Bài tập Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một truyện kể có đáp án
Đề thi

Bài tập Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một truyện kể có đáp án

A
Admin
VănLớp 1084 lượt thi
19 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Mở bài, thân bài và kết bài của ngữ liệu đã đáp ứng được yêu cầu của bài viết phân tích, đánh giá một truyện kể chưa?

Xem đáp án

Mở bài, thân bài và kết bài cuả ngữ liệu đáp ứng được yêu cầu của kiểu bài viết phân tích, đánh giá một truyện kể. Vì những lý do sau

- Mở bài: Nêu được nội dung khái quát của tác phẩm,thể loại cũng như tác giả, thời gian sáng tác

- Thân bài: đầy đủ luận điểm , lý lẽ, dẫn chứng rõ ràng

- Kết bài:  khẳng định lại được ý nghĩa của tác phẩm

2. Tự luận
1 điểm

Các luận điểm trong ngữ liệu được sắp xếp theo trình tự nào, có hợp lí không?

Xem đáp án

- Các luận điểm được sắp xếp theo trình tự luận điểm trước,hình thức nghệ thuật sau

3. Tự luận
1 điểm

Trong mỗi luận điểm, ngữ liệu đã có sự kết hợp giữa lí lẽ, bằng chứng như thế nào? Nêu ví dụ.

Xem đáp án

- Lí lẽ được nêu trước và bằng chứng được trích ra sau để chúng minh lý lẽ

Vi dụ: cùng với cách tạo tình huống nói trên là cách xây dựng nhân vật giàu tính biểu trưng. Sói biểu trưng cho những ''kẻ mạnh'', tàn bạo trong xã hội, Chiên biểu trưng cho những kẻ yếu...

4. Tự luận
1 điểm

Bạn có nhận xét gì về cách người viết phân tích, đánh giá ý nghĩa, giá trị chủ đề?

Xem đáp án

- Người viết phân tích về ý nghĩa, giá trị chủ đề của văn bản khá là bao quát và chưa chi tiết cho lắm. Bằng chứng được đưa ra bổ trợ cho việc phân tích còn khá là ít.

5. Tự luận
1 điểm

Người viết đã phân tích, đánh giá những nét đặc sắc nghệ thuật nào của truyện kể? Chúng có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của truyện kể?

Xem đáp án

- Những nét đặc sắc nghệ thuật được đưa ra là:

- Tình huống truyện độc đáo

- Nhân vật giàu tính biểu tượng

- Kết cấu tương phản

- Lối kể truyện bằng thơ hàm súc mà hấp dẫn

Những nghệ thuật này giúp dễ thể hiện rõ ràng chủ đề của truyện theo hướng tác giả mong muốn

6. Tự luận
1 điểm

Từ ngữ liệu trên, bạn rút ra được những lưu ý ghì khi viết văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện kể?

Xem đáp án

- Tôi thấy được là khi viết một bài văn nghị luận phân tích, chúng ta cần xác định rõ luận điểm, lý lẽ, dẫn chúng và cách sắp xếp sao cho phù hợp.

7. Tự luận
1 điểm

Hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về nghệ thuật của một truyện (thần thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện cổ tích) mà bạn yêu thích.

Xem đáp án

Mẫu 1

Nhắc đến những câu chuyện cổ tích của nước ta, không thể bỏ qua truyện “Cây khế”. Đây được xem là một trong những tác phẩm truyện cổ tích đặc sắc nhất trong kho tàng truyện dân gian của nước ta.

Truyện kể về hai anh em nhà nọ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nương tựa vào nhau. Cha mẹ mất để lại cho hai anh em một cây khế và một chút ruộng vườn, của cải, tuy không khá giả nhưng hai anh em vẫn có cuộc sống no đủ. Từ khi người anh trai lấy vợ bỗng sinh ra lười nhác, mọi việc đều đổ hết lên đầu vợ chồng người em. Thậm chí sợ em tranh công nên anh trai đã chia gia tài, chiếm hết của nải, đẩy vợ chồng em ra túp lều nát với cây khế của cha mẹ để lại. Vợ chồng người em chăm chỉ làm lụng, chăm bẵm cho cây khế ra quả, chim quý đến ăn và đã trả công vợ chồng em trai bằng vàng bạc. Tiếng đồn đến tai người anh, người anh tham lam nên gạ đổi gia tài lấy cây khế. Chim quý cũng đến ăn và hứa trả ơn bằng vàng, nhưng vì tính tham lam vô độ của người anh nên đã bị chim quý hất xuống biển sâu. Cốt truyện tuy rất đơn giản, ngắn gọn nhưng chất chứa trong đó những bài học về cuộc sống vô cùng sâu sắc và thấm thía.

Truyện “Cây khế” phản ánh cuộc xung đột giữa hai tuyến nhân vật trong một gia đình, một bên là vợ chồng người em trai hiền lành, chăm chỉ, chịu khó; một bên là vợ chồng người anh trai tham lam, ích kỉ, chỉ nghĩ đến đồng tiền. Thông qua khai thác xung đột trong gia đình này, tác giả dân gian đã phản ánh chủ đề của chuyện đó là phê phán sự tham lam, ích kỉ của con người, ca ngợi những con người chịu khó, chăm chỉ, biết sống lương thiện, biết thế nào là đủ. Câu chuyện còn là lời cảnh tỉnh cho những ai đã và đang xem nhẹ tình anh em trong gia đình, cắt đứt tình máu mủ ruột rà chỉ vì những cái lợi trước mắt. Chủ đề truyện này không mới nhưng nó vẫn có giá trị không riêng với thế giới cổ tích mà còn cả xã hội hiện thực bây giờ.

Góp phần tạo nên thành công cho câu chuyện, ngoài giá trị của chủ đề và bài học sâu sắc trong truyện Cây khế thì không thể quên sự đóng góp của các hình thức nghệ thuật. Chính những hình thức nghệ thuật đặc sắc ấy đã giúp cho chủ đề và bài học trong truyện trở nên sâu sắc, thấm thía hơn và hấp dẫn độc giả hơn.

Yếu tố nghệ thuật đầu tiên cần kể đến đó là nghệ thuật tạo tình huống. Tình huống truyện chia gia tài, vốn rất quen thuộc trong truyện kể dân gian. Nhờ tình huống này bản chất xấu xa tham lam của vợ chồng người anh trai được bộc lộ. Tình huống thứ hai, góp phần giúp mạch truyện tiến triển là tình huống chim quý xuất hiện và ăn khế của vợ chồng em trai. Nhờ chim quý vợ chồng em trai được đền đáp xứng đáng cho tấm lòng, sự lương thiện của mình. Cũng nhờ chim quý mà vợ chồng người anh trai đã bị trừng trị thích đáng cho bản tính tham lam, mờ mắt vì tiền của mình. Nhân vật chim quý đóng vai trò là nhân vật chức năng, thế lực siêu nhiên, thay nhân dân thực hiện mong ước của họ. Đây cũng là kiểu nhân vật khá quen thuộc trong truyện cổ tích Việt Nam.

Xây dựng nhân vật giàu tính biểu trưng cũng là một nét nổi bật cho truyện cổ tích Việt Nam. Trong đó người anh trai là tuyến nhân vật đại diện cho kiểu người tham lam, chỉ nghĩ đến đồng tiền; nhân vật em trai là đại diện cho tuyến nhân vật bất hạnh, mồ côi, chịu nhiều thiệt thòi, cam chịu. Hai tuyến nhân vật chính - tà khá quen thuộc trong truyện cổ tích, là đại diện cho các kiểu người trong xã hội phân chia giai cấp thời bấy giờ.

Nét đặc sắc cuối cùng em muốn nói đến trong bài viết là cách khắc họa tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ, hành động của nhân vật. Nhân vật trong truyện cổ tích vốn chưa có những tâm lý hay nét tính cách độc đáo, riêng biệt như trong văn xuôi của các tác giả văn học. Nhưng thông qua lời thoại, ngôn ngữ, hành động chúng ta cũng thấy được phần nào những nét tính cách đặc trưng của nhân vật. Chẳng hạn qua thái độ “rối rít, mừng quýnh, vái lấy vái để “ khi gặp chim thần của vợ chồng anh trai cũng đủ thấy vợ chồng anh ta là người tham lam, ích kỉ, tôn sùng vật chất, luôn trông chờ vào vận may; hành động “nhét đầy vàng vào tay áo, ống quần, lết mãi mới ra khỏi hang” đủ thấy anh trai tham lam đến mờ lý trí… còn vợ chồng người em trai thấy con chim thần chỉ biết than “ ông chim ơi, ông ăn hết khế nhà cháu…” rồi hành động “chỉ nhặt vừa đủ vàng bạc nhét vào túi rồi ra về” cũng đủ thấy người em trai vốn bản tính lương thiện, hiền lành. Nhân vật chỉ được khắc họa qua hành động, ngôn ngữ nhưng những nét tính cách nổi bật vẫn hiện lên tương đối đậm nét.

Những phân tích ở trên đây cho thấy Cây khế là một truyện cổ tích tiêu biểu trong kho tàng truyện cổ Việt Nam. Về chủ đề, truyện chính là lời cảnh tỉnh, phê phán đến những người có lối sống ham vật chất, coi thường tình cảm máu mủ. Về hình thức nghệ thuật, tác giả đã kết hợp hài hòa các yếu tố về tình huống truyện, ngôn ngữ, hành động để nhân vật bộc lộ rõ cá tính của mình, thông qua đó chủ đề truyện cũng được tô đậm.

Câu chuyện là một bài học đắt giá cảnh tỉnh những người tham lam, không coi trọng tình cảm gia đình, sớm hay muộn cũng sẽ nhận phải một kết cục không may mắn.

Mẫu 2

“Thần Trụ Trời” là một tác phẩm dân gian truyền miệng của người Việt cổ được sản sinh từ thời tối cổ và còn tồn tại đến ngày nay, được nhà khảo cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, kể lại bằng bản văn trong “Lược khảo về thần thoại Việt Nam”. Qua truyện thần thoại này, người Việt cổ muốn giải thích nguồn gốc các hiện tượng thiên nhiên như vì sao có trời, có đất và vì sao trời với đất lại được phân đôi, vì sao mặt đất lại không bằng phẳng có chỗ lõm có chỗ lồi, vì sao có sông, núi, biển, đảo.

Cho thấy người Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã cố gắng tìm để hiểu rõ những gì có xung quanh họ. Vì cũng chưa tìm hiểu được nhưng họ lại không chịu bó tay, họ bèn sáng tạo ra một vị thần khổng lồ để giải thích tự nhiên vũ trụ một cách hết sức ngây thơ và đáng yêu. Độc giả ngày nay cảm nhận được trong đó cái hồn nhiên và ước mơ của những người Việt cổ muốn vươn lên để giải thích thế giới tự nhiên quanh mình.Mọi chi tiết kể và tả Thần Trụ Trời đều gợi những vòng hào quang, điểm tô tính chất kỳ lạ, phi thường của nhân vật, thần thoại. Truyện đã nhân cách hóa vũ trụ thành một vị thần.

