Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức có đáp án

29 Xuân Nghi 10A6
29 Xuân Nghi 10A6
VănLớp 1055 lượt thi
42 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Cũng cờ, cũng biển cũng cân đai

Cũng gọi ông Nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.

(Tiến sĩ giấy – Nguyễn Khuyến)

1. Tự luận
• 1 điểm

Xác định thể thơ?

Xem đáp án
Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật
2. Tự luận
• 1 điểm

Anh/chị biết gì về loại trò chơi dân gian “tiến sĩ giấy”?

Xem đáp án

Loại trò chơi dân gian “tiến sĩ giấy”:

- Cùng với kì lân, đèn ông sao, đèn kéo quân…, “tiến sỹ giấy” là loại đồ chơi dân gian phổ biến trong mỗi dịp tết trung thu của con trẻ thời xưa.

- Thời phong kiến, dân ta vốn hiếu học, trọng khoa bảng, muốn cổ vũ, khích lệ việc học nên đã dựng hình nộm tiến sĩ để trẻ con vừa nghinh rước trong dịp Tết trung thu, vừa noi gương học tập.

3. Tự luận
• 1 điểm
Xác định và phân tích hiệu quả của điệp từ “cũng” trong câu thơ đầu?
Xem đáp án

- Biện pháp tu từ: Phép điệp từ “cũng” – lặp lại 3 lần

 - Tác dụng:

+ Điệp từ cũng trong hai câu thơ đầu dày đặc, dồn dập hình thành trong người đọc nhận thức về một đối tượng (bản sao, bản nháp, hoặc đồ giả) trong tương quan với một đối tượng khác (bản gốc, đối tượng thực), từ đó khơi gợi trong người đọc hai kiểu thái độ: một là, thú vị gật gù tán thưởng cái hình nộm “tiến sĩ giấy”; hai là mỉa mai, giễu cợt đối với loại “tiến sĩ rởm” – loại tiến sĩ không có thực lực mà chỉ dựa trò mua quan bán tước.

+ Phép điệp tạo nhịp điệu cho câu thơ, thể hiện giọng mỉa mai châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thúy.

4. Tự luận
• 1 điểm

Em có suy nghĩ gì về câu thơ “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng”?

Xem đáp án

Câu thơ “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng”:

- Trước hết, câu thơ mang nét nghĩa tả thực: Làm ra một ông tiến sĩ đồ chơi rất đơn giản, chỉ cần những mảnh giấy vụn với một ít màu điểm chỗ này, tô chỗ khác là có ngay “một ông nghè tháng tám”. Bởi thế các cửa hàng hàng mã có thể làm ra hàng loạt các ông nghè vào dịp tết Trung thu để đem bày bán khắp các chợ tỉnh chợ quê.

- Sau đó, cần thấy lời thơ mang ý vị mỉa mai, châm biếm sâu cay: những ông nghè làm bằng giấy kia xiêm áo, khoa danh đủ cả nhưng đều bị người đời coi rẻ, dùng làm trò tiêu khiển và kiếm lãi. Tương tự, cái đám tiến sĩ không có thực học mà dùng tiền mua danh ấy cuối cùng cũng đáng để người đời chê cười, dè bỉu mà thôi.

5. Tự luận
• 1 điểm

Câu thơ cuối cùng bộc lộ tình cảm, thái độ gì của tác giả?

Xem đáp án

- Thái độ của tác giả thể hiện trong câu thơ cuối:

+ Tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ của mình với đám tiến sĩ không có thực học. Bằng việc đối lập giữa hai loại đồ thật với đồ chơi, Nguyễn Khuyến đã phân biệt rõ ràng hai tiến sĩ cũng mang danh tiến sĩ, cũng mũ cao áo rộng như ai…nhưng thực chất, các ông nghè đang chễm chệ trên ngôi cao đều là “bọn tiến sĩ giấy” cả. Chúng thực chất chỉ là những kẻ hề, chỉ đáng là trò chơi con trẻ, đáng bị người đời coi rẻ.

+ Lời thơ chua chát, nặng trĩu ưu phiền và không giấu được nỗi ngậm ngùi cho danh vị cao quí bởi bản thân Nguyễn Khuyến cũng là một tiến sĩ, tất nhiên, một ông tiến sĩ thực, có thực tâm, thực tài.

6. Tự luận
• 1 điểm

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) để chia sẻ với Nguyễn Khuyến về hiện trạng tiến sỹ giấy trong xã hội đương thời?

Xem đáp án

- Đảm bảo hình thức đoạn văn.

- Nội dung: Chia sẻ với Nguyễn Khuyến về hiện trạng tiến sĩ giấy đương thời

+ Là một nho sĩ từng “nấu sử sôi kinh”, “thông kim bác cổ”, danh xứng bảng vàng bia đá, Nguyễn Khuyến không khỏi đau lòng trước tình trạng “tiến sĩ giấy đương thời”. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng đầy chua chát, suy tư, thể hiện rõ thái độ bất bình của cụ Yên Đổ về “đám tiến sĩ rởm”.

+ Bày tỏ thái độ thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với Nguyễn Khuyến trước thực trạng đen tối của chế độ khoa cử đương thời.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

NGỌN LỬA PROMETE

Thuở xa xưa, thế gian chưa có loài người, chỉ mới có các vị thần. Không muốn để tình cảnh trống vắng kéo dài, hai anh em Prométhée và Epiméthée xin phép Ouranos và Gaia cho mình tạo ra cho thế gian thêm nhiều cái gì đó để cho cuộc sống đông vui.

