa lý gì, vẫn thường xảy ra luôn. Vì một câu nói, vì một cớ không đâu, hai vợ chồng lại giận nhau. Mà cũng như lần này, Tân cảm thấy chàng chỉ nói một lời dịu ngọt, êm ái, là đủ cho hai bên hòa hợp lại như cũ. Nhưng những câu ấy tan đi trên miệng trước khi nói ra lời. Một ý xấu khiến chàng yên lặng, và xui chàng giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình.
Khi Tân trở lại phòng, chàng thấy vợ đang ngồi cho con bú. Đứa bé tắm rửa sạch sẽ trông hồng hào như đánh phấn. Cái bàn tay mập mạp xinh xắn của nó nắm chặt lấy tay mẹ như để cầu sự âu yếm và che chở. Thỉnh thỏang nó ầm ừ trong miệng có vẻ rất bằng lòng.
Tân lại gần cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một mối cảm động êm đềm và phiền phức. Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự sống, và nhận thấy chính cái bé nhỏ, hèn mọn hàng ngày phá hoại cuộc đời.
Từ đấy, đứa con như cái dây giữ sự hòa hợp trong hai vợ chồng. Tân và vợ chàng không cãi nhau nữa. Mà nếu có xảy ra cuộc hờn giận, hai người chỉ cùng trông đứa trẻ mũm mỉm là lại hòa hợp như cũ.
Thỉnh thỏang vợ chàng bồng con đưa đến trước mặt Tân, chỉ cho chàng biết những cái thay đổi trong đứa bé.
- Này cậu trông, cái thóp bây giờ đã nhỏ đi rồi đấy.
Tân cũng chăm chú xem, rồi nói chuyện với con. Lúc chàng ngẩng lên nhìn, chàng thấy vợ ngượng nghịu muốn giấu sự vui mừng làm ửng hồng đôi gò má. Tân cũng thấy trong tâm can một sự vui vẻ khác thường.
Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ:
- Em đâu?
- Nó ngủ, cái gì thế?
- Tôi có cái này hay lắm.
Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ.
Vợ chàng vội nói:
- Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong.
Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười.
Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy.
(Trích Đứa con đầu lòng, Thạch Lam, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Thời đại, tr.10-12)
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba
Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Từ nhân vật Tân
Từ vợ Tân
Từ người vú em
Từ tác giả
Tình yêu quê hương
Cuộc sống gia đình
Tình cha con
Tình vợ chồng
Căn phòng hộ sinh
Căn phòng trọ
Nhà mẹ Tân
Căn nhà của vợ chồng Tân
D. Căn nhà của vợ chồng Tân
Đoạn trích viết về chủ đề gì?
Tình cảm vợ chồng thắm thiết, thuỷ chung
Sự nảy nở kì diệu, thiêng liêng của tình mẫu tử.
Sự nảy nở kì diệu, thiêng liêng của tình phụ tử.
Tình cảm gia đình thiêng liêng, cao quý.
Khó chịu, càu nhàu
Vui vẻ, nhiệt tình
Bực tức, khó chịu
Thờ ơ, lạnh nhạt
Dòng nào nêu đúng nội dung khái quát của đoạn trích?
Nỗi buồn của Tân khi đứa con đầu lòng chào đời
Những rung động của Tân khi vợ sinh con đầu lòng
Những cảm giác của Tân khi đón đứa con đầu lòng chào đời.
Trạng thái, cảm xúc của Tân khi ngắm con đầu lòng
C. Những cảm giác của Tân khi đón đứa con đầu lòng chào đời.
Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích:
- Cốt truyện đơn giản, không phức tạp
- Đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật
- Ngôn ngữ trong sáng, giàu tình cảm, giàu chất thơ.
Thông điệp nhà văn gửi gắm đến độc giả qua đoạn trích?
Thông điệp:
- Sự ấm áp của tình yêu thương
- Trân trọng, nâng niu tình cảm gia đình
- Trân trọng vẻ đẹp giản dị của cuộc sống thường nhật
- Tình phụ tử - những tình cảm mà người cha giành cho người con của mình
- Vai trò: Tình phụ tử sẽ giúp chúng ta bước qua sóng gió cuộc đời, nó cũng như tình mẹ vậy, vô cùng mãnh liệt, vô cùng vững bền. Cha cũng như mẹ, luôn lo lắng cho ta, luôn bao dung cho ta mọi lỗi lầm cùng như sai trái. Nếu như mẹ ân cần khuyên bảo, nhẹ nhàng răn dạy chúng ta để chúng ta đi đúng con đường đời thì cha lại khác.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Ngôn chí (bài 3)
Am trúc hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà.