Hành động đầu tiên khi Thần Trụ Trời xuất hiện là “vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu đội trời lên, giang chân đạp đất xuống,…” cũng là hành động và việc làm có tính phổ biến của nhiều vị thần tạo thiên lập địa khác trên thế giới. như ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc cũng đã làm giống hệt như vậy. Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt chính là sau khi đã xuất hiện trong cõi hỗn độn giống như quả trứng của vũ trụ, ông đạp cho quả trứng tách đôi, nửa trên là trời, nửa dưới là đất và ông tiếp tục đẩy trời lên cao, đạp đất xuống thấp bằng sự biến hóa, lớn lên không ngừng của bản thân ông chứ không phải như Thần Trụ Trời đã xây cột chống trời.

Như vậy cho thấy việc khai thiên lập địa của ông Thần Trụ Trời ở Việt Nam và ông Bàn Cổ ở Trung Quốc vừa có điểm giống nhau vừa có điểm khác nhau. Và đó cũng chính là nét chung và nét riêng có ở trong thần thoại của các dân tộc. Từ cái ban đầu vốn ít ỏi, người Việt cổ cũng như các dân tộc khác trên thế giới không ngừng bổ sung, sáng tạo làm cho nền văn học, nghệ thuật ngày một đa dạng hơn. Chúng ta cũng có thể đánh giá về kho tàng thần thoại Việt Nam đối với nền nghệ thuật Việt Nam như thế nào. Cũng nhờ nghệ thuật phóng đại mà các nhân vật thần thoại có được sức sống lâu bền, vượt qua mọi thời gian để còn lại với chúng ta ngày nay. Thần thoại đã tạo nên cho con người Việt Nam nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt.

Truyện thần thoại “Thần Trụ Trời” vừa cho các bạn đọc biết được sự hình thành của trời đất, sông, núi, đá,…vừa cho thấy sự sáng tạo của người Việt cổ. Tuy truyện có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại nhưng cũng có cái lõi của sự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, xây dựng, tạo lập đất nước.

Mẫu 3

"Thần Trụ Trời” là một tác phẩm dân gian truyền miệng của người Việt cổ được sản sinh từ thời tối cổ và còn tồn tại đến ngày nay, được nhà khảo cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, kể lại bằng bản văn trong “Lược khảo về thần thoại Việt Nam”. Qua truyện thần thoại này, người Việt cổ muốn giải thích nguồn gốc các hiện tượng thiên nhiên như vì sao có trời, có đất và vì sao trời với đất lại được phân đôi, vì sao mặt đất lại không bằng phẳng có chỗ lõm có chỗ lồi, vì sao có sông, núi, biển, đảo.

Cho thấy người Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã cố gắng tìm để hiểu rõ những gì có xung quanh họ. Vì cũng chưa tìm hiểu được nhưng họ lại không chịu bó tay, họ bèn sáng tạo ra một vị thần khổng lồ để giải thích tự nhiên vũ trụ một cách hết sức ngây thơ và đáng yêu. Độc giả ngày nay cảm nhận được trong đó cái hồn nhiên và ước mơ của những người Việt cổ muốn vươn lên để giải thích thế giới tự nhiên quanh mình.Mọi chi tiết kể và tả Thần Trụ Trời đều gợi những vòng hào quang, điểm tô tính chất kỳ lạ, phi thường của nhân vật, thần thoại. Truyện đã nhân cách hóa vũ trụ thành một vị thần.

Hành động đầu tiên khi Thần Trụ Trời xuất hiện là “vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu đội trời lên, giang chân đạp đất xuống,…” cũng là hành động và việc làm có tính phổ biến của nhiều vị thần tạo thiên lập địa khác trên thế giới. như ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc cũng đã làm giống hệt như vậy. Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt chính là sau khi đã xuất hiện trong cõi hỗn độn giống như quả trứng của vũ trụ, ông đạp cho quả trứng tách đôi, nửa trên là trời, nửa dưới là đất và ông tiếp tục đẩy trời lên cao, đạp đất xuống thấp bằng sự biến hóa, lớn lên không ngừng của bản thân ông chứ không phải như Thần Trụ Trời đã xây cột chống trời.

Như vậy cho thấy việc khai thiên lập địa của ông Thần Trụ Trời ở Việt Nam và ông Bàn Cổ ở Trung Quốc vừa có điểm giống nhau vừa có điểm khác nhau. Và đó cũng chính là nét chung và nét riêng có ở trong thần thoại của các dân tộc. Từ cái ban đầu vốn ít ỏi, người Việt cổ cũng như các dân tộc khác trên thế giới không ngừng bổ sung, sáng tạo làm cho nền văn học, nghệ thuật ngày một đa dạng hơn. Chúng ta cũng có thể đánh giá về kho tàng thần thoại Việt Nam đối với nền nghệ thuật Việt Nam như thế nào. Cũng nhờ nghệ thuật phóng đại mà các nhân vật thần thoại có được sức sống lâu bền, vượt qua mọi thời gian để còn lại với chúng ta ngày nay. Thần thoại đã tạo nên cho con người Việt Nam nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt.

Truyện thần thoại “Thần Trụ Trời” vừa cho các bạn đọc biết được sự hình thành của trời đất, sông, núi, đá,…vừa cho thấy sự sáng tạo của người Việt cổ. Tuy truyện có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại nhưng cũng có cái lõi của sự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, xây dựng, tạo lập đất nước.

Mẫu 4

Có lẽ, những bí ẩn về thiên nhiên vẫn là một câu hỏi lớn đối với con người thời cổ. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo nên các câu chuyện để trả lời cho những thắc mắc của bản thân. Đọc truyện "Thần Trụ trời", ta thấy được cách phân chia bầu trời và mặt đất. Đọc "Prô-mê-tê và loài người", ta được giải đáp về cách các vị thần tạo ra muôn vật và loài người. Không giống hai tác phẩm trên, truyện "Đi san mặt đất" lại là những lí giải đơn giản về quá trình loài người chung lòng, góp sức san phẳng mặt đất để làm ăn mà không có sự xuất hiện của các vị thần. Truyện gây ấn tượng bởi những đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật.

Truyện "Đi san mặt đất" có chủ đề viết về quá trình khai hoang và cải tạo tự nhiên của người Lô lô xưa, quá trình này cần có sự giúp sức của tất cả mọi người lúc bấy giờ. Người Lô Lô xưa đã có những nhận thức khá nguyên sơ, đơn giả về thế giới vũ trụ, đồng thời họ cũng có ý thức trong việc cải tạo thế giới sống quanh mình Khi Trái Đất vẫn còn hoang sơ thì người xưa đã cùng nhau đi trình khai hoang và cải tạo tự nhiên. Đó là thời gian không thể xác định, mà người cổ xưa chỉ biết là:

"Ngày xưa, từ rất xưa...
Người già không nhớ nổi
Mấy năm mấy nghìn đời
Ngày xưa từ rất xưa...
Người trẻ không biết tới
Mấy nghìn, mấy vạn năm"

Mốc thời gian không cụ thể khiến chúng ta không thể biết chính xác đó là thời điểm nào. Khoảng thời gian ấy xưa đến mức người già cũng không thể nhớ nổi, người trẻ thì lại chẳng thể biết tới. Và cuộc sống con người lúc bấy lại thật đơn giản. Trước khi đi san mặt đất, con người vẫn sống chung, ở chung và ăn chung với nhau. Người Lô Lô xưa đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên để trồng bắp, lấy nước uống từ "bụng đá" "Trồng bắp trên núi cao/ Uống nước từ bụng đá". Tuy nhiên, sống trong không gian hoang sơ, thiếu thốn khi "Bầu trời nhìn chưa phẳng/ Mặt đất còn nhấp nhô" nên con người thời cổ đã khẩn trương cùng nhau đi tái tạo thế giới.

Để có thể san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời thì người Lô Lô đã biết tận dụng sức mạnh của các loài vật xung quanh lúc bấy giờ:

"Kiếm con trâu sừng cong
Chọn con trâu sừng dài"

Họ kiếm những con trâu sừng phải cong, phải dài vì đây là những con trâu khỏe, trâu tốt. Chúng đi cày bừa san đất mà không quản gì mệt nhọc. Có sức giúp đỡ của chúng thì công cuộc cải tạo mặt đất của người Lô Lô xưa chẳng mấy chốc mà thành. Thế nhưng công việc san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời là công việc chung của muôn loài nên con người đã đi chuột chũi cóc, ếch. Đáp lại lời kêu gọi của người Lô Lô xưa, các con vật đều tìm cớ trốn tránh, thoái thác. Không thể trông cậy vào chúng, con người đã tập hợp sức mạnh của nhau để cải tạo thiên nhiên "Giống nào cũng không đi/ Người gọi nhau làm lấy". Truyện "Đi san mặt đất" của người Lô Lô không chỉ đơn thuần là lời lí giải về sự bằng phẳng của mặt đất và bầu trời mà còn phản ánh nhận thức của người Lô Lô xưa về quá trình tạo lập thế giới. Theo cách lí giải của họ, để có được mặt đất, bầu trời bằng phẳng như ngày nay thì người Lô Lô xưa đã phải đi san mặt đất. Con người đã tự biết tập hợp sức mạnh của cộng đồng để chung tay thực hiện công việc. Và qua đây, ta thấy được con người trong buổi sơ khai đã có ý thức trong việc cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của chính mình.

Không chỉ độc đáo ở chủ đề, truyện "Đi san mặt đất" còn có những đặc sắc ở khía cạnh nghệ thuật. Người Lô Lô xưa đã sáng tạo truyện thần thoại bằng hình thức thơ ca với giọng điệu vui tươi, nhí nhảnh tạo cảm giác thích thú cho người đọc.

Bên canh đó, truyện còn sử dụng biện pháp nhân hóa cùng với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Các con vật được nhân hóa có những cử chỉ giống con người đã giúp cho chuyện trở nên sinh động hơn. Người Lô Lô xưa đã sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị giúp cho bạn đọc ở mọi lứa tuổi dễ dàng tiếp nhận truyện.

"Đi san mặt đất" là một trong những truyện thần thoại đặc sắc của người Lô Lô. Truyện đã thể hiện những lí giải nguyên sơ của người xưa về vũ trụ, về thế giới qua thể thơ năm chữ kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Qua câu chuyện, ta càng thêm ấn tượng với trí tưởng tượng của người xưa trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa dân gian.

Mẫu 5

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh lầ một trong những truyền thuyết lâu đời nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam và đã gắn liền với tuổi thơ của biết bao người. Câu chuyện thể hiện niềm khao khát chế ngự thiên nhiên của nhân dân ta, trước nỗi lo thiên tai bão lụt vẫn thường hoành hành hằng năm qua.