Ouranos và Gaia đồng ý và giao luôn việc đó cho hai anh em. Cậu em Epiméthée mừng quá, tranh ngay lấy đất và nước nhào nặn ra trước hết các loài vật và ban cho mỗi con vật một đặc ân của thần, một “vũ khí” để có thể phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình. Con thì được ban ân huệ chạy nhanh như gió. Con thì có đôi mắt sáng xanh nhìn thấu cả đêm đen. Con thì có thân hình khổng lồ khỏe mạnh hết chỗ nói. Có con thân hình bé nhỏ nhưng lại có nọc độc gớm ghê...

Công việc tạo muôn loài đã xong xuôi, Epiméthée gọi Prométhée đến để xem xét lại. Mọi việc đều tốt nhưng khi xem kỹ lại thì thấy rằng còn sót lại một con, một con mà chàng Epiméthée đần độn lại quên mất chẳng ban cho một đặc ân, một thứ “vũ khí” gì.

Đó chính là con người! Một con người trần trụi hoàn toàn trước mặt Prométhée. Làm thế nào bây giờ? Làm thế nào để con người sống được ở thế gian khi các “nguyên liệu” đặc ân đã sử dụng phân phối hết rồi? Con người sẽ sống thế nào trước các con vật: hổ, báo, voi, sói, vẹt, nhím, gấu, ngựa, sư tử, cá, chim...là những con vật đã được sáng tạo hoàn hảo? Là những con vật đã được ban cho đặc ân của thần thánh? Và rồi còn phải đương đầu với nắng, mưa, bão tố, núi lửa phun, nước sông dâng, đất liền phút chốc thành biển cả, bãi bể hóa nương dâu... biết bao biến thiên, tai họa khôn lường? Prométhée đã nghĩ thế. Và vị thần có bộ óc thông minh, có tài nhìn xa trông rộng này quyết sửa chữa bằng được cái thiếu sót của chú em lơ đễnh, đần độn của mình. Prométhée dựa theo thân hình trang nhã của các vị thần tái tạo lại con người cho có một thân hình đẹp đẽ thanh tao, vóc dáng thẳng, đi bằng hai chân để đôi tay được thảnh thơi làm nhiều việc khác. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Con người vẫn còn bấy yếu và thua kém nhiều so với các con vật.

Prométhée liền băng ngay lên bầu trời cao xa tít tắp, đến tận cỗ xe của thần Mặt trời-Hélios, lấy lửa của thần Mặt trời châm vào ngọn đuốc của mình đem xuống trao cho loài người. Từ đó, thế gian, mặt đất lúc nào cũng rực cháy ngọn lửa của Prométhée ban cho.

Con người thoát khỏi cảnh sống tăm tối, giá lạnh, đói khát. Ngọn lửa trở thành người bạn thân thiết, người bảo vệ chắc chắn nhất, một vũ khí mạnh nhất của loài người. Ngọn lửa của con người hơn hẳn bộ lông dày, hàm răng sắc, cặp móng nhọn, thân hình khỏe mạnh đồ sộ, tài bay cao, nhìn xa, chạy nhanh của bất cứ con vật nào. Và với ngọn lửa của Prométhée, con người đã tạo dựng được cuộc sống ngày càng văn minh, hạnh phúc hơn.

Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu

Giống loài người đã có ngọn lửa của Prométhée

Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề.

(Theo Nguyễn Văn Khỏa, Trích Thần thoại Hy Lạp, NXB Văn Hóa, Quyển tái bản lần thứ 2/2002. Tr.61 – 62)

Prométhée: tiếng Hy Lạp: người tiên đoán.

2Epiméthée: tiếng Hy Lạp: người lơ đễnh, đãng trí, đần độn.

7. Tự luận
• 1 điểm

Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?

Xem đáp án
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
8. Tự luận
• 1 điểm

Văn bản trên là thần thoại suy nguyên hay thần thoại sáng tạo?

Xem đáp án
Văn bản trên là thần thoại suy nguyên.
9. Tự luận
• 1 điểm

Truyện được kể bằng ngôi kể thứ mấy?

Xem đáp án

Truyện được kể theo ngôi thứ ba (người kể toàn tri).

10. Tự luận
• 1 điểm
Nhân vật chính trong truyện là ai?
Xem đáp án
Nhân vật chính là Prométhée.
11. Tự luận
• 1 điểm
Trong văn bản, các vị thần đã làm những công việc gì?
Xem đáp án

Văn bản miêu tả, công việc của các vị thần là:

- Tạo ra cho thế gian thêm nhiều cái gì đó để cuộc sống đông vui.

- Cậu em lấy ngay đất và nước nhào nặn ra trước hết các loài vật.

- Ban cho mỗi con vật một đặc ân của thần, một vũ khí để có thể phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình.

12. Tự luận
• 1 điểm

Theo bạn, vì sao “Ngọn lửa trở thành người bạn thân thiết, người bảo vệ chắc chắn nhất, một vũ khí mạnh nhất của loài người”?

Xem đáp án

“Ngọn lửa trở thành người bạn thân thiết, người bảo vệ chắc chắn nhất, một vũ khí mạnh nhất của loài người“ vì:

+ Ngọn lửa đem lại ánh sáng cho loài người/ giúp loài người thoát khỏi màn đêm tăm tối, lạnh giá của cõi hỗn mang.

+ Khai mở trí tuệ, giúp con người thấu tỏ hết vạn vật thế gian. Là biểu tượng cho sự thông tuệ có thể bảo vệ con người trước muôn loài.

+ Con người được ăn chín uống sôi, thoát khỏi cuộc sống mông muội để trở nên văn minh, tốt đẹp hơn.

