Bộ 10 đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 10 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 3
10 câu hỏi
Trước khi có Trời đất, vũ trụ chỉ là một khối khí hỗn độn, trong đó không có ánh sáng và âm thanh. Tại trung tâm có một cục đá lớn đã thọ khí Âm Dương chiếu diệu rất lâu đời, nên đã thâu được các tính linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người. Sau 10 tháng 16 ngày (có tích là qua 18.000 năm thai nghén), đúng giờ Dần, một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, một vị Linh Chân hy hữu ra đời, là Thần mang hình hài như con người được gọi là Bàn Cổ. Ngài cảm thấy không gian này vô cùng chật chội, liền dùng một cái rìu phá tan khối hỗn độn. Khối hỗn độn ấy mở ra, chia làm hai phần: phần nhẹ mà trong mỗi ngày đều bay lên cao, vì thế hình thành bầu trời; phần nặng mà đục mỗi ngày đều rơi xuống thấp, vì thế hình thành mặt đất. Giữa Trời và Đất, Bàn Cổ cũng mỗi ngày lớn lên một trượng. Ngài càng lớn càng cao, trở thành đầu đội trời, chân đạp đất, một người cao lớn không ai sánh nổi.
Vừa sinh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, dần dần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng. Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi ước nặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm búa, tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần. Thuở đó Trời Ðất còn mờ mịt. Ngài ước cho phân biệt Trời Ðất thì nhân vật mới hóa sinh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì sấm nổ vang, Thiên thanh, Ðịa minh, vạn vật sinh ra đều có đủ cả. Ngài liền chỉ Trời là Cha, chỉ Ðất là Mẹ, muôn dân là con. Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên cũng gọi Ngài là Thái Thượng Ðạo Quân. Ngài tự xưng là Thiên tử, tức là con Trời, cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của cõi thế gian nên gọi Ngài là Hỗn Độn thị. Tương truyền, Bàn Cổ có ba người con là Phục Hy, Nữ Oa, và Hoa Tư.
Bàn Cổ thọ được 18.000 tuổi rồi quy tiên. Khi Ngài chết, mắt trái biến thành mặt trời, mắt phải biến thành mặt trăng, máu biến thành sông, mỡ biến thành biển, râu tóc biến thành thảo mộc, thịt biến thành đất đai, tóc biến thành tinh tú, da biến thành cây cỏ, xương cốt và răng biến thành vàng đá, tinh túy biến thành châu ngọc, mồ hôi biến thành mưa. Đầu Ngài biến thành Đông Nhạc Thái Sơn, hai chân biến thành Tây Nhạc Hoa Sơn, ngực và bụng biến thành Trung Nhạc Tùng Sơn, vai trái biến thành Nam Nhạc Hoành Sơn, tay phải biến thành Bắc Nhạc Hằng Sơn.
(Nguồn: truyenxuatichcu.com)
Văn bản trên thuộc thể loại truyện nào?
Truyện ngụ ngôn
Truyện ngắn
Truyền thần thoại
Truyện cổ tích
C. Truyền thần thoại
Thời gian, không gian của văn bản được miêu tả như thế nào?
Thời gian không xác định, không gian cổ sơ, hỗn độn
Thời gian xa xưa, từ khi chưa có loài người, không gian kì ảo
Thời gian xa xưa, không gian mênh mông chỉ toàn bóng cây, ngọn cỏ
Thời gian khoảng 18.000 năm trước, không gian tối tăm
A. Thời gian không xác định, không gian cổ sơ, hỗn độn
Văn bản kể truyện xoay quanh nhân vật chính nào?
Nữ Oa
Thần Bàn Cổ
Thần Trời
Thần Đất
B. Thần Bàn Cổ
Có những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu văn sau: ““Vừa sinh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, dần dần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng.”
So sánh, nhân hóa, liệt kê
Liệt kê, nói giảm nói tránh, ẩn dụ
So sánh, nói quá, liệt kê
Ẩn dụ, nhân hóa, nói quá
C. So sánh, nói quá, liệt kê
Chi tiết nào không phải chi tiết kì ảo trong truyện?