Đàu tiên, truyền thuyết này như muốn nói về hiện tượng thiên tai, bão lũ hàng năm cũng như lòng quyết tâm chống lại thiên tai của nhân dân ta. Sơn Tinh Thuỷ Tinh kể về đời vua Hùng thứ 18. Kể rằng vua Hùng có một người con gái vô cùng xinh đẹp, lại nết na, hiền dịu có tên là Mị Nương. . Nay nàng đến tuổi thành thân, nên vua cha muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng. Trong số đó có hai chàng trai kiệt xuất là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Một người là ''chúa vùng non cao''. Một người là ''vua vùng nước thẳm''. Vì đưa được sính lễ tới trước là ''voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao'' nên Sơn tinh đã cưới được Mị Nương về làm vợ. Tức tối, ghen ghét vì thua cuộc , Thủy Tinh đã hô mưa gọi gió, tạo ra lũ lụt để đánh bại Sơn Tinh.Thủy Tinh dâng nước thì Sơn Tinh dời núi non. Thủy Tinh đại diện cho thiên nhiên giông bão, lũ lụt; còn Sơn Tinh là nhân vật biểu trưng cho nhân dân ta với tinh thần kiên cường bất khuất, sự mưu trí và anh dũng không chịu đầu hàng trước thiên tai, số phận.

Tiếp đó, tác giả dân gian đã lựa chọn được hình ảnh, nghệ thuật đặc sắc để diễn tả được hình ảnh thiên tai bão lũ và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta trước thiên tai. Đây là câu chuyện được viết theo kiểu thần thoại Việt Nam nên có thể thấy được truyện chưa nhiều yếu tố kỳ ảo để nói về những hiện tượng thiên nhiên. Từ tình huống vua Hùng kén rể , ta có thể tháy đươc là núi non, nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu . Vua Hùng đặt ra sính lễ là''voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao''. Những lễ vật này có thể thấy được là dễ dàng tìm ở vùng núi rừng chứ không phải biển cả. Sơn tinh đã có một lợi thế rõ ràng trước Thủy TInh. Sau đó, một loạt những chi tiết kỳ ảo như ''Thủy tinh hô mưa, gọi gió.'', ''Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu.'' như vẽ nên bức tranh thiên tai ngày xưa. Lũ lụt càng lên cao, dân ta càng gắng sức chiến đấu, chống lại thiên tai. Cùng với đó là hình ảnh người dân Văn Lang cùng Sơn Tinh chống lại cuộc tấn công của Thủy tinh càng tô đậm vẻ kiên cường của nhân dân Việt Nam trước bão lũ.

Câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh được khắc họa qua các chi tiết kỳ ảo, sinh động về hai vị thần rất thành công trong việc đưa người đọc đến với hình ảnh của người dân thời xưa đối mặt với sự tức giận từ thiên nhiên như thế nào. Truyện gắn mãi với bao thế hệ, luôn nhắc nhở chúng ta về tình đoàn kết của nhân dân trước mọi khó khăn, thử thách.

Mẫu 6

Nhắc đến những câu chuyện ngụ ngôn nước ngoài, ta không thể bỏ qua truyện Con cáo và chùm nho của nhà văn nổi tiếng Hy Lạp Aesop (Aisōpos, khoảng năm 620-564 trước CN). Đây được xem là một trong những tác phẩm truyện ngụ ngôn nước ngoài hay và đặc sắc về chủ đề cùng những hình thức nghệ thuật xuất sắc.

Truyện kể về con cáo vào một hôm xuống triền núi và thấy phía trước là một vườn nho căng tròn mọng nước khiến anh ta thèm thuồng tới mức nước bọt cứ trào ra. Vì thế, cáo đã tìm mọi cách để có thể chén được no nê những chùm nho đó. Nhưng thật không may mắn, từ cây cao đến cây thấp, cáo vẫn không thể nhảy đến chùm nho. Thậm chí, chùm thấp nhất khiến Cáo tự đắc rằng không gì có thể làm khó được nó cũng thất bại. Sau một hồi cố gắng, Cáo đành thở dài và cho rằng những chùm nho vỏ xanh kia chắc là chưa chín, vừa chua vừa chát, không ăn được. Cốt truyện tuy rất đơn giản, ngắn gọn nhưng chất chứa trong đó những bài học về cuộc sống vô cùng sâu sắc và thấm thía.

Đọc Con cáo và chùm nho của nhà văn Hy Lạp Aesop, ta có thể dễ dàng nhìn ra rằng giá trị của truyện trước hết thể hiện qua chủ đề và bài học cuộc sống mà nó gửi gắm. Hình ảnh con cáo đã được tác giả hình tượng hóa để đề cập đến vấn đề về sự biện hộ và tự cao của cá nhân. Điều mà câu chuyện muốn cảnh tỉnh là đừng quá đề cao bản thân, mình phải tự biết khả năng của mình đang nằm ở vị trí hay con số nào; khi sai lầm hoặc thất bại, hãy tự biết nhận lỗi, rút ra bài học cho bản thân và đừng bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Bản chất là một truyện ngụ ngôn, Con cáo và chùm nho đã mượn câu chuyện về con vật để ám chỉ về lối sống của con người. Chủ đề của truyện mang tính chất khái quát bởi không chỉ đúng trong đất nước hay con người Hy Lạp – nơi nó được sinh ra, mà đó là lời nhắn nhủ, cảnh tỉnh dành cho tất cả mọi người. Chúng ta đừng như con cáo kia, đừng cho mình là nhất bởi ngoài kia còn rất nhiều người giỏi hơn và khi thất bại cũng đừng đổ lỗi cho bất kì ai, bất kì điều gì; hãy phát huy điểm mạnh bạn đang có, khắc phục điểm yếu, từ thất bại rút ra những bài học kinh nghiệm để vươn tới thành công.

Góp phần tạo nên thành công cho câu chuyện, ngoài giá trị của chủ đề và bài học sâu sắc trong Con cáo và chùm nho thì không thể quên sự đóng góp của các hình thức nghệ thuật. Chính những hình thức nghệ thuật đặc sắc ấy đã giúp cho chủ đề và bài học trong truyện trở nên sâu sắc, thấm thía hơn và hấp dẫn độc giả hơn.

Yếu tố nghệ thuật đầu tiên cần kể đến đó là nghệ thuật tạo tình huống. Thông thường, khi muốn thể hiện lối ứng xử, tính cách của nhân vật, tác giả truyện ngụ ngôn sẽ đặt nhân vật của mình vào những tình huống nhất định. Con cáo và chùm nho cũng không ngoại lệ, Aesop đã xây dựng tình huống về cuộc gặp gỡ giữa con cáo với những chùm nho căng mọng nước trong vườn và cách xử lí của nó để có được một bữa ăn no nê. Tình huống tuy khá đơn giản nhưng qua đó người đọc thấy được cách ứng xử của con cáo khi gặp khó khăn và chủ đề mà người kể chuyện muốn nói đến ở đầu truyện càng được làm sáng rõ.

Xây dựng nhân vật giàu tính biểu trưng là một thủ pháp nghệ thuật khá quan trọng trong thể loại truyện ngụ ngôn. Cáo là biểu trưng cho những người luôn cho mình là nhất, mình luôn đúng trong mọi chuyện, nếu sai thì cũng chỉ do hoàn cảnh tác động, không dám chấp nhận sự thật về sự thất bại của bản thân. Chùm nho tượng trưng cho những yếu tố ngoại cảnh. Trong truyện, con cáo không với tới chùm nho nên đã tự nhủ nho còn xanh, chua và chát để biện hộ cho việc không hái được nho của mình, tức là do tác động của ngoại cảnh chứ không phải mình vô dụng.

Nét đặc sắc cuối cùng em muốn nói đến trong bài viết là cách khắc họa tính cách nhân vật thông qua lời thoại. Trong Con cáo và chùm nho, tác giả đã để nhân vật tự độc thoại với chính mình và tính cách sẽ được bộc lộ qua từng câu chữ, lời nói đó. Khi thấy những chùm nho khác thấp hơn, Cáo đã tự đắc không có gì làm khó được mình nhưng kết quả vẫn là sự thất bại. Sau nhiều lần cố gắng, Cáo đã buông xuôi và nói: “Làm sao mình lại cứ phải ăn mấy chùm nho như này nhỉ? Vỏ thì xanh thế, chắc chắn là chưa chín rồi. Không biết chừng còn vừa chua vừa chát, không nuốt được”. Từ đó ta thấy được Cáo là  một người luôn tự đắc và chỉ biết đổ lỗi cho hoàn cảnh. Chính những lời độc thoại đó càng làm nổi bật nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu của nhân vật.

Những phân tích ở trên đây cho thấy Con cáo và chùm nho là một truyện ngụ ngôn tiêu biểu trong kho tàng các sáng tác truyện của Aesop. Về chủ đề, truyện chính là lời cảnh tỉnh, phê phán đến những người có lối sống thắng lợi tinh thần. Về hình thức nghệ thuật, tác giả đã kết hợp hài hòa các yếu tố về tình huống truyện, ngôn ngữ, lời thoại để nhân vật bộc lộ rõ nhất tính cách của mình để qua đó các bài học nhân sinh được lột tả.

Đọc câu chuyện này, dường như em cảm thấy có đôi lúc em cũng giống như con cáo kia và bây giờ mình cần phải thay đổi để xóa bỏ tính cách không tốt đó.

Mẫu 7

Truyền thuyết dân gian vốn là món ăn tinh thần vô cùng phong phú của dân tộc ta, được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Thuở ấu thơ ta lớn lên nhờ những câu chuyện kể của bà, của mẹ, lúc trưởng thành ta lại ru con ngủ bằng chính những câu chuyện hấp dẫn ấy. Có rất nhiều câu chuyện đã trở nên quen thuộc trong lòng mỗi người ví như Tấm Cám, Sọ Dừa, Sơn Tinh Thủy Tinh hay Thánh Gióng,... Tựu chung lại những truyền thuyết, những câu chuyện cổ ấy đều phản ánh chân thực khát khao của nhân dân ta về một cuộc sống tốt đẹp, lương thiện, về việc chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm với một niềm tin tích cực. Sự tích Hồ Gươm cũng chính là một truyền thuyết như vậy. Bối cảnh của truyền thuyết diễn ra trong lúc giặc Minh đô hộ nước ta, tuy đã có nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa chống giặc, nhưng buổi đầu thế lự còn non yếu, nên vẫn thường thua trận. Long Quân thấy nghĩa quân anh dũng, xả thân vì nước nên quyết định cho mượn gươm thần. Tuy nhiên, việc cho mượn gươm Long Quân cũng thiết kế một cách rất tinh tế, như là một thử thách cho Lê Lợi, bởi cái gì dễ có được người ta thường không trân trọng. Hơn thế nữa việc cho mượn gươm có phần thử thách ấy còn giúp Lê Lợi thu nạp được thêm một vị tướng tài là Lê Thận.