Bữa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.
Trong khi hứng động vừa đêm tuyết
Ngâm được câu thần dặng dặng ca.
(Nguyễn Trãi – Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 396)
Chú thích:
– Thị phi: lời đồn, những dư luận.
– Cõi yên hà: khói mây, chỉ chốn thanh tịnh, bình yên
– Nài chi: cần gì
– Nước dưỡng: giữ nước ao trong để bóng trăng xuống cho đẹp mà thưởng ngoạn
– Đất cày ngõ ải: cày rồi để cho ải, tức để hấp thụ nắng mưa rồi mới trồng trọt.
– Câu thần: câu thơ hay
– Dặng dặng ca: văng vẳng tiếng đàn, hát vang dội.
Thể thơ của bài thơ trên là:
Thất ngôn bát cú Đường luật
Thất ngôn xen lục ngôn
Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật
Thơ trường thiên bảy chữ
B. Thất ngôn xen lục ngôn
Hai câu đề
Hai câu thực
Hai câu luận
Hai câu kết
B. Hai câu thực
Từ ngữ thể hiện lối sống giản dị của nhân vật trữ tình trong bài thơ:
Am trúc hiên mai – thị phi
Thanh trì - ải lanh
Dưa muối – nài chi gấm là
Nước dưỡng – đất cày
Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ gì?
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.
Phép đối - Ẩn dụ
Phép điệp - Ẩn dụ
Nhân hóa - Phép điệp
Ẩn dụ - Nhân hóa
A. Phép đối - Ẩn dụ
Hai câu thơ sau có thể hiểu như thế nào
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải lảnh ương hoa.
Giá trị của việc chăm sóc ao nước, đất cày để có thể thưởng trăng và trồng hoa.
Lời khuyên hướng tới các giá trị về tinh thần trong tâm hồn.
Khi chúng ta nuôi dưỡng được những ý thức tốt đẹp thì chúng ta sẽ được thưởng thức và hưởng những kết quả tốt đẹp từ những suy nghĩ ấy.
Lời khuyên cho thấy được sự cố gắng của con người, càng cố gắng càng có được thành quả như ý.
C. Khi chúng ta nuôi dưỡng được những ý thức tốt đẹp thì chúng ta sẽ được thưởng thức và hưởng những kết quả tốt đẹp từ những suy nghĩ ấy.
Hai câu thực cho em hiểu điều gì về cuộc sống của Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn?
Bữa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Cuộc sống giản dị, thanh bạch
Cuộc sống thiếu thốn, khắc khổ
Cuộc sống đầy đủ, sung túc
Cuộc sống lam lũ, cực nhọc.
A. Cuộc sống giản dị, thanh bạch
Dòng nào không nêu lên đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ:
Ngôn ngữ bình dị, tự nhiên
Kết hợp câu lục ngôn với câu thất ngôn
Phép đối của thơ Đường luật được vận dụng hiệu quả
Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.
D. Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.
Nêu bố cục của bài thơ và nội dung từng phần.
Bố cục của bài thơ và nội dung từng phần:
- Hai câu đề: Cuộc sống ấn dật bình yên chốn thôn quê;
- Hai câu thực: Sự thanh bạch, giản dị trong cách ăn, mặc.
- Hai câu luận: Những thú vui di dưỡng tinh thần
- Hai câu kết: Cảm hứng đến, Nguyễn Trãi cất bút làm thơ.
- Nghệ thuật đối xuất hiện trong hai câu thực và hai câu luận:
Bữa ăn >< Áo mặc; dầu có >< nài chi; dưa muối >< gấm là.
Nước dưỡng >< Đất cày; cho thanh >< ngõ ải; trì thưởng nguyệt >< lảnh ương hoa.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh cuộc sống giản dị, thanh bạch của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn tại quê nhà: Không cầu kì trong ăn uống, tạo những thú vui nuôi dưỡng tinh thần.
+ Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy trình bày quan điểm của em về một bài học em rút ra được từ nội dung bài thơ.
