Bộ 15 đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn lớp 11 Cánh diều có đáp án - Đề 7
11 câu hỏi
Xuân không mùa
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường;
Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương,
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
*
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ.
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ?
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng...
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.
(Nguồn: Thơ Xuân Diệu. NXB Văn học 2019)
Dòng nào nói lên đề tài của văn bản Xuân không mùa?
Thiên nhiên
Mùa xuân
Tình yêu
Vũ trụ
B. Mùa xuân
Nhân vật trữ tình của văn bản Xuân không mùa là người như thế nào?
Là người yêu đời, yêu sự sống
Là người yêu thiên nhiên, mùa xuân
Là người băn khoăn đi tìm lẽ sống
Là người đang tìm định nghĩa về mùa xuân
A. Là người yêu đời, yêu sự sống
Dòng nào nêu lên tứ thơ của văn bản Xuân không mùa?
Xuân ở nắng – Xuân ở sương mỏng – Xuân ở cành xanh – lòng người
Xuân của đất trời – Xuân ở lòng người – Xuân không ngày tháng
Xuân ở chim hót – Xuân ở gió trở – Xuân ở mây bay
Xuân ở giữa đông – Xuân ở giữa hè – Xuân ở cây nhãn bỗng ra hương
B. Xuân của đất trời – Xuân ở lòng người – Xuân không ngày tháng
Hai dòng thơ “Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa/ Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta” diễn tả điều gì?
Mùa xuân bất tử trong lòng thi sĩ
Sự tương hợp kì diệu giữa vũ trụ và lòng người
Bình minh làm nên mùa xuân rạng ngời
Mùa xuân khởi xuất từ lòng người
B. Sự tương hợp kì diệu giữa vũ trụ và lòng người
Dòng nào nói lên những biện pháp tu từ được Xuân Diệu sử dụng ở Xuân không mùa?
Nhân hóa, chơi chữ, đảo ngữ
Điệp từ, điệp cấu trúc câu, ẩn dụ
Đối lập, hoán dụ, nói quá, so sánh
Điệp cấu trúc câu, đối ngẫu
A. Nhân hóa, chơi chữ, đảo ngữ
Xuân Diệu diễn tả những chuyển động tinh vi của đối tượng nào trong Xuân không mùa?
Mùa xuân của đất trời
Mùa xuân của lòng người
Cảnh vật, vũ trụ, lòng người
Cảnh vật trong nắng hé, nắng rạng
C. Cảnh vật, vũ trụ, lòng người
Dòng thơ nào thể hiện tình yêu đời, yêu sự sống cháy bỏng, mãnh liệt của Xuân Diệu?
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa
Kể chi mùa, thời tiết với niên hoa
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng
D. Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng
Dòng nào không nói lên vai trò của những yếu tố tượng trưng trong Xuân không mùa?
Tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo cuốn hút
Diễn tả niềm yêu đời say mê đến cuồng nhiệt của thi sĩ
Diễn tả tình yêu, sự ngưỡng mộ, ngợi ca con người lao động
Diễn tả sự tương hợp kì diệu giữa vũ trụ và lòng người
C. Diễn tả tình yêu, sự ngưỡng mộ, ngợi ca con người lao động
Đất trời, vạn vật biến đổi như thế nào trong tâm hồn Xuân Diệu? Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trước giây phút huyền diệu ấy.
* Đất trời, vạn vật biến đổi tinh vi, diệu kỳ
- Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
- Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
- Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa…
à Đất trời vạn vật biến đổi bất ngờ tinh vi, diệu kì: năng rạng, chim hót ra thơ, hở một khung trời, trời biếc sau mưa,… tất thảy đẹp hơn, rạng rỡ hơn… đem mùa xuân đến với lòng người.
* Thi sĩ giao hòa, đắm say ngắm nhìn, ghi lại từng vi mạch của sự sống, những khoảnh khắc trở mình bất chợt của tạo vật… để hân hoan sống, đón nhận sức sống đang bừng lên trong màu nắng, làn gió, áng mây…
Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ đâu? Tác giả đã gửi đến chúng ta quan niệm nhân sinh nào trong thi phẩm thơ độc đáo này?
- Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ lòng yêu đời của con người.
- Quan niệm nhân sinh:
+ Sống lạc quan, yêu đời, sống hết mình và giao hòa cùng vũ trụ, thiên nhiên để cảm nhận những biến chuyển của tín hiệu sống diệu kỳ.
+ Sống tích cực, lạc quan để cảm nhận mùa xuân lai láng trong đất trời vạn vật để có xuân không mùa, xuân lai láng trong lòng mình.
Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A.Lin – côn viết:
Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách, nhưng cũng để cho cháu đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bông hoa nở ngát trên đồi xanh.
(Ngữ văn 10, tập 2, NXBGD, 2006)
Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề được gợi ra từ câu chuyện trên.
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Đảm bảo cấu trúc ba phần: Mở - Thân - Kết.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Viết văn bản nghị luận vấn đề được gợi ra từ bức thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình của Tổng thống Mĩ A.Lin – côn
c. Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo các ý sau:
- Giải thích ý nghĩa đoạn thơ:
+ Dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách: Biết thu nhận kiến thức từ sách vở, có niềm say mê khám phá thế giới kiến thức phong phú của sách.
+ “Cũng để cho cháu đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống‛: chú trọng rèn luyện tâm hồn nhạy cảm, biết quan tâm đến cuộc sống xung quanh, tự mình khám phá ý nghĩa của cuộc sống, vẻ đẹp của thế giới tự nhiên cũng như của con người.
+ Đoạn thơ là lời tâm sự, mong mỏi của một người cha đối với nhà trường, với các nhà giáo dục: Dạy cho con mình hiểu biết và trân trọng giá trị của sách vở và cuộc sống.
- Bàn luận, mở rộng vấn đề:
+ Đây là tâm tình của một người cha: thể hiện tình yêu con, mong muốn con trưởng thành.
+ Lời đề nghị của ông với thầy hiệu trưởng, với nhà trường còn thể hiện mong ước của một người yêu thương, quan tâm đến sự phát triển toàn diện nhân cách của thế hệ trẻ.
- Nội dung lời đề nghị sâu sắc, chính đáng:
+ Không phủ nhận vai trò quan trọng của sách, của kiến thức văn hóa do sách vở mang lại, vì đó là cả một ‚thế giới kì diệu‛, rộng mở. Không có kiến thức văn hóa, con người thiếu nền tảng tri thức.
+ Tuy nhiên, kiến thức cuộc sống thực tiễn của con người cũng quan trọng không kém, bởi đó là‚ sự bí ẩn muôn thuở‛ mà con người luôn cần khám phá, hiểu biết. Nó cần thiết và bổ ích cho con người, có tác động tích cực trong việc vun đắp bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy tình yêu cuộc sống.
+ Vai trò của người thầy trong việc khơi dậy tinh thần tự học, lòng ham hiểu biết khám phá, chiêm nghiệm và ‚ lặng lẽ suy tư‛ trước mọi vấn đề của đời sống của học sinh. Đó là điều quan trọng để học sinh có thói quen quan tâm đến mọi điều trong đời sống.
+ Phê phán quan điểm phiến diện: hoặc chỉ thấy vai trò của kiến thức sách vở, hoặc chỉ quan tâm đến thực tiễn.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Biết học trong sách vở nhưng cũng cần biết học ở cuộc sống, quan tâm đến đời sống xã hội. Đó là chìa khóa dẫn đến thành công của mỗi con người.
+ Biết yêu cuộc sống, nhận ra vẻ đẹp từ những điều bình dị nhất của vạn vật quanh ta. Học kiến thức song song với rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng tâm hồn.
+ Đó là sự phát triển toàn diện nhân cách của con người.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Diễn đạt sáng tạo, sinh động, giàu hình ảnh, có giọng điệu riêng.