Lê Thận ban đầu vốn làm nghề đánh cá, có lẽ Long Quân đã thấy được khí chất anh hùng và tiềm năng của chàng trai miền biển này nên đã cố tình gửi gắm lưỡi gươm cho Lê Thận. Sau ba lần thả lưới ở ba khúc sông khác nhau mà vẫn vớt được cùng một lưỡi gươm kỳ lạ, đen thui, giống một thanh sắt không hơn không kém, Lê Thận đã quyết định đem về dựng ở xó nhà, vì linh cảm của một người thông minh thì gươm này ắt có điều bí ẩn, sau này có thể dùng được. Theo dòng chảy định mệnh, Lê Thận tham gia nghĩa quân Lam Sơn, trở thành phụ tá đắc lực, lập nhiều công lớn, chiến đấu anh dũng, thế nên có lần Lê Lợi đã ghé nhà Lê Thận chơi. Dương như đã nhận ra chủ tướng Lê Lợi, nên lưỡi gươm đen sì, vốn vẫn gác xó nhà lại sáng rực lên bất thường. Lê Lợi cầm lên xem thì thấy hai chữ "Thuận Thiên", như báo trước cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo là hợp ý trời, được trời cao ủng hộ. Tuy nhiên đến đây những con người trần mắt thịt vẫn chưa thể nào liên hệ đến sự thần kỳ của lưỡi gươm kỳ lạ ấy.

Chỉ đến một lần, nghĩa quân thất thế, Lê Lợi phải chạy một mình vào rừng tránh sự truy lùng của giặc, lúc này đây vô tình phát hiện ra ánh sáng kỳ lạ ở một ngọn cây trong rừng, Lê Lợi tò mò trèo lên xem thì phát hiện một chuôi gươm nạm ngọc cực đẹp. Là người nhanh nhạy Lê Lợi lập tức liên tưởng đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, ông liền đem chuôi gươm ấy về. Qủa đúng như vậy, khi lắp lưỡi gươm vào chuôi gươm thì vừa in, sau nhiều lần thử thách cuối cùng chuôi và lưỡi gươm cũng tìm được nhau, ý trời đã phó thác cho Lê Lợi làm việc lớn. Ngoài ra sự tương hợp của chuôi và lưỡi gươm còn thể hiện một lời nhắc nhở rất hay của Long Quân, rằng muốn làm việc lớn trước hết cần sự đoàn kết, nếu chỉ có chuôi gươm đẹp đẽ thì cũng chẳng thể chém đầu tên địch nào, còn nếu chỉ có lưỡi gươm thì cũng chẳng thể dùng bởi thiếu mất chuôi. Hình ảnh chuôi gươm cũng đại diện cho vị chủ tướng là Lê Lợi người lãnh đạo nghĩa quân, lúc nào cũng phải sáng suốt và mạnh mẽ. Hình ảnh lưỡi gươm là đại diện cho quân đội của ta, tiêu biểu là những vị tướng dưới trướng như Lê Thận, người sẽ giúp Lê Lợi chém đầu từng tên giặc cướp nước. Như vậy sự vừa vặn của chuôi và lưỡi gươm chính là biểu hiện của sự phối hợp ăn ý giữa chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân dưới trướng, đó là sức mạnh tổng hòa làm nên chiến thắng của nhân dân ta.

Từ khi có sự trợ giúp của thanh gươm thần, nghĩa quân ta liên tục thắng trận, quân giặc bị đánh đuổi không còn một mảnh giáp, phải đầu hàng và rút quân về nước trong sự nhục nhã. Có được chiến thắng ấy, một phần là nhờ sự thần kỳ của gươm thần mà Long Quân cho mượn, đồng thời gươm ấy đã mang lại niềm tin và nhuệ khí cho nghĩa quân ta, giúp sức mạnh nghĩa quân tăng gấp bội.

Chuyện sau khi Lê lợi đã lên làm vua, trong một lần du thuyền trên hồ Tả Vọng (hồ Gươm bây giờ), thì có rùa Thần lên đòi gươm về cho Long Quân có nhiều ý nghĩa. Đầu tiên là lý lẽ có mượn có trả, Lê Lợi đã chiến thắng quân Minh, đất nước ta đã yên bình, thanh gươm cũng không còn phận sự gì nữa thì nên được trả về cho chủ cũ. Thứ hai là Long Quân muốn gửi gắm một điều rằng, sự trợ giúp của thần linh âu cũng chỉ là một phần nhỏ, còn nếu muốn vận nước hưng thịnh lâu dài thì phải dựa vào tài trị quốc của Lê Lợi, đừng nên ỷ vào việc có gươm thần mà lơ là cảnh giác, bài học của An Dương Vương vẫn còn sáng mãi cho đến tận bây giờ. Dù bất kỳ lý do nào, Long Quân đòi lại gươm cũng thật xác đáng. Câu chuyện trả Gươm cũng giải thích lý do hồ Tả Vọng còn có tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

Sự tích Hồ Gươm không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn rất phong phú về nghệ thuật Trong truyền thuyết này có hai câu chuyện vừa lồng ghép vừa tách bạch với nhau: câu chuyện mượn gươm và câu chuyện trở gươm. Chúng có nội dung riêng nhưng đồng thời bổ sung nghĩa cho nhau. Không chỉ vậy văn bản là sự kết hợp giữa yếu tố thực và yếu tố tưởng tượng, kì ảo một cách hài hòa, hợp lí. Với sự kết hợp hài hòa các yếu tố kì ảo và sự bền bỉ với các yếu tố lịch sử, Sự tích Hồ Gươm không chỉ giải thích, nguồn gốc ra đời của tên gọi Hồ Gươm. Mà qua câu chuyện này còn nhám ca ngơi, tôn vinh tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân của khởi nghĩa Lam Sơn Tên họ Hoàn Kiếm đồng thời cũng dùng để đánh dấu chiến thắng của dân tộc, thể hiện ước mơ, khát vọng hòa bình của nhân dân.

Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm là một truyền thuyết có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện lòng tin và khát vọng mạnh mẽ của nhân dân ta về sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bởi cuộc chiến của nhân dân ta là cuộc chiến vì chính nghĩa, có sự trợ giúp của thần linh, là thuận theo ý trời, những kẻ hung tàn bạo ngược ắt phải thất bại. Sự tích ấy còn là lời lý giải lý thú về những cái tên khác của hồ Gươm.

Mẫu 8

Mời các em tham khảo mẫu phân tích Thần mưa được bài viết chia sẻ chi tiết dưới đây:

Trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, từ bao đời nay, ông cha ta luôn lưu truyền những câu chuyện thần thoại kỳ ảo huyền bí để có thể giải thích cho sự hình thành quê hương đất tổ. giải thích được cho con cháu đời sau về sự hình thành của trời đất, của nước non hùng vĩ. Trong hệ thống thần thoại đó, ông cha ta đã giải thích về việc sáng lập vũ trụ. Và tác phẩm Thần Trụ Trời là mở đầu, tiếp theo là một loại các thần thoại khác như Thần Mưa, Thần Biển, Thần Mặt Trời, Mặt Trăng lần lượt ra đời. Tiếp chân của những thần thoại khai phá ra vũ trụ kia là các thần thoại về các vị thần sáng tạo ra muôn loài….

Qua tác phẩm Thần Trụ Trời, ta có thể biết được để tách biệt trời đất như ngày nay. Thần trụ trời đã phải đào đất, khiêng đá đắp thành cột để chóng trời, từ đó mới hình thành ra các vị thần khác cùng thần trụ trời cai quản. và một trong các vị thần cùng cai quản và nối tiếp cho khoảng vũ trụ được hình thành đó có sự sống thì phải kể đến vị Thần Mưa - vị thần tạo ra sự sinh thái cân bằng cho trời đất, là tiền đề duy trì sự sống cho muôn loài do các vị thần sáng tạo ra muôn loài tạo lên.

Đầu tác phẩm, tác giả đã giải thích vị Thần Mưa có hình rồng, thường bay lượn xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời để tạo ra mưa. Qua lời giải thích đó, ta có thể biết được vị thần có hình dáng là một con rồng, được Trời giao phó là hút nước dưới trần thế để tạo ra mưa cho loài người cày cấy, sinh hoạt. Cho cây cỏ sinh sôi và phát triển, muôn thú có nước để duy trì hệ sinh thái của mình. Đây là một công việc vô cùng quan trọng, ấy nhưng vị thần này lại có tính hay quên, có vùng đất cả năm không ghé mặt để phân phát nước khiến nhiều vùng bị hạn hán nghiêm trọng. Muôn thú, cỏ cây khó có thể duy trì sự sống. Điều đó được tác giả nói rõ “Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày”. Qua đó ta có thể thấy rõ vị Thần này đãng trí đến nỗi khiến Muôn loài ở các vùng đất hạn hán đó bất mãn đến mức nào, khiến họ phải kiện đến cả trời xanh. Điều này được thể hiện khá rõ tại tác phẩm “cóc kiện Trời”, bởi sự trễ nải này mà khiến cỏ cây héo úa, muôn thú khát khô cả cổ chỉ vì sự văng mặt lâu ngày của Thần Mưa.

Nhưng tiếp đó, tác phẩm cũng đã giải thích một phần lí do sự trễ nải này của thần Mưa “Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết”. Một phần vì tính hay quên của Thần, một phần vì trời đất bao la rộng lớn quá, công việc nặng nhọc này cũng chỉ có mỗi Thần đảm nhiệm nên nhất thời lo không xuể. Chính vì lo không hết khiến công việc quá tải, muôn loài oán than. Vì để giảm bớt gánh nặng cho Thần Mưa, cũng như xoa dịu được sự nóng giận của muôn loài dưới hạ dưới, nên Trời đã mở cuộc thi chọn loài giúp sức cho công việc của Thần Mưa qua việc mở cuộc thi chọn giống loài thủy tộc có tài năng để giúp Rồng hút nước tạo mưa. Cuộc thi được Nhà Trời chọn đại điểm là ở cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay để có thể lên Thần hóa rồng trợ giúp Nhà Trời và Thần Mưa tạo mưa cho muôn loài.

Mồng ba cá đi ăn thề,

Mồng bốn cá về cá vượt Vũ Môn

Qua hai câu thơ trên, cho thấy Nhà Trời rất coi trọng cuộc thi này, vì trước kia khi mới sáng lập ra trời và đất, công việc tạo mưa là do đích than Trời làm để cho muôn loài, cỏ cây phía dưới tồn tại sinh sống và làm ăn. Sau đó vì đất trời tạo ra bao la quá, công việc khó nhọc không thể đảm nhiệm được nữa nên mới sai rồng lấy nước để làm ra mưa. Nhưng trong chính tác phẩm cũng đã nêu rõ vì số lượng rồng trên trời quá ít không thể đảm nhiệm nổi công việc nên Trời đã ban lệnh Xuống cho Thủy Phủ để kén chọn loài có thể cùng rồng làm công việc điều hòa sự sống cho muôn loài.

