Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Lịch sử 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 2
28 câu hỏi
Nội dung nào sau đây là đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996 - 2006?
Xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế quan liêu và bao cấp.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Xây dựng thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể.
Tập trung vào ưu tiên phát triển công nghiệp nặng.
Đường lối Đổi mới đề ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục hoàn thiện, bổ sung sau đó nhằm
đảm bảo an ninh - quốc phòng.
đáp ứng yêu cầu về ngoại giao.
điều chỉnh trọng tâm đổi mới sang chính trị.
phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.
Nội dung nào sau đây là thành tựu cơ bản của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986 đến nay)?
Hoàn thành công nghiệp hóa trước hạn.
Đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.
Phóng thành công tàu vũ trụ có người lái.
Trở thành cường quốc công nghiệp ở châu Á.
Bài học kinh nghiệm nào được coi là nguyên tắc hàng đầu được thực hiện trong quá trình đổi mới ở Việt Nam?
Thay đổi mục tiêu chiến lược để bắt kịp xu thế thời đại.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đổi mới toang diện, đồng bộ, lấy chính trị làm trọng tâm.
Kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu đầu thế kỉ XX chủ yếu diễn ra ở đâu?
Nhật Bản.
Pháp.
Anh.
Mỹ.
Nhận xét nào đúng về hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945?
Ký được các văn bản ngoại giao với kẻ thù để kết thúc chiến tranh.
Có quá trình đấu tranh ngoại giao căng thẳng với thế lực ngoại xâm.
Bảo vệ toàn vẹn độc lập, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia.
Chủ yếu diễn ra ở nước ngoài, gắn với việc tìm con đường cứu nước.
Năm 1950, những quốc gia nào sau đây đã công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là
Liên Xô, Mỹ, Anh.
Trung Quốc, Liên Xô.
Cộng hoà Dân chủ Đức, Pháp.
Cộng hoà Liên bang Đức, Mĩ.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày 6/3/1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện sách lược hòa hoãn với Trung Hoa Dân Quốc nhằm
tránh trường hợp phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc.
củng cố quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
củng cố quan hệ ngoại giao với các cường quốc tư bản.
hạn chế sự chống phá của thực dân Pháp ở miền Bắc.
Điều khoản nào của Hiệp định Pari năm 1973 có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước?
Hai bên ngừng bắn và giữ nguyên vị trí ở miền Nam.
Nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị.
Các bên thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền.
Hoa Kì rút hết quân viễn chinh và quân các nước đồng minh.
Trong giai đoạn 1975 - 1985, Việt Nam có hoạt động đối ngoại nào sau đây?
Tham gia và có nhiều đóng góp vào sự phát triển của ASEAN.
Bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và Trung Quốc.
Đấu tranh chống chính sách bao vây, cấm vận từ bên ngoài.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng trên các lĩnh vực.
Tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, khu vực sẽ đem tới cơ hội phát triển nào cho Việt Nam?
Tiếp cận được nguồn vốn đầu tư từ các nước.
Có thể tham gia vào các khối liên minh quân sự.
Tiếp cận được nguồn lao động giá rẻ ở châu Âu.
Liên minh với Mỹ để giải quyết vấn đề biển Đông.
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành đã
rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mới cho dân tộc.
đọc được sơ thảo Luận cương của Lênin đăng trên báo Nhân đạo.
gửi tới Hội nghị Véc-xai Bản yêu sách của nhân dân An Nam.
tham gia Đại hội Tua, bỏ phiếu tán thành ra nhập Quốc tế cộng sản.
Tổ chức nào sau đây do Nguyễn Ái Quốc thành lập, được xem là tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Đông Dương Cộng sản đảng.
Hội Việt Nam Cách mang thanh niên.
Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa.
Sự kiện nào đánh dấu Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với chủ nghĩa cộng sản?
Gửi đến Hội nghị Vécxai bản Yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam (1919).
Đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa (tháng 7/1920).
Tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp (tháng 12/1920).
Tham dự và nhiều lần trình bày tham luận tại Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (1924).
Nguyễn Ái Quốc và các bậc tiền bối đương thời (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) đều
có tư tưởng hướng ra bên ngoài để tìm cách cứu nước.
chủ trương đoàn kết quốc tế trên tinh thần quốc tế vô sản.
chú trọng việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam.
có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bạn và thù của cách mạng.
Sau khi về Việt Nam (đầu năm 1941), Nguyễn Ái Quốc đã chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng
Khu giải phóng Việt Bắc.
trung tâm chỉ đạo kháng chiến.
sở chỉ huy các chiến dịch.
căn cứ địa cách mạng.
Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang được thành lập với tên gọi là
Trung đội Cứu quốc quân III.
Đội du kích Bắc Sơn.
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
Việt Nam Giải phóng quân.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để giải quyết căn bản nạn đói ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi thực hiện
“Người cày có ruộng”.
“Tăng gia sản xuất”.
“Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”.
“Nhường cơm sẻ áo”.
Trong quá trình chuẩn bị những điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1925 - 1929), Nguyễn Ái Quốc đã
giành được một số quyền tự do, dân chủ cho dân tộc.
xây dựng được một số cơ sở cách mạng ở nước ngoài.
từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản đầu tiên.
bước đầu nhận thức được bản chất của chủ nghĩa đế quốc.