Bài học ý nghĩa nhất đối với em được rút ra từ văn bản trên đó chính là sự giản dị trong lối sống. Đôi khi, sự giản dị ấy đem đến cho chúng ta sự thanh bình, giúp chúng ta quên đi những muộn phiền ngoài kia, thanh lọc tâm hồn và giúp mỗi người đạt được những ước muốn, kết quả tốt đẹp hơn trong cuộc sống.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
THUẬN HỨNG 24
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
Bui có một lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen
(Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh Niên, 2003, tr.87)
Chú thích:
- Hợp: Đáng, nên
- Yên hà: Khói sông
- Bui: duy, chỉ có
- Chăng: chẳng, không.
Thể thơ của bài thơ trên là:
Thất ngôn bát cú Đường luật
Thất ngôn xen lục ngôn
Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật
Thơ trường thiên bảy chữ
Trong hai câu thơ đầu, tác giả đã nêu lí do “về nhàn” của mình là:
Hết nhiệm kì làm quan và về hưu.
Đã đạt được công danh và muốn về hưu dưỡng già.
Không còn quan tâm đến việc được, mất, khen, chê ở đời.
Sống ẩn dật như thiền sư
C. Không còn quan tâm đến việc được, mất, khen, chê ở đời.
Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu luận
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
Đối – Phóng đại
Đối – Phóng đại – Nhân hóa
Đối – Nhân hóa
Đối – Nhân hóa - Ẩn dụ
Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ gì?
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Phép đối – Liệt kê
Phép điệp - Ẩn dụ
Phép đối - Ẩn dụ
Phép điệp – Liệt kê
A. Phép đối – Liệt kê
Công cuộc cứu nước.
Vì nước vì dân.
Sự nghiệp và danh tiếng.
Đỉnh cao danh vọng.
Hai câu thơ sau đã thể hiện thái độ và quan niệm về cuộc sống của Nguyễn Trãi như thế nào?
Công danh đã được hợp về nhàn
Lành dữ âu chi thế nghị khen
Yêu thích, hài lòng với cuộc sống an nhàn, bình dị ẩn dật nơi thôn dã làng quê. Khi đã được công danh nên lui về nhàn không quan tâm đến chuyện được, mất, khen, chê.
Yêu thích, hài lòng với cuộc sống an nhàn, bình dị ẩn dật nơi thôn dã làng quê.
Không bon chen, xô bồ mà hài lòng với cuộc sống dù có thiếu thốn vật chất nhưng giàu có về tinh thần.
Không màng danh lợi mà chỉ quan tâm đến cuộc sống an nhàn, hưởng thụ, tránh xa thị phi.
A. Yêu thích, hài lòng với cuộc sống an nhàn, bình dị ẩn dật nơi thôn dã làng quê. Khi đã được công danh nên lui về nhàn không quan tâm đến chuyện được, mất, khen, chê.
Dòng nào không nêu lên đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ:
Việt hóa thể thơ Đường luật, sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, viết bằng chữ Nôm.
Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân, sử dụng những từ ngữ thuần Việt.
Cách ngắt nhịp linh hoạt, vượt ra khỏi tính quy phạm của thơ Đường luật
Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.
D. Bài thơ khung cảnh thiên nhiên đẹp và tâm trạng nhàn nhã, thanh thản của nhân vật trữ tình.
Nêu nội dung chính của bài thơ trên.
Bài thơ thể hiện sự lựa chọn của Nguyễn Trãi khi lui về ở ẩn, trở về với cuộc sống hòa mình vào thiên nhiên, với công việc đồng ruộng và rời xa chốn quan trường đầy toan tính. Tuy vậy, ẩn sâu trong tâm hồn ông vẫn là tấm lòng luôn hướng về dân về nước. Bài thơ ca ngợi tâm hồn thanh cao, trái tim yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi.
Lựa chọn và nêu ý nghĩa cặp thơ đúng với nhận xét: “Dường như tác giả đã thu nhận tất cả vẻ đẹp thiên nhiên vào làm tài sản riêng của mình, đúng như mơ ước “Túi thơ chứa hết mọi giang san””
- Cặp thơ đúng với nhận xét là cặp câu luận: “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then.”
- Cặp thơ thể hiện:
+ Lối sống yên bình, làm bạn với gió, trăng.
+ Nỗi lo cho đất nước: Lo cho vận mệnh đất nước khi tồn tại bè lũ quan tham, no cho dân, hướng về đất nước.