Qua lời bộc bạch của tác giả qua từng câu chữ trong tác phẩm, ta có thể thấy được yếu tố kỳ ảo của tác phẩm, sự sinh động từng câu chữ khiến cho tác phẩm thật sinh động hiện ra trước mắt để có thể đi sâu vào tâm hồn người đọc.

Tác phẩm thể hiện rõ yếu tố truyền kỳ qua từng câu chữ qua việc vua Thủy Tể loan tin để cho muôn loài dưới Thủy cung ganh đua mà dự thi. Cuộc thi được phân chia làm ba kỳ, mỗi kỳ lại nâng một độ khó khác nhau mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng” có thể thấy tính chất của cuộc thi nghe thì dễ nhưng mà thực hiện thì khó qua việc phải vượt qua cả ba đợt song mới lấy làm đỗ để có thể hóa rồng. Cả một đoạn của tác phẩm đã thể hiện cản tượng tranh tài của bao loài Thủy sinh dưới nước thể hiện hết sức mình nhưng đều bị loại cả vì không thể vượt qua đợt sống. Từ “sống” được đặt ở cuối câu như vậy để thể hiện tính chất của cuộc thi thật khắc nghiệt, để có thể vượt qua cuộc sát hạnh này, với mong muốn được hóa rồng mà có thể nhiều loài đã từ bỏ mạng sống của mình. Có loài cá rô nhảy qua được một đợt nên chỉ được một điểm, điều này khiến cá rô nhà ta mất đi cơ hội hóa rồng đành phải về yên vị ở đồng như trước. Tiếp đến, có con tôm nhảy qua được hai đợt hóa được một nửa rồng rồi, điều đó được tác giả nêu rõ “Có con tôm nhẩy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu.” Qua câu từ như vậy, ta cũng có thể hiểu được lí do tại sao tôm lại bơi giật lùi, thân cong và chất thải lại bị lộn lên đầu như vậy. Qua lời kể trên, ta đã học hiểu được nhiều điều qua lời kể đầy xúc tích, dễ hiểu đến như vậy qua việc diễn tả tôm, cá rô, cá chép vượt qua như thế nào. Điều đó ngầm ý muốn cho khung cảnh cuộc thi trở lên sinh động trước mắt người đọc.

Sau nhiều đợt tuyển chọn, tưởng chừng chẳng có con vật nào có thể qua được. Đến lượt cá chép vào thi thì thì vô cùng thuận lợi. Tác giả đã dung từ “ào ào” đề diễn tả sự thiên tàng địa lợi của cá chép, cá chép nhờ đó mà vượt cả ba phần sát hạch và vào được cửa Vũ Môn. Qua lời miêu tả của tác phẩm, cá chép đỗ, đuôi, râu, sừng tự nhiên đầy đủ như rồng. Một hình dáng oai nghi, cùng với Thần mưa đảm nhiệm công việc ban phát mưa xuống trần thế.

Việt Nam ta hình thành qua bao nhiêu đời nay luôn gắn liền với một kho tàng thần thoại khổng lồ gắn liền với sự hình thành của Đất Việt - sự trường tồn, phồn vinh và lưu truyền muôn đời để thế hệ mai sau có thể biết được sự thiêng liêng của Đất Nước, trong các tác phẩm đó thì Thần Mưa cũng là một trong những thần thoại to lớn luôn trường tồn với thời gian. Nó vẫn luôn tồn tại những giá trị tinh thần mà người xưa muốn gửi gắm lại cho đời sau những giá trị nhân văn của dân tộc, nói lên ước mơ khát vọng vượt qua khó khăn để đạt được danh vọng qua nhân vật Cá chép. Qua đó, mong thế hệ mai sau tiếp nối, giữ gìn và thực hiện.

 

8. Tự luận
1 điểm

Hãy viết một đoạn văn chia sẻ suy nghĩ về truyện Thần Trụ Trời. (10 mẫu)

Xem đáp án

Dàn Ý

I. Mở bài:
- Giới thiệu về truyện kể: Truyện "Thần Trụ trời" thuộc nhóm thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ, muôn loài hay còn gọi là thần thoại suy nguyên được tác giả Nguyễn Đổng Chi sưu tầm.
- Trình bày khái quát nội dung cần phân tích, đánh giá: Chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện "Thần Trụ trời".
II. Thân bài:
1. Xác định chủ đề của truyện kể và ý nghĩa của chủ đề:
- Truyện "Thần Trụ trời" đã giải thích quá trình tạo lập thế giới: phân chia trời, đất và nguồn gốc hình thành các dạng địa hình như núi, đảo,... một cách sáng tạo qua các yếu tố kì ảo.
2. Phân tích, đánh giá các khía cạnh trong chủ đề của truyện kể:
* Phân tích
- Giải thích quá trình tạo lập thế giới:
+ Giải thích sự phân chia trời, đất thông qua sự kiện thần Trụ trời xây cột đá chống trời.
+ Sự hình thành các dạng địa hình khác nhau: thần lại phá cột đi, lấy đất đá ném tung đi khắp nơi...".
* Đánh giá:
Truyện "Thần Trụ trời" đã cho thấy khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng của con người trong buổi đầu sơ khai.
3. Đánh giá tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề của truyện kể:
- Truyện đã xây dựng nhân vật Thần Trụ trời - vị thần sức mạnh siêu nhiên, thực hiện công việc phân chia trời và đất, tạo nên các dạng địa hình khác nhau.
- Thủ pháp cường điệu, phóng đại kết hợp với các chi tiết hư cấu tạo nên một câu chuyện đầy sức hấp dẫn và thuyết phục đối với người đọc.
III. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện kể.
- Nêu ý nghĩa của tác phẩm đối với bản thân và người đọc.


Mẫu 1

Truyện "Thần Trụ trời" thuộc nhóm thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ, muôn loài hay còn gọi là thần thoại suy nguyên được tác giả Nguyễn Đổng Chi sưu tầm. Truyện được coi là tác phẩm có nét đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật.

"Thần Trụ trời" kể về thần Thần Trụ trời với sức mạnh phi thường đã phân chia bầu trời và mặt đất, dùng đất đá tạo nên núi, đảo,.. Qua đó, câu chuyện đã giải thích nguồn gốc của sự hình thành các sự vật trong tự nhiên một cách sáng tạo.

Mở đầu câu chuyện, tác giả dân gian mở ra không gian vũ trụ hoang sơ "một vùng hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo" và thời gian chưa được xác định rõ ràng "Chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người". Trong khoảnh khắc tối tăm mù mịt ấy, Thần Trụ trời đã xuất hiện với thân hình khổng lồ "Chân thần dài không thể tả xiết". Mỗi bước chân của thần "có thể qua từ vùng này đến vùng nọ, hay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác". Nhờ sức mạnh phi thường ấy, thần đã tự mình đào đất, đập đá, tạo nên cái cột đá cao và to để chống trời. Cột càng đắp cao, tấm trời lại càng thêm rộng mở. Chẳng bao lâu sau, thần Trụ trời đã đẩy vòm trời lên phía mây xanh, khoảng cách giữa đất trời được phân chia rõ ràng. Sau khi trụ trời xong, thần lại phá cột đá và dùng đất đá ném ra mọi nơi, tạo thành hòn núi, dải đồi cao,... Mượn các hình ảnh thiên nhiên, tác giả dân gian đã giải thích quá trình tạo lập thế giới một cách sáng tạo. Từ đây, chủ đề của truyện trở nên gần gũi và hấp dẫn với bạn đọc.

Chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm văn học luôn song hành và bổ sung cho nhau. Truyện "Thần Trụ trời" cũng vậy, những sáng tạo hình thức nghệ thuật về cốt truyện, nhân vật đã đóng góp vào thành công trong việc làm nổi bật chủ đề truyện. Là truyện thần thoại, cốt truyện "Thần Trụ trời" được xây dựng hết sức đơn giản và gần gũi, xoay quanh việc thần Trụ trời làm công việc phân chia đất, trời và tạo nên những dạng địa hình tự nhiên khác nhau. Dựa vào trí tưởng tượng của con người cùng những yếu tố kì ảo, truyện đã giải thích quá trình tạo lập vũ trụ và thế giới tự nhiên. Qua đó, ta cũng thấy được khát khao tìm hiểu và khám phá của con người trong buổi đầu sơ khai. Đặc sắc nghệ thuật còn được thể hiện trong việc xây dựng nhân vật kết hợp sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại kết hợp với các chi tiết hư cấu. Hình ảnh Thần Trụ trời có kích thước "khổng lồ" với những bước chân rộng lớn, sở hữu sức mạnh phi thường, đã giúp cho người đọc hình dung rõ ràng, sắc nét về một vị thần trong thần thoại.

"Thần Trụ trời" với những đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật đã mang đến cho bạn đọc câu chuyện thú vị lí giải về nguồn gốc các sự vật trong tự nhiên. Đồng thời truyện cũng phản ánh mong muốn, khát khao được tìm tòi, khám phá của con người trong buổi đầu sơ khai. Mong rằng tác phẩm sẽ mãi để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc yêu thích văn học dân gian của dân tộc..


Mẫu 2

Từ trước đến nay, tôi đã học được rất nhiều câu chuyện thần thoại hay và thú vị, nhưng câu chuyện tôi thích nhất vẫn là Thần Trụ Trời. Đọc câu chuyện đó, tôi không khỏi suy nghĩ và không khỏi xúc động. Truyện kể rằng vào thời trời đất còn hỗn loạn, tăm tối, có một vị thần khổng lồ. Thần dựng trời cao, rồi đào đất, nặn đá, dựng cột chống trời, khi trời đất phân tranh thì thần phá trụ. Sau khi hoàn thành công việc, xác bay lên trời để các vị thần khác tiếp tục xây dựng thế giới. Ồ! Tôi thích thân hình to lớn của thần rất nhiều vì tôi thấp và gầy. Tôi đã nhìn thấy những người to cao, nhưng không ai giống như thần. Tôi cứ ước, giá như mình có một thân hình và đôi tay như thần thánh, tôi sẽ là một cầu thủ xuất sắc, chỉ cần một bước chân là tôi có thể sút bóng vào khung thành đối phương. Thật thú vị! Không những thế, tôi còn ngưỡng mộ Chúa vô cùng. Chúa có rất nhiều đức tính tốt mà tôi không có. Trước hết, tôi yêu tất cả các loài động vật. Nếu không có tình yêu, tôi đã không nhọc công ngẩng đầu lên trời, kiên nhẫn đào đất, dựng cột chống trời. Làm công việc đó, thần vừa thể hiện tình yêu thương muôn loài, vừa thể hiện sự quyết tâm, cần cù, chịu khó. Khi xong việc, thần không đợi muôn loài báo đáp, lặng lẽ bay về trời, để lại những công việc còn lại cho các vị thần khác tiếp tục xây dựng cho thế giới, cho muôn loài có cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi nghĩ không có ai trên thế giới này có những đức tính tốt như Chúa. Câu chuyện về Thần Trụ Trời. là một câu chuyện thần thoại mà em thích, giúp em hiểu được quan niệm cổ xưa về sự hình thành của trời và đất.