13. Tự luận
• 1 điểm

Bạn có nhận xét gì về hình dáng con người khi được Prométhée tái tạo “có một thân hình đẹp đẽ thanh tao, vóc dáng thẳng, đi bằng hai chân để đôi tay được thảnh thơi làm nhiều việc khác”

Xem đáp án

Nhận xét:

- Đó là kiểu dáng, đẹp đẽ, hoàn hảo: hiên ngang, vững chắc, trở thành” kiểu mẫu của muôn loài”.

- Giúp di chuyển dễ dàng, thuận lợi trong lao động, hái lượm và sinh trưởng.

14. Tự luận
• 1 điểm

Bài học ý nghĩa nhất mà (anh) schị rút ra được từ câu chuyện là gì? Vì sao? Hãy trình bày bằng đoạn vắn ngắn khoảng 4-5 dòng.

Xem đáp án

Bài học: Nhắc nhở mọi người về cách làm việc cần cẩn thận, tỉ mỉ, tránh vội vàng, hấp tấp để dẫn đến những thiếu sót hoặc hậu quả khôn lường.....

Đoạn văn

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Ngọc Hoàng thượng đế cai quản cả trên trời, dưới đất. Bộ hạ của Ngọc Hoàng rất nhiều, trong đó nữ thần Lửa được Ngọc Hoàng giao cho một trọng trách lớn: giữ lửa. Lửa của nữ thần này có rất nhiều loại, có loại lửa thường, thần rất sẵn lòng cho nếu ai thành tâm đến xin, có loại lửa xanh chỉ thần Sét mới được dùng… Đặc biệt có một thứ lửa rất màu nhiệm có thể đặt nồi không mà nấu được những thức ăn rất ngon lành. Nhưng thứ lửa này chỉ nhà trời mới được dùng, còn những người trần mắt thịt thì không bao giờ được biết đến. Người hạ giới cũng biết thứ lửa này nhưng chưa ai có thể lấy được vì nữ thần Lửa là một bà già rất khô khan và hung dữ. Bà có một thứ bảo bối dùng làm vũ khí luôn luôn ngậm trong miệng. Đó là rất nhiều chiếc lưỡi đỏ lòm, có thể liếm một cái là cháy trụi hàng cánh đồng, hàng dải núi và làm khô cạn hết nước ao hồ.

Nhưng có một lần người đốn củi vào rừng, tình cờ bắt gặp bếp lửa khi thần đi vắng. Người này mừng lắm bèn chặt một ống nứa, đặt lên trên bếp và chỉ lúc sau trong ống đã hiện ra cơm, cá, thịt,…Anh ta chén một bữa no nê rồi lăn ra ngủ. Chẳng dè, một lúc sau thần Lửa trở về. Thấy có người lạ khám phá ra bí mật của mình, thần bèn rút bát nước luôn đeo sát bên mình dội tắt bếp lửa rồi bỏ đi mất. Khi người đốn củi tỉnh dậy thì bếp nguội, tro lạnh, anh ta biết thần không muốn cho mình hưởng của quý này, nhưng vì tiếc của nên anh ta cố bới đống tro tàn ra xem, thì may thay hãy còn một chấm đỏ. Anh ta mừng rỡ vội mang về nhà. Từ đấy, ngày nào gia đình anh ta cũng có cơm thịt ê hề. Và cũng từ đó anh ta luôn chú ý giữ gìn không để lửa tắt. Nhưng có một lần, anh ta đi vắng, ngọn lửa được ủ trong trong bếp bỗng bốc lên và cháy cả vào vách nhà. Cô vợ thấy thế hốt hoảng, mang cả vò nước ở chái xối vào lênh láng. Đến khi chồng về thì tiếc thay ngọn lửa đã tắt ngấm. Từ đó người trần không ai còn được dùng đến ngọn lửa thần nữa. Họ chỉ có thứ lửa thường và cả ngọn lửa này nếu không biết cách giữ gìn thì cũng có thể bị mất nốt.

Người ta rất sợ những cơn giận của thần Lửa nên họ hết sức chiều chuộng ngọn lửa. Không mấy ai dám để cơn giận của thần bốc lên vì như vậy sẽ gây ra những đám cháy. Người ta lại còn sợ rằng những lúc cháy ấy hốt hoảng đổ nước nhiều thì lửa lại tắt đi mất.

(Nữ thần Lửa, trích Kho tàng Thần Thoại Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, tr 180, 181)

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Xác định nhân vật chính trong truyện thần thoại trên là ai?

Nữ thần Lửa, Ngọc Hoàng

Nữ thần Lửa

Ngọc Hoàng

Người đốn củi, cô vợ người đốn củi

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nữ thần Lửa được miêu tả là:

Nữ thần khô khan, hung dữ nhưng có trách nhiệm

Nữ thần khô khan, hung dữ

Nữ thần độc ác, ma mãnh

Nữ thần khô khan nhưng tốt bụng

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

17. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Không gian bao quát được nói đến trong truyện Nữ thần Lửa là:

Trên trời

Dưới hạ giới

Núi rừng

Đáp án A và B

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

18. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng nào sau đây cho ta biết về công việc của nữ thần Lửa?

Nữ thần Lửa được Ngọc Hoàng giao cho một trọng trách lớn: giữ lửa.

Lửa của nữ thần có nhiều loại: lửa thường, lửa xanh,…

Lửa nhiệm màu có thể đặt nồi không cần nấu mà có thức ăn ngon lành.

Thần bèn rút bát nước luôn mang theo mình dội tắt bếp rồi bỏ đi mất.

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

19. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phát biểu nào sau đây nói lên đặc điểm về cốt truyện của thần thoại Nữ thần Lửa.

Xoay quanh quá trình sáng tạo ra vạn vật và con người.

Xoay quanh chiến tích của những người anh hùng.