+ Sự hối tiếc nhẹ khi không cống hiến toàn bộ tài năng của mình cho đất nước.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ trên.
Qua bài thơ, người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp thanh cao của một con người trọng khí tiết trong Nguyễn Trãi. Bài thơ khiến người đọc thêm yêu mến nhân cách và tấm lòng ông dành trọn cho nhân dân, đất nước.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang
(Trích Quân trung từ mệnh tập)
(1) Ta nghe: (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được. Nay các ông bằng một nghìn quân, một mình trơ trọi. Đã đến hơn một năm nay, tin tức không thông, mà tự cậy là thành cao hào sâu, có khác gì người mù không sợ cái chết, không biết tự liệu sức mình.
(2) Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh, kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo hay trái ngược. Nếu chỉ khăng khăng câu nệ và kiến thức hẹp hòi, cam lòng chịu lấy tai vạ, thì cũng đáng thương lắm. Vì thế mà tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết. Cho nên ta không ngại nói đi nói lại, lại sai người đến nơi dụ bảo.
(3) Nếu các ông biết tỉnh ngộ thì không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân. Nếu không thể thì giữa người thuận đức với kẻ trái đức, tất có một kẻ sống một kẻ chết. Đó là lẽ tất nhiên. Ta có thể tự theo ý riêng mình sao được! Các ông nên mau mau mở cửa thành, cởi áo giáp cùng ta hòa giải. Ta nếu trái lời giao ước tất nhiên trời chẳng dung cho, nếu các ông cứ chấp mê, ta tất không tha thứ.
(4) Nay hãy tạm lấy một việc trước mắt, bày tỏ từng việc cho các ông nghe: các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tam Đái, Thị Kiều, Tiền Vệ đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyển họa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn. Duy có một thành Khâu Ôn không hiểu sự biến, bo bo giữ kiến thức nhỏ, để cho người trong một thành ngọc đá đều bị thiêu cháy, há chẳng đáng xót thương! Các ông nên nghĩ, chớ để hối hận về sau!
(Trích Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội)
Thơ ca
Văn chính luận
Nghị luận xã hội
Thất ngôn xen lục ngôn
Câu văn nào thể hiện được luận đề của văn bản:
(đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.
Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh, kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo hay trái ngược. Nếu chỉ khăng khăng câu nệ và kiến thức hẹp hòi, cam lòng chịu lấy tai vạ, thì cũng đáng thương lắm
Nếu các ông biết tỉnh ngộ thì không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân. Nếu không thể thì giữa người thuận đức với kẻ trái đức, tất có một kẻ sống một kẻ chết. Đó là lẽ tất nhiên
Vì thế mà tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết. Cho nên ta không ngại nói đi nói lại, lại sai người đến nơi dụ bảo.
A. (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.
Để nêu dẫn chứng thực tiễn cho luận đề, Nguyễn Trãi đã đề cập đến vấn đề gì?
Quân giặc khăng khăng muốn chiến đấu để bảo vệ danh dự
Quân giặc chỉ còn một nghìn quân, ở thế trơ trọi và lại khăng khăng muốn giữ thói câu nệ, cố thủ
Quân giặc sức cùng lực kiệt, thiếu lương thực và không thức thời.
Quân giặc sức cùng lực kiệt, quân sĩ yếu kém, lừa đối lòng người, khăng khăng muốn cố thủ tại thành.
B. Quân giặc chỉ còn một nghìn quân, ở thế trơ trọi và lại khăng khăng muốn giữ thói câu nệ, cố thủ.
Đoạn (1)
Đoạn (3)
Đoạn (2)
Đoạn (4)
B. Đoạn (3)
Mục đích của Nguyễn Trãi khi viết câu văn “Các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tam Đái, Thị Kiều, Tiền Vệ đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyểnhọa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn” là gì?
Liệt kê sức mạnh của quân Tây Sơn đã thu phục được rất nhiều các thành
Liệt kê sức mạnh của quân Tây Sơn đã giành thắng lợi liên tiếp và thể hiện ân nghĩa đối với người dân trong thành.
Khuyên nhủ thành Khâu Ôn lấy tấm gương của các thành đã đầu hàng, chuyển họa thành phúc để bảo toàn tính mạng cho mọi người.
Tỏ rõ sức mạnh quân sự đánh đâu thắng đó của quân Tây Sơn đối với thành Khâu Ôn.