Mẫu 3

Truyện Thần Trụ Trời nằm trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam thuộc nhóm truyện thần thoại suy vi, kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài. Truyện không chỉ thu hút người đọc bởi cốt truyện đơn giản, dễ hiểu mà còn bởi những tình tiết kỳ ảo. Nổi bật trong truyện là chi tiết thần Cột dùng đầu đội trời rồi dùng tay bới đất dựng lên một cây cột vừa cao vừa to chống trời. Sau một thời gian, thấy cột khô cứng, thần phá cột ném đất đá đi khắp nơi tạo thành nhiều bề mặt khác nhau. Chi tiết này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích sự phân chia của trời đất, nguyên nhân hình thành nhiều bề mặt địa hình như sông, hồ, núi, cao nguyên và di tích Cột Trời ở Hải Dương. Đồng thời, chi tiết đó đã thể hiện trí tưởng tượng phong phú của tác giả dân gian.

Mẫu 4

Thần thoại chính là một thể loại truyện được sử dụng nhiều để kể về nguồn gốc của vạn vật. Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10, chúng ta được biết đến một truyện có nghệ thuật đặc sắc trong mảnh thần thoại. Đó chính là "Thần Trụ Trời" của tác giả Nguyễn Đổng Chi sưu tầm. Câu chuyện dẫn dắt người đọc đến một thế giới rộng lớn, một trái đất ban sơ bằng phẳng vắng bóng người.

Nội dung "Thần Trụ Trời" vẽ ra một bức tranh hùng vĩ. Trong bức tranh đó có sức mạnh của vị Thần, dời non lấp biển. Người tạo ra lằn ranh phân chia bầu trời và mặt đất. Người dùng đất đá lởm chởm xây núi, đồi. Sức mạnh ấy làm sao con người có thể làm được? Vậy là, câu chuyện đã giải thích được nguồn gốc tạo nên một trái đất từ thuở hoang sơ được như ngày nay chính là "Thần Mặt Trời".

Mở đầu câu chuyện, tác giả phác họa một bức tranh chỉ có 2 màu xám đen. Sự mịt mù, hỗn loạn ấy làm người đọc không xác định được thời gian. Lúc bấy giờ, trái đất chưa có sự sống, chỉ là một không gian mênh mông tăm tối. Chính trong thời điểm ấy, Thần Trụ trời xuất hiện, đem đến hơi thở con người. Người được miêu tả là một người có thân hình khổng lồ, chân dài không tả xiết. Chi tiết thần lặng im, cô độc khiến cho người đọc cảm thấy lặng lòng. Nhưng sau đó, như bộc phát sức mạnh, "thần đứng dậy ngẩng đầu đội trời lên". Với sự phi thường đó, người đập đá, đắp đất một mình mà tạo nên một cây cột khổng lồ. Cây cột ấy như có sức mạnh nâng bầu trời, tách bầu trời khỏi mặt đất. Từ ấy, bầu trời ở xa thăm thẳm, mặt đất bằng phẳng, điểm giáp nhau là chân trời. Sau đó, thần lại phá cột đá, tạo nên những vùng trũng, những dải đồi cao. Đến đây, những hình ảnh này đã trở nên quen thuộc hơn với người đọc, giúp người đọc dễ hình dung hơn.

  Hình ảnh Thần Trụ Trời trong câu chuyện cũng vô cùng vĩ đại. Là con người duy nhất trong không gian rộng lớn trống trải, vị thần ấy cũng có cảm xúc của con người. Dường như người cũng cảm giác được thứ gọi là cô đơn. Hình ảnh "thần đứng dậy ngẩng đầu đội trời lên" và "Lủi thủi một mình" cho thấy sự trống rỗng cùng cực. Nhưng chính những hình ảnh đó tôn lên sức mạnh vô cùng bất tận, làm chủ được cả tự nhiên. Trời đất với con người vốn là một thứ xa vời, vậy mà thần xây trụ trời, xé đôi ranh giới trời đất.

Mẫu 5

Truyện "Thần Trụ Trời" sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Nội dung và nghệ thuật truyện được kết hợp với nhau rất nhuần nhuyễn. Nội dung truyện nói về sự hình thành trời đất, nghệ thuật được sử dụng như tương phản đã làm rõ nét thêm về nội dung. Bức tranh câu chuyện này vẽ lên không hề cao xa, sặc sỡ. Nó vô cùng đơn giản, sử dụng những gam màu tối và hình ảnh quen thuộc. Nhờ trí tưởng tượng vô cùng phong phú, những yếu tố kì ảo được xây dựng vô cùng chân thực. Chúng ta có thể dễ dàng thấy được ham muốn khám phá, tìm hiểu của người xưa. Một số biện pháp nghệ thuật còn có thể kể đến nữa là tương phản. Hình ảnh con người nhỏ bé giữa không gian rộng lớn, làm con người trở nên nhỏ bé trước tự nhiên. Sự cô độc cũng được phóng địa triệt để, hình ảnh thần tuy quyền năng nhưng lại luôn đơn độc một mình. Ở đây, tác giả còn dùng cả thủ pháp phóng đại, biến con người trở nên to lớn, rạch trời vá đất. Tuy nhỏ bé, nhưng chúng ta có thể thấy được dã tâm làm chủ thiên nhiên của con người đã có từ thuở sơ khai.

Truyện Thần Trụ Trời sử dụng nhiều nét đặc sắc để làm nổi bật lên thể loại truyền thuyết. Qua đó, người đọc cảm nhận được nét kì vĩ và bí ẩn của những ngày sơ khai. Những hình ảnh quen thuộc như núi đồi cũng được làm rõ nguồn gốc tạo thành. Đây chính là một đặc điểm của thể loại truyền thuyết khiến người đọc vô cùng yêu thích.

Mẫu 6

Trong hệ thống thần thoại của dân tộc Việt Nam ta về sự sáng lập vũ trụ, Trần Trụ Trời được coi như truyện mở đầu. Truyện được các nhà khảo cứu văn hóa dân gian sưu tầm, kể lại bằng bản văn trong cuốn "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam". Truyện thể hiện giá trị đặc sắc trên nhiều phương diện như chủ đề, hình thức nghệ thuật. Qua đó thể hiện sự tôn kính thiêng liêng của co người với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng và với trời đất.

Truyện kể rằng vào thời kì trời đất còn hỗn độn, tối tăm, chưa có thế gian và vạn vật, muôn loài, có một vị thần với ngoại hình và sức mạnh phi thường xuất hiện. Thần ngẩng đầu để đội trời lên rồi tự mình đào đất, đập đá tạo thành một cái cột chống trời. Khi trời đã cao và khô, thần đã phá cột đi và lấy đất đá ném tung khắp nơi tạo thành núi, đảo, đồi cao và biển rộng. Vì vậy, ngày nay, mặt đất không được bằng phẳng. Vị thần ấy được gọi là Trời hay Ngọc Hoàng. Sau đó, các vị thần khác tiếp tục xây dựng thế giới.

  Qua cốt truyện Thần Trụ Trời, ta có thể dễ dàng nhận ra giá trị của truyện trước hết thể hiện qua chủ đề và bài học cuộc sống mà nó gửi gắm. Đây là một tác phẩm văn học dân gian thuộc nhóm truyện thần thoại suy nguyên (giải thích các hiện tượng tự nhiên), được nhân dân sáng tạo, lưu truyền từ xa xưa, lưu truyền từ xa xưa nhằm lý giải sự hình thành trời đất, núi sông, biển cả của những người xưa cổ bằng trực quan và tưởng tượng. Truyện thể hiện cái nhìn của con người cổ đại về hiện tượng thế giới được hình thành, được sắp đặt trật tự như bây giờ rất đơn giản nhưng chứa đựng nhiều giá trị, thông điệp sâu sắc về cuộc sống. Qua đó thể hiện sự tôn kính và thiêng liêng của con người đối với văn hóa tâm linh, niềm tin vào tín ngưỡng, trời đất.

Mẫu 7

Ngay từ thời nguyên thuỷ, cuộc sống sinh hoạt, lao động đã luôn đòi hỏi con người phải quan sát, suy ngẩm về các hiện tượng tự nhiên liên quan mật thiết tới mình. Truyện cho thấy người Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã cố gắng tìm để hiểu rõ thế giới tự nhiên xung quanh họ. Vì trình độ của con người bấy giờ chưa đủ để nhận thức đúng các hiện tượng ấy nên từ những điều quan sát được kết hợp với trí tưởng tượng hồn nhiên, chất phác, ngây thơ, họ đã sáng tạo ra những yếu tố siêu nhiên, những vị thần linh để giải thích sự hình thành thế giới tự nhiên. Qua đó thể hiện ước mơ chinh phục thiên nhiên của người Việt cổ từ thời xa xưa.

Hành động đầu tiên khi Thần Trụ Trời xuất hiện là "vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu đội trời lên" cũng là hành động có tính phổ biến của nhiều vị thần tạo thiên lập địa khác trên thế giới. Giống hệt như hình ảnh ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc. Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt chính là sau khi đã xuất hiện trong cõi hỗn độn mà vũ trụ giống như quả trứng khổng lồ, ông đạp cho quả trứng tách đôi, nửa trên là trời, nửa dưới là đất. Rồi bằng sự biến hóa lớn lên không ngừng của bản thân, ông tiếp tục đẩy trời lên cao, đạp đất xuống thấp chứ không phải như Thần Trụ Trời đã xây cột chống trời. Tuy truyện có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại nhưng cũng có cái lõi của sự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, xây dựng, tạo lập đất nước. Như vậy cho thấy việc khai thiên lập địa của ông Thần Trụ Trời ở Việt Nam và ông Bàn Cổ ở Trung Quốc vừa có điểm giống nhau vừa có điểm khác nhau. Và đó cũng chính là nét chung và nét riêng có ở trong thần thoại của các dân tộc. Dù vốn hiểu biết ít ỏi, nhưng từ thuở sơkhai, người Việt cổ cũng như các dân tộc khác trên thế giới không ngừng bổ sung, sáng tạo làm cho nền văn học, nghệ thuật ngày một đa dạng hơn. Nhờ vậy, hệ thống các truyện giải thích về vũ trụ, tự nhiên, vạn vật đã góp phần tạo nên kho tàng thần thoại phong phú, đồ sộ. Đồng thời truyện Thần trụ trời cũng giúp cho con người Việt Nam có nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt. Cũng nhờ nghệ thuật phóng đại mà các nhân vật thần thoại có được sức sống lâu bền, vượt qua mọi thời gian để còn lại với chúng ta ngày nay. Qua đó thể hiện thái độ tôn kính thiêng liêng của mỗi người với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, trời đất cũng như sự trân trọng, khâm phục ước mơ chinh phục thiên nhiên, mở rộng hiểu biết, khám phá thế giới của thế hệ con cháu chúng ta với cha ông từ thời sơ khai.