Ngài càng lớn càng cao, trở thành đầu đội trời, chân đạp đất, một người cao lớn không ai sánh nổi
Vừa sinh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, dần dần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng
Ngài ước cho phân biệt Trời Ðất thì nhân vật mới hóa sinh được
Khi Ngài chết, mắt trái biến thành mặt trời, mắt phải biến thành mặt trăng, máu biến thành sông, mỡ biến thành biển, râu tóc biến thành thảo mộc,…
C. Ngài ước cho phân biệt Trời Ðất thì nhân vật mới hóa sinh được
Theo anh/chị, dòng nào dưới đây có tiêu đề phù hợp với văn bản trên?
Bàn Cổ khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ
Lịch sử loài người
Bàn Cổ - vị thần của trời đất
Dấu ấn thần thoại Trung Quốc
A. Bàn Cổ khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ
Thần Bàn Cổ sinh ra có điểm gì đặc biệt?
Sinh ra từ Trời và Đất
Sinh ra từ một cục đá lớn
Sinh ra từ Trời
Sinh ra từ một con người bình thường
B. Sinh ra từ một cục đá lớn
Ý nghĩa của truyện trên là gì?
Giải thích sự hình thành vũ trụ, trời đất, quá trình hoàn thiện thế giới, muôn loài
Lí giải sự tồn tại và phát triển của các loài vật ở vũ trụ
Ý nghĩa của sự ra đời vị thần Bàn Cổ
Quá trình hoàn thiện thế giới dưới cái nhìn thần thánh của vị thần Bàn Cổ
A. Giải thích sự hình thành vũ trụ, trời đất, quá trình hoàn thiện thế giới, muôn loài
Anh/chị hãy phân tích trí tưởng tượng phong phú của người xưa qua một số chi tiết trong truyện.
HS lựa chọn một số chi tiết trong truyện để phân tích trí tưởng tượng của người xưa.
Ví dụ:
- Chi tiết thần kì: Khi Ngài chết, mắt trái biến thành mặt trời, mắt phải biến thành mặt trăng, máu biến thành sông, mỡ biến thành biển, râu tóc biến thành thảo mộc, thịt biến thành đất đai, tóc biến thành tinh tú, da biến thành cây cỏ,…
- Những chi tiết trên chính là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú. Người xưa đã lí giải cho những hiện tượng, sự vật tồn tại trên Trái Đất,…
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá: chủ đề và nghệ thuật của truyện “Đi san mặt đất” (Truyện của người Lô Lô, trích Mẹ Trời, Mẹ Đất).
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Chủ đề và nghệ thuật của truyện “Đi san mặt đất”.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý cần hướng tới:
- Giới thiệu truyện kể và nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá.
- Xác định chủ đề truyện: Tác phẩm kể về công cuộc khai hoang đất đai của loài người. Con người góp sức, cùng nhau san mặt đất để làm ăn.
- Ý nghĩa truyện:
+ Thần thoại “Đi san mặt đất” thể hiện ý thức cải tạo thiên nhiên để phục vụ đời sống con người của người Lô Lô cổ đại.
+ Tác phẩm bộc lộ cái nhìn ngây thơ, hồn nhiên của người xưa về thế giới tự nhiên.
+ Qua tác phẩm, tác giả dân gian cũng gửi gắm tình cảm yêu mến, ngợi ca đối với công ơn của các thế hệ ông cha đi trước.
- Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
+ Yếu tố không gian và thời gian mang tính chất cổ xưa.
+ Thần thoại “Đi san mặt đất” được viết bằng thơ khiến cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc.
+ Biện pháp tu từ nhân hóa (nhân hóa loài vật) cũng tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm.
+ Ngôn từ, hình ảnh sinh động phản ánh chân thực không gian sinh hoạt của người Lô Lô xưa.
- Khẳng định lại giá trị của chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện kể; nêu ý nghĩa của tác phẩm đối với bản thân và người đọc.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ, lựa chọn lí lẽ, dẫn chứng bày tỏ một cách thuyết phục.