C. Khuyên nhủ thành Khâu Ôn lấy tấm gương của các thành đã đầu hàng, chuyển họa thành phúc để bảo toàn tính mạng cho mọi người.
Nguyễn Trãi đã nêu ra những lợi ích của việc “Nếu các ông biết tỉnh ngộ” (Đầu hàng) là gì?
Đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.
Bảo toàn lực lượng và tính mạng cho hơn 56.000 người.
Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài.
Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.
D. Không những người cả ở trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng để cũng thấm khắp đến lòng dân.
Mục đích của Nguyễn Trãi khi viết “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang” là gì?
Hòa giải chiến tranh, bảo toàn lực lượng và an toan đôi bên, mở đường hiếu sinh cho kẻ giặc.
Thể hiện sức mạng chiến đấu của quân Tây Sơn.
Đe dọa, thách thức kẻ thù ngông cuồng rằng chúng sẽ không có chỗ dung thân.
Thể hiện tài năng quân sự của Nguyễn Trãi.
A. Hòa giải chiến tranh, bảo toàn lực lượng và an toan đôi bên, mở đường hiếu sinh cho kẻ giặc.
Em hãy nêu bố cục nội dung của bài chính luận “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang”.
Bố cục nội dung của bài chính luận:
- Đoạn (1) Nêu luận đề chính nghĩa và thực tiện việc làm sai trái của kẻ địch
- Đoạn (2) Chỉ ra những điều hại khi kẻ giặc không đầu hàng
- Đoạn (3) Chỉ ra những điều lợi khi kẻ giặc đầu hàng lu
- Đoạn (4) Lấy minh chứng thực tiễn để khuyên nhủ (dụ) giặc đầu hàng lấy đại cục làm trọng.
Nhận xét về giọng điệu của Nguyễn Trãi trong văn bản “Thư dụ (tướng sĩ trong) thành Xương Giang”.
Nhận xét giọng điệu:
- Cứng rằn, quyết đoán, chỉ trích thẳng thắn những bảo thủ câu nệ của kẻ thù
- Nhẹ nhàng, đưa ra tình lí để khuyên răn kẻ thù giảng hòa trong hòa bình.
Trình bày suy nghĩ của em về về tư tưởng của Nguyễn Trãi: Ta nghe: (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khithì khoan hồng như khí dương, khi thì thảm khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của Trời, không thể theo ý riêng mình được.Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của người lãnh đạo nói chung.
- Ý nghĩa luận điểm: Người lãnh đạo, cầm quân biết lấy đại cục làm trọng, cần tuân theo lẽ phải của Trời, không thẻ theo ý mình mà làm.
- Người lãnh đạo:
+ Biết hi sinh.
+ Biết lấy đại cục làm trọng và nghĩ cho người khác.
+ Biết bảo toàn tính mạng của mọi người, không độc đoán chuyên quyền.
Cuộc sống là một con đường dài không bằng phẳng mà mỗi chúng ta đang từng ngày đi qua. “Con đường” ấy có những khúc uốn lượn, gồ ghề để thử sức xem liệu chúng ta có xứng đáng được đi tới chân trời hạnh phúc? Chân trời hạnh phúc ấy chính là ước mơ, hi vọng của mỗi người, nhưng nếu chỉ hi vọng mà không hành động thì ước mơ chỉ là ước mơ. Nếu hành động mà ngại khó khăn thì ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực. Nhà giáo, nhà văn Nguyễn Bá Học đã đưa ra một lời khuyên vô cùng quý giá đối với con người: “Đường di không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”. Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta hãy nhớ tới câu nói này để tự răn lòng mình, đế’ khó khăn nào cũng vượt qua, gian khổ nào cũng chiến thắng.