Như vậy có thể thấy Thần trụ trời là một trong những truyện thần thoại đầu tiên, tiêu biểu, đặc sắc trong kho tàng truyện thần thoại dân gian Việt Nam.

Góp phần tạo nên thành công cho câu chuyện, ngoài giá trị của chủ đề thì các hình thức nghệ thuật cũng rất đặc sắc, ấn tượng, làm nên giá trị của tác phẩm. Chính những hình thức nghệ thuật đặc sắc ấy đã giúp cho chủ đề và ý nghĩa truyện trở nên sâu sắc, thấm thía hơn và hấp dẫn độc giả hơn.

Mẫu 8

Nét hấp dẫn đầu tiên về đặc sắc nghệ thuật của truyện là về đặc trưng thể loại. Đây là một truyện thần thoại đặc sắc hấp dẫn với 4 đặc trưng tiêu biểu của thể loại. Đó là đặc trưng về không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật. Truyện lấy bối cảnh không gian sơ khai, rộng lớn là vũ trụ đang trong quá trình tạo lập. Thời gian của truyện được nhắc đến là "thuở ấy, từ đó". Đây cũng mang tính chất cổ sơ, không xác định cụ thể, không rõ ràng. Cốt truyện xoay quanh việc giải thích quá trình tạo lập ra vũ trụ, trời, đất, thế giới tự nhiên. Nhân vật được kể trong truyện cũng mang đặc trưng thể loại thần thoại. Tất cả các nhân vật đều là các vị thần. Từ nhân vật trung tâm là thần Trụ Trời đến các nhân vật phụ khác như thần Đếm cát, thần Tát bể (biển), thần Kể sao, thần Đào sông, thần Trồng cây, thần Xây rú (núi). Và tất cả các vị thần đều có vóc dáng khổng lồ và sức mạnh phi thường để thực hiện việc làm vĩ đại, phi thường, mang đậm giá trị nhân văn.

Thứ hai, truyện có cách xây dựng nhân vật độc đáo, mang đặc trưng của thể loại thần thoại. Nhân vật trung tâm của truyện là một vị thần. Đó là thần tối cao – thần Trụ Trời. Thần là năng lực siêu phàm, có khả năng phi thường, có ý chí, mạnh mẽ, tài năng, có công sáng tạo ra vũ trụ, thế giới tự nhiên và vạn vật. Vị thần ấy được gọi là Trời hay Ngọc Hoàng. Như vậy, hình tượng nhân vật trung tâm được kể trong truyện rất tiêu biểu, điển hình, rất sinh động, lôi cuốn.

Tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày điện mới về làng, lúc đó tôi chừng bốn tuổi. 

Mẫu 9

Ngày ấy muốn xem truyền hình khó lắm bởi chỉ có những nhà giàu mới mua được tivi để xem. Mà số nhà có tivi còn chưa qua hết một bàn tay. Nhà tôi nghèo nên truyền hình là thứ quà xa xỉ và đắt đỏ. Nhưng ngày tháng ấy tôi lại được “xem” những bộ phim hay nhất qua lời kể của bà, giọng bà ấm nên tôi mê lắm! Tôi nhớ mình như chú chim non đợi mẹ bón mồi, bà cứ kể đến đâu là tôi “nuốt trọn” đến đó. Trong số những “bộ phim” được nghe, tôi nhớ nhất truyện “Thần Trụ Trời” - một câu chuyện chứa đựng toàn bộ đặc sắc về chủ đề và hình thức nghệ thuật của một thể loại đã một đi không trở lại.

Đọc Thần Trụ Trời, ai cũng có thể nhận thấy rằng, giá trị của truyện trước hết thể hiện qua chủ đề mà tác phẩm nêu lên. Câu chuyện xoay quanh quá trình tạo lập vũ trụ, phân tách trời và đất của một ông thần to lớn, khổng lồ. Thuở ấy trời đất còn mờ mịt, hỗn độn, thần đứng dậy, đội trời lên, rồi tự mình đào đất, đắp cột chống trời. Khi trời đất phân đôi thần liền phá cột chống trời đi, đất đá văng đi khắp nơi, biến thành hòn núi, hòn đảo, thành gò, thành đống, … Thông qua câu chuyện thần Trụ Trời, nhân dân cổ đại nhằm lí giải quá trình tạo lập vũ trụ đồng thời kí gửi ước mơ chinh phục thế giới tự nhiên.

Tôi tự hỏi, vì sao người xưa lại lí giải quá trình tạo lập vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên cùng nguồn gốc của muôn loài qua thể giới thần linh? Cũng như vạn vật, con người cần đến các yếu tố có sẵn trong tự nhiên (không khí, đất đai, sinh vật…) để tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển chung của vạn vật, con người dần tách mình ra khỏi thế giới động vật để trở thành một sinh vật đặc biệt (sử dụng tư duy, ngôn ngữ và lao động để sinh tồn). Trong buổi đầu hình thành và phát triển, con người phải đối diện với muôn vàn gian khó từ thiên nhiên, đó là các hiện tượng thiên nhiên: mưa, gió, sấm, chớp, mặt đất, bầu trời, sự hoang vu nguyên thủy… Cho dù tách mình ra khỏi thế giới động vật nhưng người nguyên thuỷ chưa tách mình ra khỏi môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh, con người còn phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên. Với họ tự nhiên là lực lượng vừa to lớn, vừa bí ẩn, luôn mang những tai họa bất ngờ đổ ập xuống cuộc sống của con người và xóa đi tất cả. Với tư duy thô sơ, non nớt, người nguyên thủy chưa thể nào lí giải một cách khoa học và lôgic các hiện tượng tự nhiên ấy. Họ cho rằng có một thế lực siêu nhiên, thần thánh đang chi phối các hiện tượng thiên nhiên ấy cũng như chi phối cuộc sống của họ. Cùng với thời gian, người nguyên thủy đã phát hiện ra một số quy luật của thiên nhiên (ngày đêm, sáng tối, vạn vật luân chuyển theo mùa…). Người nguyên thủy có khát vọng lí giải tất cả các vấn đề đó và họ bắt đầu hình dung, tri giác về thiên nhiên bằng tư duy chất phác của mình. Để rồi ta biết đến Thần Trụ Trời trong công việc tạo lập vũ trụ, phân tách đất trời cùng quá trình hình thành núi, đồi, sông, biển, …

Giá trị chủ đề trong truyện Thần Trụ Trời không thể tách rời hình thức nghệ thuật đặc sắc của truyện kể với cốt truyện đơn giản, nhân vật thần thoại đã góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề của truyện.

Mẫu 10

Là truyện thần thoại, cốt truyện “Thần Trụ Trời” được xây dựng hết sức đơn giản và gần gũi, xoay quanh quá trình thần Trụ Trời phân tách đất nước ra làm đôi: “Từ đó, trời đất phân đôi. Đất phẳng như cái mâm vuông, trời trùm lên như cái bát úp, chỗ trời đất giáp nhau gọi là chân trời” và tạo nên những dạng địa hình tự nhiên khác: “Khi trời đã cao và đã khô, không hiểu tại sao thần lại phá cột đi, lấy đất đá ném tung đi khắp nơi. Mỗi hòn đá văng đi, biến thành gò, thành đống, những dải cồn cao. Vì thế cho nên mặt đất ngày nay không bằng phẳng, mà có chỗ lồi, chỗ lõm. Chỗ thần đào đất, đào đá mà đắp cột ngày nay thành biển rộng”. Dựa vào trí tưởng tượng non nớt thuở ấy, nhân dân cổ đại đã sáng tạo ra một câu chuyện đơn giản nhưng lại đáp ứng được nhu cầu nhận thức và lí giải về thế giới.

Biêlinxki từng chia sẻ: “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng”. Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình. Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng. Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng nhân vật điển hình độc đáo. Trong quan niệm của người xưa, luôn có một thế lực siêu nhiên, thần thánh đang chi phối các hiện tượng thiên nhiên ấy cũng như chi phối cuộc sống của họ thế nên hình tượng nhân vật được xây dựng thuở ấy chính là những vị thần hoặc có nguồn gốc từ thần với mục đích lí giải thế giới tự nhiên cùng nguồn gốc vạn vật, muôn loài. Trong truyện “Thần Trụ Trời” nhân vật được khắc họa với một vóc dáng khổng lồ “chân thần dài không thể tả xiết, thần bước một bước là có thể qua từ vùng này đến vùng nọ, hay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác”. Thần đảm trách công việc tạo lập vũ trụ thế nên mỗi ngày thần đều hì hục vừa đào, vừa đắp để rồi chẳng bao lâu đã thành một cái cột vừa cao, vừa to để chống trời khiến cho vòm trời đẩy lên mãi phía mây xanh mù mịt. Thế nhưng khi trời đã cao và khô, thần lại phá cột đi, lấy đất đá ném tung đi khắp nơi. Giống hệt như hình ảnh ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc. Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt chính là sau khi đã xuất hiện trong cõi hỗn độn mà vũ trụ giống như quả trứng khổng lồ, ông đạp cho quả trứng tách đôi, nửa trên là trời, nửa dưới là đất. Rồi bằng sự biến hóa lớn lên không ngừng của bản thân, ông tiếp tục đẩy trời lên cao, đạp đất xuống thấp chứ không phải như Thần Trụ Trời đã xây cột chống trời. Truyện thần thoại có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại nhưng cũng có cái lõi của sự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, xây dựng, tạo lập đất nước. Trong truyện “Đi san mặt đất” của người Lô Lô đã xuất hiện hình ảnh con người trong quá trình tạo lập vũ trụ:

“Bầu trời nhìn chưa phẳng
Mặt đất còn nhấp nhô
Phải đi san bầu trời
Phải đi san mặt đất”
Để rồi:
“Giống nào cũng không đi
Người gọi nhau làm lấy
Nhiều sức, chung một lòng
San mặt đất cho phẳng
Nhiều tay chung một ý
San mặt đất, làm ăn”

Những phân tích trên đây cho thấy “Thần Trụ Trời” là một truyện thần thoại đặc sắc, thể hiện đầy đủ những đặc trưng của một thể loại đã một đi không trở lại. Về chủ đề, truyện đã lí giải quá trình tạo lập vũ trụ đồng thời kí gửi ước mơ chinh phục thế giới tự nhiên thuở ban đầu. Để làm rõ chủ đề ấy, tác giả dân gian đã xây dựng được cốt truyện đơn giản song vô cùng hấp dẫn để nhân vật thỏa sức thể hiện hành động, công việc của mình. Dẫu cho hàng vạn, hàng nghìn năm đã đi qua, con người đã có thể lí giải mọi vấn đề của đời sống xã hội bằng khoa học thế nhưng mỗi lần nhớ đến truyện Thần Trụ Trời cùng lời kể trầm ấm của nội thì trong tâm trí tôi lại hiện lên một ông thần to lớn dang tay chống đỡ bầu trời và tôi tin đã từng có một thế lực siêu nhiên như thế! Tôi mong con người sẽ đối xử tốt hơn với thiên nhiên - những vị thần trong kí ức bởi sự sống đang ngày một yếu ớt và suy kiệt.