Xoay quanh việc giữ lửa của nữ thần và quá trình lấy lửa, bảo vệ lửa của con người.

Xoay quanh cuộc chiến mở rộng địa bàn.

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

20. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Xác định chủ đề của truyện Nữ thần Lửa:

Thể hiện nhận thức chất phác, hồn nhiên về thế giới tự nhiên, đồng thời bày tỏ khát vọng lí giải và chinh phục các hiện tượng tự nhiên của người xưa.

Thể hiện nhận thức chất phác, hồn nhiên về thế giới tự nhiên, đồng thời thể hiện thái độ sợ hãi trước các hiện tượng tự nhiên của người xưa.

Thể hiện ước mơ bay bổng, lãng mạn của người xưa về thế giới tự nhiên.

Thể hiện niềm tin về sự tồn tại của thần linh và khát vọng lí giải các hiện tượng tự nhiên.

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

21. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Qua truyện thần thoại trên, người xưa thể hiện thái độ như thế nào đối với nữ thần Lửa?

Thái độ sợ hãi, ghét bỏ

Thái độ sợ hãi

Thái độ chiều chuộng

Đáp án B và C

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

22. Tự luận
• 1 điểm

Em có nhận xét gì về chi tiết: “…có một thứ lửa rất màu nhiệm, có thể đặt nồi không mà nấu được những thức ăn ngon lành”?

Xem đáp án

Nhận xét gì về chi tiết: “ …có một thứ lửa rất màu nhiệm, có thể đặt nồi không mà nấu được những thức ăn ngon lành”:

- Thể hiện khát vọng, mong ước của người xưa về một cuộc sống đủ đầy, no ấm.

- Chi tiết hoang đường kì ảo, thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa.

- Đây là chi tiết li kì, hấp dẫn tạo nên sức sống cho câu chuyện.

23. Tự luận
• 1 điểm

Qua truyện Nữ thần Lửa, anh/chị hãy lí giải vì sao người xưa lại thường tin rằng mọi hiện tượng trong tự nhiên đều do các vị thần sáng tạo ra?

Xem đáp án

Người xưa thường tin rằng mọi hiện tượng trong tự nhiên đều do các vị thần tạo ra là vì: Do sự hiểu biết còn hạn hẹp, nhận thức còn sơ khai; do khoa học kĩ thuật chưa phát triển nên người ta nhìn thấy sự bí ẩn, kì lạ trong mọi hiện tượng tự nhiên và tin những vị thần có sức mạnh phi thường, khả năng siêu nhiên mới có thể tạo ra chúng; do trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn của người xưa.

24. Tự luận
• 1 điểm

Anh/chị hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất sau khi đọc văn bản.

Xem đáp án

- Một số thông điệp có ý nghĩa: Cần biết trân trọng những gì mình có; hãy biết thận trọng trong cuộc sống; cần biết bình tĩnh để xử lí các tình huống trong cuộc sống…

Đoạn văn

Đọc đoạn trích:

“Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ hồ Tây.

Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói:

- Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên. Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:

- Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.

Dương Trạm nói:

- Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà ngươi, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên ... "

(Trích chuyện Phạm Tử Hử lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trė,2016,Tr.142)

25. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Xác định thể loại của đoạn trích trên

Truyện ngắn

Tiểu thuyết

Truyền kì

Thơ văn xuôi

Xem đáp án

Đáp án đúng là C 

26. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo đoạn trích, tính cách nào của Tử Hư được Dương Trạm răn đe và sửa đổi?

Không ưa kiềm thúc

Kiêu căng

Nóng nảy

Ngang bướng

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

27. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Xác định các nhân vật giao tiếp trong đoạn trích trên

Phạm Tử Hư, Dương Trạm

Nguyễn Dữ, Dương Trạm

Người kể chuyện, Dương Trạm

Phạm Tử Hư, Dương Trạm, Nguyễn Dữ

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

28. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Điều gì khiến Dương Trạm được Đức Đế quân khen là có bụng tốt và tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng?

Tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn.

Toan chạy đến gần sụp lạy khi thấy Đức Đế.

Giữ điều tín thực với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ.

Giữ điều tín thực với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi.

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

29. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Từ Hán Việt “kiềm thúc” được hiểu nghĩa như thế nào?

Tiết kiệm

Kiềm chế bó buộc trong hoạt động.

Hối thúc, thúc giục.

Kiềm chế cảm xúc cá nhân

Xem đáp án

Đáp án đúng là B 

30. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Hiệu quả nghệ thuật của chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích?

Ca ngợi phẩm chất cao quý của Tử Hư.

Tạo ra sự sinh động, tạo hứng thú tăng tính hấp dẫn cho người đọc.

Muốn bất tử hóa nhân vật Dương trạm vì đã có những phẩm chất tốt.

Cả B và C.

Xem đáp án

Đáp án đúng là D 

31. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Ý nào khái quát nội dung chính của đoạn trích?

Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của Dương Trạm và tình nghĩa thầy trò cao quý.

Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của Tử Hư và tình nghĩa thầy trò cao quý.

Phê phán những học trò không biết tôn sư trọng đạo.

Nhắn nhủ mỗi cá nhân cần phải có đức tính tôn sư trọng đạo.

Xem đáp án

Đáp án đúng là A 

32. Tự luận
• 1 điểm

Chi tiết khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về cho thấy Phạm Tử Hư là người như thế nào?

Xem đáp án

Chi tiết khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về cho thấy Phạm Tử Hư là người sống có tình, có nghĩa, biết tôn sư trọng đạo.

33. Tự luận
• 1 điểm

Theo anh/chị tinh thần tôn sư trọng đạo được biểu hiện như thế nào?