Trước hết, đứng từ phương diện nghĩa đen của câu nói trên chúng ta có thể hiểu đó là một lời khuyên, một lời giáo huấn đối với những người phải vượt qua con đường lắm sông, nhiều suối. Nếu cứ nghĩ đến con đường với bao núi cao, vực sâu e rằng lòng người sẽ nản. Vì vậy, Nguyễn Bá Học đã đưa ra lời khuyên: cần phải vượt qua chính mình, con đường dẫu lắm chông gai nhưng chỉ cần lòng người không nản ắt sẽ vượt qua. Nhưng có phải Nguyễn Bá Học chỉ nói tới chuyện sông núi và con đường? Không! Nếu chỉ hiểu đến đó có nghĩa là ta chưa hiểu gì cả. Hiểu rộng hơn: “Đường đi” chính là cuộc sống của mỗi người. Mỗi người trải qua một cuộc sống khác nhau nên con đường ấy cũng không giống nhau. Nhưng nó chung nhau ở một điểm, đó là con đường nào cũng “ngăn sông cách núi” bởi đời người không ai đi thẳng tới đỉnh vinh quang mà không trải qua những khó khăn, gian khổ. Mỗi người cần phải vượt qua chính mình, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, vượt qua những e ngại mới có thể đi đến thành công. Chính bản thân chúng ta sẽ quyết định “con đường” và cách đi trên “con đường” của riêng mình. Nếu ngại gian nan, vất vả, tất nhiên sẽ không thể đạt được những mơ ước, ngược lại, dám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách, chắc chắn sẽ nhận được thành quả xứng đáng.
Tôi không thể tìm được ví dụ nào. Điển hình cho câu nói này chính là lịch sử dân tộc Việt. Sở dĩ tôi nhìn thấy ý nghĩa của câu nói là bởi hiện thực cuộc sống mà tôi đang trải qua. Để hôm nay, tôi có thể ngồi đây, học tập và tự do nói lên những suy nghĩ của mình, tôi hiểu đất nước và con người Việt Nam đã phải trải qua muôn vàn cơn nguy biến. Số phận dân tộc giống như một “con đường” khổng lồ mà mỗi người dân là một “con đường” nhỏ quy tụ lại trong đó. Để “con đường” lớn đi tới đinh vinh quang mỗi “con đường” nhỏ phải “đồng tâm hiệp lực” vượt qua sự “ngăn sông cách núi”. Nói như vậy có lẽ hơi hình tượng nhưng tôi hiểu rằng dù chiến tranh đã đi qua chúng ta vẫn không thôi tự hào và cảm phục những con người kiên cường, bất khuất, không bao giờ “ngại núi, e sông”.
Cuộc sống hòa bình hôm nay chính là đỉnh vinh quang của con đường mà dân tộc ta vươn tới từ quá khứ đau thương nhưng hào hùng. Một ngàn năm bị đô hộ bởi giặc Tàu, một trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây để hôm nay được hạnh phúc từng ngày... đã có biết bao con người không quản ngại khó khăn, gian khổ và chấp nhận hy sinh.
Tôi tự hào nhớ tới những vị anh hùng dân tộc mà cuộc sống và sự nghiệp của họ là minh chứng sống động cho việc không hề “ngại núi, e sông”, từ Quang Trung, Lê Lợi, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi đến Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp... Còn nhớ, quá trình ra đi tìm đường cứu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh phải trải qua biết bao chông gai, thử thách. Người đã sông giữa quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ đến các nông thôn hẻo lánh ở nước ngoài để tìm bằng được con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Người đã trải qua những mùa đông lạnh giá với viên gạch hơ trên bếp lò. Vừa làm thuê để kiếm sống, Người vừa chăm chỉ học thêm tiếng nước ngoài phục vụ cho mục đích tìm đường cứu nước của mình. Trải qua biết bao khó khăn, sau mười lăm năm tìm đường cứu nước, đến năm 1924, Người rời nước Nga Xô Viết trở về Quảng Châu - Trung Quốc để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Để rồi từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, toàn dân, toàn quân ta đã giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cả nước được độc lập, thống nhất, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi rực rỡ ngày nay. Rõ ràng, phải có một ý chí kiên cường, một lòng quyết tâm không gì lay chuyển, Bác của chúng ta mới thực hiện được ước mơ của mình; “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước được độc lập, tự do, nhân dân, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Tôi nhớ về