Trong hành trình tìm đường cứu nước (1911 - 1917), việc thấu hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và các cuộc cách mạng tư sản là cơ sở để Nguyễn Tất Thành
kiên quyết đấu tranh chống lại chính phủ và nhân dân Pháp.
xây dựng đường lối cách mạng độc lập với vô sản thế giới.
dung hoà con đường cách mạng tư sản và cách mạng vô sản.
lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng vô sản.
Có nhiều lí do để khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử Việt Nam, ngoại trừ việc
chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng ở Việt Nam.
đánh dấu phong trào công nhân trở thành phong trào tự giác.
là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho những bước phát triển tiếp theo.
đánh dấu khối liên minh công - nông được hình thành trên thực tế.
Năm 1987, tổ chức nào sau đây đã công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa hóa kiệt xuất”
UNESCO.
WTO.
WFN.
UNICEF.
Năm 1976, thành phố nào sau đây được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
Hà Sơn Bình.
Bình Trị Thiên.
Cao Lạng.
Sài Gòn-Gia Định.
Nội dung nào sau đây không phải là hình thức vinh danh, tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhiều nước trên thế giới?
Xây dựng đài tưởng niệm, nhà lưu niệm.
Xây dựng lăng để gìn giữ thi hài của Người.
Dùng tên của Người để đặt tên đường phố.
Bảo tồn các công trình di tích tưởng niệm.
Cho thông tin, tư liệu sau đây: Đường lối đổi mới đất nước của Việt Nam (từ năm 1986) có nội dung: “Bên cạnh việc đổi mới về tư duy kinh tế là đổi mới về chính trị. [... ] việc đổi mới về chính trị phải được tiến hành tích cực và vững chắc để không gây mất ổn định về chính trị và làm phương hại đến toàn bộ công cuộc đổi mới. Trong việc đổi mới về chính trị, Đảng phải chú trọng đến các vấn đề như, dân chủ hóa xã hội, “lấy dân làm gốc”, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
(Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 15, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017, tr.38)
Những thành tựu đạt được từ công cuộc Đổi mới của Đảng (1986 - nay) tạo cơ đồ, vị thế và uy tín, trở thành nền tảng vững chắc để thực hiện khát vọng phát triển đất nước trong kỉ nguyên mới.
Tư tưởng “lấy dân làm gốc" trong đường lối đổi mới của Đảng là sự kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.
Việc thực hiện đổi mới về tư duy kinh tế và đổi mới về chính trị (1986 - nay) đã giải phóng hoàn toàn sức dân, qua đó phát huy được mọi nguồn lực của nhân dân trong nền kinh tế thị trường.
Theo đoạn tư liệu trên, bên cạnh đổi mới về tư duy kinh tế, Đảng coi trọng đổi mới về chính trị.
Cho tư liệu sau: “Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngoại giao Việt Nam đứng trước một thách thức lớn khi nhiều lực lượng ngoại bang có mặt trên đất nước mà chưa có một quốc gia nào thực sự ủng hộ nhà nước độc lập non trẻ. Từ đó, cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập và thống nhất được tiến hành suốt 30 năm (1945 - 1975). Cùng với những chiến thắng quân sự và thắng lợi chính trị, hoạt động ngoại giao Việt Nam đã ghi đậm dấu ấn sâu sắc qua ba bản hiệp định (Hiệp định Sơ bộ năm 1946, Hiệp định Geneva [Giơ-ne-vơ] năm 1954 và Hiệp định Paris [Pa-ri] năm 1973)".
(Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.416)
Bước phát triển của đấu tranh ngoại giao Việt Nam trong 30 năm (1945 - 1975) xoay quanh những vấn đề cơ bản là chủ quyền quốc gia và thống nhất đất nước.
Các hiệp định được nhắc đến trong đoạn tư liệu trên là kết quả của quá trình đấu tranh ngoại giao gay gắt và đều được kí kết trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thực tiễn đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong 30 năm (1945 - 1975) đã chứng tỏ đường lối chính trị và đấu tranh ngoại giao đều phục tùng đấu tranh quân sự.
Đoạn tư liệu trên ghi nhận: Từ năm 1945 đến năm 1975, ngoại giao Việt Nam ghi đậm dấu ấn sâu sắc qua ba bản hiệp định: Hiệp định Pốt-xđam, Hiệp định Giơ-ne-vơ và Hiệp định Pa-ri.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Tư liệu. “Bài đó [Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin] khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại, và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc.Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:
“Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
(Hồ Chí Minh, “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác - Lênin”, trích trong: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.562)
Chủ nghĩa yêu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.
Việc Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo Luận cương của Lênin được coi là mốc đánh dấu: kết thúc sự khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam.
Cụm từ “đây là con đường giải phóng chúng ta!” trong đoạn tư liệu trên phản ánh về con đường cứu nước theo khuynh hướng cách mạng vô sản.
Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc xác định có nội dung cơ bản: giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Tư liệu. “Tôi [Hồ Chí Minh] tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
(Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài, bài đăng trên báo Cứu quốc, số 147, ngày 21/1/1946, trích trong: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.187)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) cho đến khi từ trần (1969), Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời giữ nhiều chức vụ quan trọng khác.
Chi tiết “đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân” đã phản ánh quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời về nhân cách, đạo đức và lối sống cho các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.
Gợi ý cho bạn
Xem tất cảNgân hàng đề thi