Xem đáp án

Những biểu hiện của tinh thần tôn sư trọng đạo:

- Tôn trọng, lễ phép, chăm học.

- Luôn nghĩ về công lao thầy cô, mong muốn được đền đáp.

- Người đi học cần rèn trước hết là đạo đức.

34. Tự luận
• 1 điểm

Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, anh /chị có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta?

Xem đáp án

Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta: Truyền thống tôn sư trọng đạo là truyền thống tốt đẹp từ xưa đến nay của nhân dân ta. Truyền thống nhằm để tôn vinh, kính trọng và sự biết ơn của mỗi cá nhân đối với người thầy của mình.

Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Thu vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào.

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

(Tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến, NXB Hội nhà văn)

35. Tự luận
• 1 điểm

Xác định thể thơ của văn bản trên.

Xem đáp án
Thể thơ:Thất ngôn bát cú Đường luật
36. Tự luận
• 1 điểm

Hãy chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảnh mùa thu trong câu thơ:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Xem đáp án

Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảnh mùa thu: Trời thu xanh ngắt, cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu, nước biếc, bóng trăng.

37. Tự luận
• 1 điểm

Theo em, cảnh mùa thu trong bài thơ đặc trưng của miền nào? Vì sao?

Xem đáp án

Cảnh mùa thu trong bài thơ trên là đặc trưng của miền: Đồng bằng Bắc Bộ/ vùng Bắc Bộ.

Lí giải:

- Ý 2. Hình ảnh bình dị, quen thuộc: bầu trời, trúc, khói, nước, hoaánh trăng thơ mộng… đặc trưng của làng quê Việt Nam

- Ý 3. Không gian cao rộng: “ mấy tầng cao”

- Ý 4. Màu sắc thanh đạm: “xanh ngắt” , “xanh biếc”.

- Ý 5. Đường nét, sự chuyển động nhẹ, uyển chuyển: “lơ phơ”, “hắt hiu” Với tài quan sát tinh tế, Nguyễn Khuyến đã gợi cho người đọc về bức tranh thu với không khí thanh sơ, dịu nhẹ, thoáng đãng, cảnh vật đặc trưng của làng quê Bắc bộ Việt Nam.

38. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Xem đáp án

- Biện pháp tu từ: so sánh “ như”

- Đối: nước biếc >< song thưa; tầng khói phủ >< bóng trăng vào.

- Tác dụng:

+ Góp phần tạo ấn tượng về bức tranh thiên nhiên đẹp huyền ảo, thơ mộng.

+ Tăng tính gợi hình, tạo sự cân đối, nhịp nhàng cho lời thơ.

39. Tự luận
• 1 điểm
Phân tích và sửa lỗi về trật tự từ trong câu sau:

“Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của Việt Nam quê hương, làng cảnh”.

Xem đáp án

- Phân tích lỗi:

+ Sắp xếp từ ngữ không phù hợp với yêu cầu cần diễn đạt và quy tắc cấu tạo.

- Sửa lỗi: Nguyễn khuyến được mệnh danh là nhà thơ của quê hương, làng cảnh Việt Nam.

-> Nhấn mạnh vào cụm từ “ quê hương, làng cảnh” để thấy được thànhcông bậc nhất của Nguyễn Khuyến về đề tài này trong nền thơ Việt Nam.

40. Tự luận
• 1 điểm

Em hãy viết một đoạn văn (từ 8 – 10 dòng) nêu cảm nhận của bản thân về bức tranh mùa thu trong bài thơ trên.

Xem đáp án

Ý 1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân - hợp, móc xích…

Ý 2. Xác định và triển khai vấn đề nghị luận Cảm nhận về bức tranh mùa thu:

+ Cảnh sắc mùa thu, không gian thu…

+ Bức tranh mùa thu đẹp, đặc trưng của làng quê Bắc bộ Việt Nam…

Ý 3. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

Ý 4. Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có cách diễn đạt mới mẻ.

41. Tự luận
• 1 điểm
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện.
Xem đáp án

Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, quê ở Hải Dương, ông là "danh sĩ thời Lê Sơ". "Truyền kì mạn lục" do ông sáng tác đã đem lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc. Truyện được viết bằng chữ Hán gồm hai mươi truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Nguyễn Dữ đã ghi chép tản mạn những câu chuyện lạ trong dân gian thời Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ với sự gia công, sáng tạo. Nổi bật trong tập truyện này, ta có thể kể đến "Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên". Tác phẩm thể hiện rõ sự ngợi ca và khát vọng công lí của nhân dân trong đời sống, đồng thời lên án xã hội phong kiến đương thời với những kẻ tham lam, tàn bạo.

Câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn với chiến thắng oanh liệt trước cái xấu, cái ác. Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, Lạng Giang, chàng nổi tiếng trong vùng với "tính cách cương trực, khảng khái". Ở nơi chàng sinh sống có một ngôi đền rất thiêng. Vậy mà vào cuối đời nhà Hồ, khi "quân Ngô sang lấn cướp", "viên Bách hộ họ Thôi tử trận gần đó đã chiếm lấy ngôi đền và làm yêu làm quái trong dân gian". Ngô Tử Văn rất tức giận vì điều này, vì thế, chàng đã quyết định đốt đền. Sau khi về nhà, chàng lên cơn sốt, trong cơn mê man chàng thấy hồn ma tên bại tướng phương Bắc. Mặc cho tên tướng giặc đe dọa, uy hiếp rằng nếu không trả lại ngôi đền Tử Văn sẽ gặp phải tai vạ, chàng vẫn ung dung, bình thản. Thổ Công hiện lên kể lại toàn bộ sự việc mình bị hại cho Tử Văn và những tội ác tên hung thần gây ra. Vì vậy, trước mặt Diêm Vương, chàng đã dũng cảm tố cáo hồn ma viên Bách hộ. Cuối cùng, Tử Văn được Diêm Vương cho sống lại. Sau này, để đáp lại lời đề bạt của Thổ công, chàng đã nhận chức Phán sự ở đền Tản Viên.