Bác khi đi tìm hiểu câu nói: “Đường không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại, núi e sông” là bởi: Con đường Bác đi là con đường lớn, con đường vì tất cả mọi người, con đường của tất cả mọi người. Ước mơ của Bác là ước mơ vĩ đại bởi nó hướng đến quần chúng cần lao, hướng đến dân tộc Việt Nam với biết bao sinh linh đang chịu kiếp nô lệ lầm than. Bác không đi con đường của riêng mình, không mơ ước điều gì cho riêng mình thế nhưng Bác đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để’ thực hiện được ước nguyện vì nước, vì dân của mình. Chúng ta là những con người bình thường, “con đường” và ước mơ của chúng ta đa phần chỉ hướng tới bản thân mình. ấy vậy mà để đạt được mục tiêu của cuộc đời mình nhiều khi chúng ta còn nản chí, e ngại những khó khăn và sợ sự gian khổ. Lấy tấm gương là Bác, quả có gì đó hơi cao siêu nhưng chúng ta cần hiểu cả cuộc đời của Người là hình mẫu của con người nhân văn thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Khi con người “ngại núi, e sông” hậu quả sẽ trở nên khó lường. Gia Long, Bảo Đại, hay Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Phạm Quỳnh... là những cái tên đã làm xấu đi hình tượng dân tộc Việt Nam. Chúng chỉ vì cái lợi trước mắt, sợ phải đương đầu với khó khăn, sợ phải hi sinh mà đem Tổ quốc trao vào tay giặc. Hành động phản quốc vô đạo ấy bất nguồn từ nhận thức lệch lạc, từ sự e ngại gian khổ, từ tư tưởng chỉ muốn hưởng thụ... Tất cả đã dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, để Tổ quốc phải chịu bao đè nén, đau thương. Từ xa tới gần, mỗi chúng ta cần phải hiểu, sự nhu nhược, ngại khó, ngại khổ sẽ dẫn đến lạc hậu, dốt nát, ảnh hưởng đến chính mình và ảnh hưởng tới cả dân tộc.
Là học sinh, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ và bổn phận của mình, luôn tự nhắc nhở bản thân:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”.
Và “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”.
Nói như vậy có nghĩa là, nhiệm vụ chính của chúng ta là học tập, sẽ không có lí do gì để chúng ta không cố gắng học tốt, chỉ có tích cực trau dồi kiến thức chúng ta mới trở thành những chủ nhân có ích cho đất nước. Đứng trước một bài tập khó hay đứng trước những phút chúng ta lười biếng hãy nhớ tới câu nói của thầy Nguyễn Bá Học để vượt qua, để vươn lên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Chúng ta là những con người hạnh phúc bởi đang được sống trong sự hòa bình, phát triển. Chúng ta được học tập, được vui chơi, được tự do mơ ước chứ không “phải xếp vào balo mọi mơ ước dịu hiền nhất... Mà đánh giặc”. Vì vậy, hãy cố gắng ở mức cao nhất để trở thành những con người ưu tú, mang lại lợi ích cho cộng đồng.
Câu nói của thầy giáo Nguyễn Bá Học là một lời khuyên vô cùng hữu ích đối với tuổi trẻ thời đại mới. Cuộc sống đang phát triển từng ngày, từng giờ, thế hệ trẻ cần có một quyết tâm, một ý chí mạnh mẽ vượt qua mọi khó khăn mà vươn tới chân trời tri thức đang rộng mở. Phải luôn nhớ rằng: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi, e sông”. Hãy vượt qua chính mình để vươn tới những đỉnh vinh quang đang chờ chúng ta chinh phục.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện mà em yêu thích.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói: “Văn học và nghệ thuật là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. Quả đúng là như vậy, giá trị chân chính của nghệ thuật chính là ở vẻ đẹp con người. Đến với mỗi tác phẩm văn học, chúng ta như được làm quen, gặp gỡ và thấu hiểu với một số phận, một cuộc đời. Và có lẽ, tôi sẽ chẳng thể nào quên nhân vật dì Mây trong truyện ngắn “Người ở bến sông Châu” của Sương Nguyệt Minh.
Lấy bối cảnh xã hội Việt Nam hậu chiến tranh, “Người ở bến sông Châu” xoay quanh cuộc đời của dì Mây – một người lính trở về sau cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đọc tác phẩm, ta không chỉ cảm nhận được nỗi vất vả, bất hạnh của dì mà còn thấy được sự khốc liệt mà chiến tranh gây ra với con người.
