Bộ 10 đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn lớp 9 Kết nối tri thức có đáp án ( Đề 5)
7 câu hỏi
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây
Trong cửa này đã đành phận thiếp
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay(1) ?
Những mong cá nước sum vầy
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn(2) .
Cớ sao cách trở nước non
Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu
Khách phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan san để cách, hàn huyên cho đành(3)
Thưở lâm hành oanh chưa bén chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi(4) lại gáy trước nhà líu lo
Thưở đăng đồ(5) mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên song bơ xờ.
(Theo Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm,
Chinh phụ ngâm khúc, NXB văn học, tr.35)
* Chú thích:
(1) Vay: tiếng đệm của câu than thở
(2) Vương tôn: con nhà giàu sang, cũng có nghĩa là đi chơi xa không đoái gia đình.
(3) Quan san: cửa ải và núi non, thường dùng để chỉ đường sá xa xôi cách trở; hàn huyên: Trò chuyện, hỏi han, tâm tình sau một thời gian xa cách.
(4) Ý nhi: chim én (yến)
(5) Đăng đồ: Lên đường đi chơi xa
Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên?
Tâm trạng của người chinh phụ nảy sinh trong hoàn cảnh nào? Nêu một chi tiết giúp em nhận biết hoàn cảnh ấy?
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong đoạn thơ:
Thưở lâm hành oanh chưa bén chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi(4) lại gáy trước nhà líu lo
Thưở đăng đồ(5 )mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên song bơ xờ.
Qua tâm sự của nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích, em có suy nghĩ gì về thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến?
Đoạn trích trên đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp ý nghĩa nào?
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của bản thân về ý nghĩa của tình thương yêu trong cuộc sống.
Phân tích đoạn thơ sau sau:
Người lên ngựa kẻ chia bào(1),
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san(2).
Dặm hồng bụi cuốn chinh an(3),
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường(4)
(“Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du,
NXB Văn hóa thông tin, 2002, tr. 142-143)
Gợi ý cho bạn
Xem tất cảNgân hàng đề thi