Nguyễn Dữ đã thành công xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn với tính cách thẳng thắn, dũng cảm. Không thể làm ngơ trước sự quấy phá của tên hung thần, Tử Văn đã "tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền". Hành động đốt đền của chàng có chủ đích, cẩn trọng và không phải là hành động bộc phát. Chàng tin rằng hành động của bản thân xuất phát từ những mục đích tốt đẹp, chàng muốn trừ khử tên tướng giặc để người dân có cuộc sống yên bình. Điều này cho thấy Ngô Tử Văn là một người dũng cảm, Tử Văn tin hành động chính nghĩa của mình sẽ được ông trời ủng hộ. Trước lời đe dọa của tên bại tướng phương Bắc, chàng vẫn tỏ ra điềm tĩnh, tự nhiên "Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ "ngồi ngất ngưởng tự nhiên". Chàng đã vạch trần tội ác của tên hung thần và trả lại ngôi đền cho Thổ Công "Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng", "Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi; không đúng như thế, tôi xin chịu thêm cái tội nói càn". Từ nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả muốn đề cao sự nhân nghĩa, dũng cảm của con người. Những đức tính này giúp con người có thể sống vì cộng đồng, vì hạnh phúc nhân dân. Việc Ngô Tử Văn nhận chức Phán sự đền Tản Viên còn thể hiện ước mơ của nhân dân về sự công bằng trong xã hội.

Trái ngược với Tử Văn, viên Bách hộ họ Thôi đại diện cho sự gian xảo. Một tên tướng bại trận lưu vong nơi đất khách mà cướp ngôi đền của Thổ thần để tác oai, tác quái, gây bao phiền nhiễu cho dân lành, hắn còn xảo trá tới mức đút lót, dọa nạt những tên quỷ Dạ Xoa.

Tác phẩm còn lên án, tố cáo chế độ phong kiến đương thời với những tên tham quan, chà đạp lên đời sống của người dân. Điều này được thể hiện rõ nhất qua không gian kì ảo ở thế giới âm ti. Nhân vật kì ảo Diêm Vương được khắc họa là một người chính trực, phán xử đúng tội. Khi biết được lũ quỷ sai thông đồng với hồn ma tên hung thần, người đã "sai lấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào ngục Cửu U". Câu nói của Diêm Vương thể hiện sự răn đe những tên tham quan "Lũ các ngươi chia tòa sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá càn bậy như thế; huống chi về đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được!"

Cốt truyện kịch tính, hấp dẫn, sự đan xen giữa các yếu tố thực và ảo dày đặc cũng làm nên sức hút cho tác phẩm. Yếu tố kì áo có thể kể đến như: nhân vật kì ảo (hồn ma tên tướng giặc, quỷ Dạ Xoa, Diêm Vương, Thổ công), chi tiết kì ảo: Tử Văn chết đi sống lại; chàng nhận chức Phán sự đền Tản Viên. Yếu tố thực trong tác phẩm: địa danh có thật (vùng đất Lạng Giang), thời gian lịch sử (cuối đời nhà Hồ). Ngoài ra, lối kể chuyện lôi cuốn và việc sử dụng ngôi kể thứ ba cũng góp phần giúp người đọc hình dung ra một cách khái quát sự kiện được nhắc tới. Lời bình cuối truyện đã góp phần thể hiện quan niệm của tác giả về kẻ sĩ.Truyện ngầm phản ánh xã hội phong kiến đương thời nhiều bao nhiêu bất công với người dân nghèo khổ. Qua cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác của Ngô Tử Văn, tác giả đã khẳng định niềm tin về sự chiến thắng của cái thiện. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện khát vọng sống công bằng của nhân dân. Truyện đem lại cho chúng ta nhiều bài học ý nghĩa trong cuộc sống về sự dũng cảm, kiên cường, khảng khái khi đấu tranh trước cái xấu, cái ác.

42. Tự luận
• 1 điểm
Viết bài văn phần tích một tác phẩm thơ.
Xem đáp án

Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn từng nhận định: “Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng thơ cất lên từ sự hủy diệt để hướng về sự sống”. Quả đúng là như vậy đọc thơ Hàn Mặc Tử ta luôn thấy một tấm lòng khao khát yêu đời, khao khát sống. Một trong số đó là bài thơ “Mùa xuân chín”. Bài thơ được rút trong tập “Đau thương” (1938) – được coi là “tiếng thơ thuộc loại trong trẻo nhất của Hàn Mặc Tử”, trong trẻo song cũng đầy bí ẩn, đau thương. 

“Mùa xuân chín” gây ấn tượng với bạn đọc bởi chính nhan đề của nó. Bởi lẽ, đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta luôn thấy một sự u huyền, mơ mộng, kì bí, đượm buồn và đau thương với những hình ảnh đặc trưng là “máu”, “trăng” và “rượu”. Thế nhưng, “mùa xuân chín” lại mang đến một cảm giác hoàn toàn mới lạ, một không gian tràn đầy sức sống của cảnh xuân và tình xuân. “Chín” vốn là tính từ để chỉ trạng thái của quả cây khi đã đến giai đoạn thu hoạch, ngọt ngào, căng mọng và thơm mát. Với ý nghĩa đó, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một “mùa xuân chín” – một mùa xuân tràn đầy sức sống, viên mãn và tròn đầy. Mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, rạng rỡ nhất, căng tràn nhựa sống nhất. 

Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt. Về thời gian, tác giả đang say đắm trong thời khắc hiện tại với cảnh xuân tươi đẹp phô bày trước mắt, bỗng sực nhớ về quá khứ xa căm với khung cảnh làng quê thân thương. Về cảnh sắc, bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh (mái nhà tranh, giàn thiên lí, sóng cỏ xanh tươi,...)   thoắt biến thành tâm cảnh ( người con gái dánh thóc dọc bờ sông trắng). Về cảm xúc, Hàn Mặc Tử đã bày tỏ dòng tâm tư của bản thân với nhiều bước ngoặt: từ niềm say mê, rạo rực đến trạng thái bâng khuâng, xao xuyến rồi buồn thương da diết. Có thể thấy, mạch thơ không đi theo một chiều mà luôn vận động vô cùng linh hoạt, phong phú. Đó chính là phong cách thơ độc đáo của chàng thi sĩ họ Hàn. 

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên tươi mới, ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sắc xuân: 

“Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”.

Thiên nhiên mùa xuân hiện ra ngập tràn sắc vàng của nắng hoà trong làn sương khói mờ ảo, huyền bí. Cách kết hợp từ “khói mơ tan” khiến ta hình dung những làn khói sương như đang hoà tan trong nắng tạo nên một khung cảnh đẹp như mơ. Sắc vàng của nắng càng trở nên rực rỡ với hình ảnh “đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Trong khung cảnh thanh bình, yên ả ấy bỗng nhà thơ bắt gặp tiếng “sột soạt” của “gió trêu tà áo biếc”. Biện pháp đảo ngữ và nhân hoá đã được nhà thơ sử dụng thật tài tình. “Sột soạt” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh của động của cảnh vật. Gió như đang trêu đùa cùng tà áo biếc đón xuân sang, khiến không khí mùa xuân trở nên sôi động, vui tươi, đầy hứng khởi. Từ mái nhà tranh, nhà thơ di chuyển điểm nhìn đến “giàn thiên lí”. Dấu chấm đặt giữa câu thơ như một sự ngập ngừng, ngắt quãng. Bởi đó là khoảnh khắc thi nhân giật mình nhận ra “bóng xuân sang”. Mùa xuân được hữu hình hoá, có thể quan sát bằng thị giác. Bóng của mùa xuân nhẹ nhàng bước tới như thể đang đứng trước mặt nhà thơ, khiến con người ngỡ ngàng mà chiêm ngưỡng cái sắc xuân tươi đẹp ấy.

Từ điểm nhìn cận cảnh, Hàn Mạc Tử đưa tầm mắt ra xa với cái nhìn viễn cảnh. Không gian mùa xuân được rộng mở với “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. “Sóng” được kết hợp với thảm có xanh mướt khiến bạn đọc hình dung từng lớp cỏ như nối tiếp nhau, trải dài bất tận, sức sống dường như đang căng tràn một cách mãnh liệt. Ý thơ làm ta nhớ đến một câu thơ trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Cùng diễn tả một không gian mùa xuân với thảm cỏ xanh mướt trải dài bất tận nhưng cái độc đáo của Hàn Mặc Tử là cách nói “sóng cỏ” gợi ra một sự uyển chuyển, nhẹ nhàng mà mượt mà của những lớp cỏ xuân. Phải chăng sức sống cuộn trào từ bên trong, tạo thành những đợt sóng và kết lại tạo nên một “mùa xuân chín”!

Từ cảnh thu, Hàn Mạc Tử bỗng chuyển sang tình thu, bức tranh ngoại cảnh trở về với bức tranh tâm cảnh. Phải chăng, nhà thơ dùng cảnh mở đầu là để nói tình, tả tình? Một cái tình nồng hậu, thiết tha với con người và cuộc đời. Hoà cùng với không khí tươi vui của mùa xuân, ta thấy được cái náo nức trong lòng người:

“Bao cô thôn nữ hát trên đồi

-Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”

“Xuân xanh” là một ẩn dụ để chỉ những cô gái trẻ trung, xinh đẹp. Tuổi xuân của họ tươi đẹp, rực rỡ như mùa xuân của đất trời. Chính vì vậy, niềm vui của những cô thôn nữ hoà trong không khí mùa xuân chính là tình xuân. Cái ửng của nắng phải chăng chính là đôi má ửng hồng của các cô gái khi “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Niềm vui của họ là tình yêu đôi lứa, là sự gắn kết trong hôn nhân đến bạc đầu. “Mùa xuân chín” không chỉ là tiết trời xuân mà còn là tình xuân. Cái “chín” trong tình yêu chính là kết quả nên vợ nên chồng. Niềm hạnh phúc của những cô gái được thể hiện trong “tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi”. Hàn Mặc Tử đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thật tài tình. “Tiếng ca” vốn được cảm nhận bằng thính giác, nay được hữu hình hoà trong trạng thái “vắt vẻo”, cảm nhận bằng thị giác. Tiếng hát ca say sưa của con người như có sức hút, cao vút đến lưng chừng núi thể hiện niềm thiết tha yêu đời mãnh liệt. Dư âm của tiếng hát dường như còn ngập ngừng mà “vắt vẻo lưng chừng núi” tạo nên một âm thanh vang vọng khắp không gian. Xuân tình từ thiên nhiên lây lan, giao ứng với xuân tình trong lòng người, cả hai nhập vào nhau trong cùng một tiếng hát. Là tiếng hát của những cô thôn nữ mà cũng là tiếng hát của nước mây. Thiên nhiên và con người đồng ca, đồng vọng hay tiếng hát trong lòng thiên nhiên đang cất lên qua lời hát của con người. 