Trước hết, dì Mây chính là hình ảnh đại diện cho con người sẵn sàng đứng lên chiến đấu hi sinh thân mình vì độc lập dân tộc. Là một cô gái trẻ đẹp với mối tình đang nở rộ, dì sẵn sàng từ bỏ để đi vào chiến trường, đối mặt với tử thần. Trở về từ cuộc chiến, dì nhận được sự đón tiếp nồng hậu từ người dân khắp xóm Trại. “Người đưa đẩy, an ủi, kẻ cảm thông, xót xa”. Có lẽ bởi chiến tranh đã lấy đi của dì quá nhiều thứ. Một mối tình dang dở, một thanh xuân rực rỡ hay một mái tóc đen óng mượt. Ngày trở về, dì cảm thấy lạc lõng ngay chính quê hương của mình khi mọi thứ đã có nhiều thay đổi. Người mà dì yêu thương, mong muốn được gắn bó cả cuộc đời tưởng dì Mây đã hi sinh trong chiến trận mà kết hôn với người con gái khác. Mái tóc dì trước khia đen óng mượt bao nhiêu thì bây giờ rụng nhiều, xơ và thưa bấy nhiêu. Và hơn hết, dì đã mất đi đôi chân của mình. Dì phải dùng chân giả, chống nạng gỗ, khó nhọc leo lên sạp thuyền ngồi. Những điều bất hạnh đến dồn dập nhưng dì vẫn luôn nghị lực, kiên cường, vẫn sống đầy lạc quan.
Dì Mây còn là một người phụ nữ thuỷ chung, vị tha trong tình yêu. Ở chiến trường, không ngày nào dì không viết tên người mình ra trong nhật kí. Người con gái Trường Sơn nơi đạn nổ bom rơi luôn ôm theo nỗi nhớ thương và yêu vô hạn cho người bạn ở nơi xứ đầy hoa tuyết trắng. Những tưởng người phụ nữ ấy sẽ có một cái kết viên mãn sau khi trở về từ chiến tranh nhưng không... dì trở về trong sự lãng quên của người mà dì yêu thương nhất – chú San. Chàng trai dì từng “bỏ chèo ôm chặt, nép đầu vào ngực người yêu” nay đã có một cuộc sống mời bên tình yêu mới. Dì chẳng thể trách được ai, có chăng là do thời gian đã xoá nhoà đi tất cả những kí ức đẹp giữa hai người. Thế nhưng, trước lời ngỏ “từ bỏ tất cả” và “làm lại” của chú San, dì khẳng khái đáp lại “Không!”. Mặc dù buồn, dù đau, dù còn thương, còn yêu nhưng dì hiểu, hạnh phúc của mình cũng sẽ lấy đi cuộc đời của một người con gái khác: “Thôi! Thôi! Lỡ rồi! Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ. Anh về đi”. Vì hạnh phúc của người mình yêu, dì Mây sẵn sàng hi sinh bản thân mình. Một con người với trái tim thật cao thượng!
Tác giả đã đặt dì Mây vào tình huống trớ trêu hơn khi để dì đỡ đẻ cho cô Thanh – vợ chú San. Trong cơn mưa tầm tã, dì Mây với đôi chân thương tật của mình giúp cô Thanh vượt cạn. Mặc cho lời can ngăn của thím Ba, dì nhẹ nhàng khuyên bảo cô Thanh cố rặn: “Em cố lên. Hãy nghĩ đến đứa con. Nào...cố lên em....” Có lẽ sẽ chẳng ai nghĩ được rằng đây là lời nói của một người phụ nữ đối với người đã thế chỗ cho hạnh phúc của mình. Đỡ đẻ thành công, nghe tiếng trẻ con khóc, dì Mây “xót xa, tủi hơn xen lẫn niềm ao ước, chờ mong, vui buồn lẫn lộn”. Có lẽ dì cũng tủi thân khi bản thân giờ chỉ còn lẻ bóng một mình, dì xót thương cho số phận bất hạnh của bản thân. Giá như hai người không phải chia xa, giá như không có chiến tranh thì có lẽ, bây giờ dì cũng đang được hạnh phúc bên chồng con. Thật tội nghiệp và xót xa cho số phận người đàn bà ấy!
Như vậy, tác giả Sương Minh Nguyệt đã đặt nhân vật dì Mây vào những tình huống đầy thử thách để thông qua đó, nhân vật tự bộc lộ mình. Chúng ta có thể thấy rằng chiến tranh đã cướp đi của con người quá nhiều thứ: nhan sắc, sức khoẻ, tình yêu,... Thế nhưng, chiến tranh sẽ chẳng thể vùi dập tâm hồn con người – một tấm lòng vị tha và cao thượng.

