2048.vn

Bộ 10 đề thi cuối kì 2 Văn 9 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 6
Đề thi

Bộ 10 đề thi cuối kì 2 Văn 9 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 6

A
Admin
VănLớp 95 lượt thi
7 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi.

KHÓC DƯƠNG KHUÊ*

(Nguyễn Khuyến)

Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta,

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo,

Có khi tầng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang(1),

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương(2) ăm ắp bầu xuân,

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần(3) trước sau,

Buổi dương cửu(4) cùng nhau hoạn nạn,

Phận đẩu thăng(5) chẳng dám tham trời,

Bác già, tôi cũng già rồi,

Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,

Trước ba năm gặp bác một lần,

Cầm tay hỏi hết xa gần,

Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can,

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày,

Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời,

Ai chẳng biết chán đời là phải,

Vội vàng sao đã mải lên tiên,

Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua,

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa,

Giường kia(6) treo những hững hờ,

Đàn kia(7) gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn,

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,

Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương,

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.

                                                    (Theo Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2012)

Chú thích:

* Dương Khuê (1839 - 1902) người làng Vân Đình, tổng Phương Đình, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, thuộc Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình. Ông là bạn thân của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

Khóc Dương Khuê lúc đầu viết bằng chữ Hán (Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư), sau đó được chính Nguyễn Khuyến dịch ra chữ Nôm và bản chữ Nôm lại có phần phổ biến hơn bản chữ Hán.

(1) Cầm xoang (cầm: đàn; xoang: điệu hát): ở đây chỉ việc tác giả và bạn đi hát ả đào.

(2) Quỳnh tương: chỉ thứ rượu ngon.

(3) Đông bích: chỉ phòng đọc sách. Điển phần: tức tam phần ngũ điển, chỉ các sách thời thượng cổ Trung Quốc mà nhà nho xưa nghiên cứu.

(4) Buổi dương cửu: thời buổi suy đồi, vận hạn; ở đây chỉ thời gian nước ta bị thực dân Pháp xâm lược.

(5) Phận đẩu thăng: đẩuthăng là dụng cụ đong thóc gạo thời xưa. Các quan ngày xưa nhận lương bằng thóc nên nói phận đẩu thăng là nói phận người làm quan.

(6) Giường kia: Trần Phồn thời hậu Hán có người bạn thân là Từ Trĩ. Phồn dành riêng cho bạn một cái giường khi bạn đến chơi mời ngồi, lúc bạn về lại treo giường lên.

(7) Đàn kia: Tương truyền Bá Nha và Chung Tử Kì là hai người bạn. Bá Nha là người chơi đàn giỏi. Tử Kì có tài nghe tiếng đàn của Bá Nha mà hiểu được điều Bá Nha đang nghĩ. Người ta gọi đó là bạn tri âm (biết được tiếng đàn). Sau khi Tử Kì chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì cho rằng không có ai hiểu được tiếng đàn của mình. Có thuyết nói là Bá Nha treo đàn không gảy nữa.

1. Tự luận
1 điểm

Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? Bài thơ trên viết về đề tài gì?

Xem đáp án
2. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra những kỉ niệm giữa nhà thơ và bạn của mình được nhắc tới trong bài thơ?

Xem đáp án
3. Tự luận
1 điểm

Em cónhận xét gì về tình bạn của nhà thơ và Dương Khuê?

Xem đáp án
4. Tự luận
1 điểm

Nêu tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong hai câu thơ sau:

“Giường kia treo những hững hờ,

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”

Xem đáp án
5. Tự luận
1 điểm

Qua văn bản trên, em rút ra cho mình thông điệp gì sâu sắc nhất? Vì sao?

Xem đáp án
6. Tự luận
1 điểm

Từ ngữ liệu ở phần Đọc - hiểu, em hãy viết một đoạn văn từ 12 đến 14 câu nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình bạn trong cuộc sống.

Xem đáp án
7. Tự luận
1 điểm

Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về vai trò danh lam thắng cảnh và đời sống con người ngày nay.

Xem đáp án

Ngân hàng đề thi

© All rights reservedVietJack