Từ âm thanh cao vút, hổn hển như lời của nước mây bỗng trở thành những lời thầm thì nhỏ bé:

“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây”

Câu thơ phảng phất tính tượng trưng, siêu thực trong thơ Hàn Mạc Tử. Đại từ “ai” xuất hiện như “bóng ai đậu bến sông trăng đó” (Đây thôn Vĩ Dạ) đầy bí ẩn. “Tiếng ca” vốn vang xa khắp núi rừng nay thu lại chỉ dành cho “ai”. Đó có thể là người thương, cũng có thể là với chính bản thân mình. Để rồi, khi tâm tình, sẻ chia, con người có thể lắng nghe được những “ý vị và thơ ngây” trong lòng mình. Tuy nhiên, câu thơ cũng mang theo nỗi buồn, niềm nuối tiếc của người thi sĩ trước “mùa xuân chín”. Bởi “xuân chín” rồi cũng là lúc “xuân tàn”, cái đẹp rồi cũng sẽ tàn phai. “Đám xuân xanh ấy” rồi cũng “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Tuổi xuân tươi đẹp của người thiếu nữ rồi cũng có điểm kết. Ta thấy dâng lên trong lòng nhà thơ một nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến, muốn níu giữ cái hương sắc tươi đẹp của cuộc đời. Để rồi, kết thúc bài thơ, Hàn Mặc Tử hoá thân trong một người “khách xa”, bày tỏ nỗi nhớ nhung của mình:

“Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

-Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. 

Trước “mùa xuân chín”, lòng “khách xa” bỗng trào dâng nỗi nhớ làng quê thân thương. Nhớ làn nắng ửng, nhớ đôi mái nhà tranh, nhớ tà áo biếc và nhớ cả giàn thiên lý. Đó là một không gian làng quê mộc mạc, giản dị, gần gũi mà chan chứa nghĩa tình. Và trong không gian ấy, hình ảnh người chị gánh thóc trở thành trung tâm của nỗi nhớ. “Chị ấy” là một cách nói phiếm chỉ. Đó có thể là một người dân lao động bình thường nơi thôn quê của tác giả, cũng có thể là một người thân quen gần gũi, hoặc cũng có thể là cô người yêu của thi nhân. Thế nhưng, dù hiểu theo cách nào, ta cũng thấy một niềm yêu quý và trân trọng của tác giả đối với “chị”. Người con gái xuất hiện trong nét đẹp lao động với tư thế gánh thóc, hoà cùng ánh nắng vàng bên bờ sông trắng. Một khung cảnh hiện lên thật thơ mộng, lãng mạn biết bao! Ta có thể thấy ánh nắng xuân lúc này càng trở nên long lanh, lấp lánh hơn trong dòng hồi tưởng của người khách xa quê. 

Như vậy, bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử có sự hài hoà của sắc xuân, tình xuân. Không chỉ mùa xuân chín mà lòng người cũng “chín” với khát khao giao cảm với cuộc đời, “chín” với tình yêu và nỗi nhớ. Một nét đặc trưng tiêu biểu làm nên sự độc đáo của “Mùa xuân chín” cũng như ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử chính là sự kết hợp tài tình giữa cái cổ điển và cái hiện đại. Trước hết, ta bắt gặp thơ Hàn Mặc Tử có những điểm giao thoa với thể thơ Đường luật, tạo nên một nét thơ phảng phất phong vị cổ điển, trang trọng. “Mùa xuân chín” được sáng tác theo thể thơ bảy chữ, ngắt nhịp 4/3. Thất ngôn và ngắt nhịp 4/3 là đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường luật. Ngoài ra, cách gieo vần cuối những câu thơ 1, 2, 4 cũng là một điểm giao thoa với thể thơ Đường luật. Đó là những yếu tố làm nên phong vị cổ điển trong thơ Hàn Mặc Tử. Về tính hiện đại, thi sĩ họ Hàn là người chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực. Một trong những đặc điểm tiêu biểu của thơ tượng trưng siêu thực đó là tạo nên những hình ảnh huyền ảo, kì bí, thậm chí là ma mị bằng những kết hợp từ mới mẻ, độc đáo thông qua nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Có thể thấy ngòi bút của Hàn Mạc Tử đã đạt đến trình độ điêu luyện trong việc sáng tạo nên những kết hợp từ ngữ mới: mùa xuân chín, bóng xuân sang, đám xuân xanh, tiếng ca vắt vẻo, nghe ra ý vị và thơ ngây. Tất cả những gì trừu tượng, không thể cảm nhận bằng mắt thường đã được nhà thơ hữu hình hoá một cách thật tài tình, độc đáo. Những nét thơ mới lạ tạo nên tính hiện đại rất riêng trong thơ Hàn Mặc Tử. Hoà cùng với dòng phát triển của Thơ mới trong thời bấy giờ, thơ Hàn Mặc Tử đã tạo ra một lối rẽ riêng - tinh tế, độc đáo và mới lạ.

Thơ Hàn Mặc Tử bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng. Đọc “mùa xuân chín”, ta thấy Hàn Mặc Tử đã mượn bức tranh xuân tươi đẹp, rạo rực, tràn đầy sức sống để bày tỏ cái “xuân chín” trong lòng người. “Chín” trong tình thương, “chín” trong nỗi nhớ về con người, cuộc đời và quê hương. Nổi bật hơn hết là một tấm lòng khát khao giao cảm với cuộc đời, trân trọng cái đẹp và ý thức nâng niu, giữ gìn những gì tinh tuý, đẹp đẽ của cuộc đời. Khao khát ấy trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử, tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc, để tư tưởng trong những dòng thơ còn âm vang mãi cho đến hiện tại.