 

9. Tự luận
1 điểm

Hãy viết một đoạn văn chia sẻ suy nghĩ về truyện Prô-mê-tê và loài người.

Xem đáp án

Dàn ý chia sẻ suy nghĩ về truyện Prô-mê-tê và loài người

1. Mở đoạn:

- Giới thiệu về truyện thần thoại.

2. Thân đoạn:

- Đặc sắc truyện thần thoại:

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

3. Kết đoạn:

- Khẳng định giá trị của truyện thần thoại đó.

Mẫu 1

Thần thoại Hy Lạp ra đời vào khoảng 2000 - 1100 năm trước công nguyên nhưng cho đến nay, thần thoại Hy Lạp vẫn còn nguyên giá trị và có sức hấp dẫn nhất định đối với con người thời đại mới. Câu chuyện "Prô-mê-tê và loài người" kể về việc: Ê-pi-mê-tê đảm nhận công việc tạo ra muôn loài còn để cho người anh Prô-mê-tê xem xét, sửa chữa. Sau khi Ê-pi-mê-tê đã hoàn tất và ban mọi "vũ khí" cần thiết cho các loài động vật thì lại quên không ban vũ khí nào cho con người. Prô-mê-tê đã thay em sửa chữa sai lầm của mình và giúp con người có được cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Câu chuyện diễn ra trong không gian vũ trụ nguyên thủy khi thế gian mới có các vị thần, mặt đất mênh mông, trống vắng. Thời gian của câu chuyện là thời gian quá khứ, không được xác định cụ thể. Không, thời gian trong chuyện gắn liền với buổi sơ khai của con người, phản ánh cách con người nguyên thủy tri giác về thế giới. Nhân vật trong truyện là các vị thần mang vẻ đẹp lớn lao, kì vĩ, có khả năng sáng tạo ra muôn loài. Cốt truyện đơn giản, gần gũi, hấp dẫn người đọc, người nghe. Bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, người Hy Lạp cổ đại đã đem đến cho người đọc hình dung về nguồn gốc hình thành của các loài vật, con người và cách muôn loài tồn tại, bảo vệ cuộc sống của mình thông qua những "vũ khí" mà các vị thần ban phát. Với những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, câu chuyện "Prô-mê-tê và loài người" vẫn được tái trình hiện trong những lời kể, các vở diễn trên sân khấu ngày nay. Điều đó, chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của thể loại thần thoại theo năm tháng.

Mẫu 2

Một câu hỏi được đặt ra trong suốt chiều dài lịch sử của con người là: Con người xuất hiện từ lúc nào? Ai là người đã tạo ra con người? Cho đến hiện tại, câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp và khiến cho nhiều nhà khoa học “đau đầu”. Vậy nên, thiên truyện “Thần Thoại Hy Lạp” đã ra đời, giải thích về nguồn gốc của loài người. Chúng ta được biết đến gần gũi nhất chính là truyện truyền thuyết ngắn “Prô-mê-tê và loài người”. Câu chuyện đã khéo léo lý giải được nguồn gốc của con người, nội dung được xây dựng vô cùng độc đáo.

Prô-mê-tê và loài người có nội dung kể về hai vị thần hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã tạo ra loài người và động vật bằng cách nặn ra hình hài của chúng. Mỗi loài sẽ được hai người ưu ái, ban tặng những đặc điểm vượt trội, những vũ khí riêng biệt. Đó là thứ muôn loài có thể tồn tại và phát triển trong thời kỳ thế gian hỗn loạn. Đây chính là nguồn gốc hình thành loài người và động vật theo tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại.

Hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê trong truyện chính là anh em. Ngày đó, trái đất được tạo thành, tuy nhiên vô cùng trống vắng, buồn tẻ. Yếu tố thuyền thuyết đã tạo nên một khoảng không rộng rãi, nơi mà các vị thần sinh sống. Nhưng cũng chỉ có thần là mang hơi thể của vật sống, vậy nên hai anh em đã xin phép đất mẹ - Gai ga để tạo nên những vật sống khác. Nhận được sự chấp thuận, hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã bắt tay ngay vào công việc. Quá trình tạo ra muôn loài được miêu tả rất đặc sắc. Họ ban cho mỗi loài một thứ vũ khí riêng biệt. Có loài lại "có nọc độc gớm ghê", có loài "có bộ lông dày", "con có sải cánh rộng", "con thì có đôi mắt xanh",... Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, người anh đã quên mất tạo ra vũ khí của “loài người”. Họ đã sửa chữa lỗi sai này bằng cách để con người có thể đứng thẳng và đi bằng hai chân. Đây cũng chính là hình thái đầu tiên của con người. Qua đoạn miêu tả này, ta cũng sẽ thấy được nhiều đặc điểm đặc trưng của cả con người và động vật. Chính nhờ khả năng đứng thẳng, con người được tôn vinh là kẻ cầm quyền, có thêm trí thông minh vượt trội so với các loài khác.

Hình ảnh ngọn lửa của Prô-mê-tê trong bài như hình ảnh của sự sống bắt đầu sinh sôi. Người xưa cũng quan niệm, lửa chính là thứ khởi nguồn của sự sống và sự tiến bộ. Ánh sáng từ ngọn mở lối để vạn vật thoát khỏi cảnh tăm tối bủa vây. Nó cũng làm cuộc sống con người tốt hơn, xây dựng một xã hội hiện đại.

"Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu
Giống loài người đã có ngọn lửa của Prô-mê-tê
Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề".

Mẫu 3

Truyện Prô-mê-tê và loài người đã sử dụng nhiều hình ảnh tuy “thần thoại hóa” nhưng lại vô cùng chân thực. Qua việc hiểu được nguồn gốc của loài người, những vị thần xa xưa còn được người Hy Lạp tôn sùng. Công lao to lướn và khả năng vượt trội ấy chính là cách lý giải sát thực tế của những người mang danh làm nên xã hội. Lời kể và cả cốt truyện giản dị, không có nhiều yếu tố siêu thực. Cũng chính vì vậy, hình ảnh những vị thần trở nên chân thực vô cùng. Bên cạnh đó, ngoài miêu tả sức mạnh vượt trội của hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê, tác giả cũng khiến họ trở nên gần gũi hơn bằng việc cho họ những khuyết điểm nhỏ. Đó chính là chi tiết thần Ê-pi-mê-tê quên không ban vũ khí cho con người. Nhờ đó, thiên truyện tưởng chừng kỳ ảo lại trở nên thân quen.

Mẫu 4

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã giúp người đọc có cái nhìn về một nguồn gốc hình thành loài người do người Hy Lạp xây dựng. Những câu chữ vô tình xây dựng một đế chế các vị thần quyền năng từng tồn tại trên Trái đất khiên nhiều người thích thú. Cuối cùng, không thể phủ định được giá trị văn học của các nước khác trên thế giới cũng vô cùng phong phú.

Mẫu 5

Tại sao trên Trái Đất lại có sự xuất hiện của con người và muôn vật? Đây vốn là câu hỏi khiến bất kì ai trong chúng ta cũng thắc mắc và cần tìm lời giải đáp. Để trả lời cho câu hỏi trên, truyện "Prô-mê-tê và loài người" trích trong "Thần thoại Hy Lạp" đã lí giải một cách sáng tạo về nguồn gốc thế giới loài vật và con người. Đặc biệt, truyền còn gây ấn tượng với người đọc bằng nội dung thú vị và nghệ thuật độc đáo.

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" kể về việc hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê nặn ra các loài vật và loài vật, đồng thời ban cho chúng một thứ vũ khí riêng biệt. Câu chuyện đã thể hiện cách lí giải nguồn gốc hình thành con người cùng thế giới các loài vật của người Hy Lạp xưa.

Truyện thần thoại là thể loại có yếu tố không gian vũ trụ và thời gian cổ xưa, không được xác định. Trong "Prô-mê-tê và loài người", hai yếu tố ấy cũng được thể hiện rõ nét qua khung cảnh buồn tẻ của thế gian khi "chỉ mới có các vị thần". Chính vì lẽ đó, hai anh em Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã xin phép U-ra-nôx và Gai-a tạo cho thế gian một cuộc sống đông vui hơn. Nhận được sự ưng thuận, hai vị thần đã quyết định tạo ra con người và muôn vật. Người em Ê-pi-mê-tê vô cùng vui mừng và hào hứng nên đã tranh lấy việc làm ra mọi giống loài với những vũ khí riêng biệt, có loài thì "chạy nhanh như gió", có loài lại "có nọc độc gớm ghê" rồi có loài thì "có bộ lông dày", "con có sải cánh rộng", "con thì có đôi mắt xanh", "con có thân hình khổng lồ", "con thì xuống nước không chìm", "con thì trèo leo thoăn thoắt". Tuy nhiên, trong quá trình nhào nặn, thần Ê-pi-mê-tê cũng không thể tránh khỏi những sai lầm. Vì sự đãng trí của mình, thần đã quên bạn phát vũ khí tự vệ cho loài người. Để có thể sửa sai cho em trai của mình, thần Prô-mê-tê đã tái tạo để con người có dáng đứng thẳng, đi bằng hai chân và lấy lửa làm thứ vũ khí đặc biệt để ban cho loài người. Kể từ đây, cuộc sống của con người ngày càng trở nên tốt đẹp, văn minh hơn. Ngọn lửa của Prô-mê-tê chính là ngọn lửa của sự sống, mang đến cho con người ánh sáng thoát khỏi cảnh u tối của màn đêm:

"Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu
Giống loài người đã có ngọn lửa của Prô-mê-tê
Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề".

Mẫu 6

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã khắc họa nổi bật chủ đề của truyện thần thoại - lí giải nguồn gốc của con người và thế giới muôn vật, đồng thời là những ngợi ca của người Hy Lạp xưa đối với công lao to lớn của mỗi vị thần. Qua câu chuyện , ta thấy cách lí giải nguồn gốc con người của người Hy Lạp xưa xuất phát từ mong muốn có một cuộc sống phong phú, văn minh và tươi sáng hơn.

Để làm sáng tỏ chủ đề của truyện, chúng ta phải kể đến những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Truyện "Prô-mê-tê và loài người" có cốt truyện đơn giản, gần gũi, xoay quanh việc các vị thần tạo ra muôn vật và con người. Bên cạnh đó, việc khắc họa nhân vật là các vị thần quen thuộc cũng tạo nên sự hấp dẫn cho cốt truyện. Hai nhân vật là Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê những vị thần, nắm giữ sức mạnh phi thường mà con người không thể có. Tuy nhiên, hai vị thần lại có nét tính cách gần gũi với con người. Đó là thần Ê-pi-mê-tê "đần độn", đãng trí khi quên ban phát vũ khí cho con người. Đó còn là thần Prô-mê-tê có tầm nhìn xa trông rộng trong việc sửa chữa các sai lầm của người em.

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" được lưu truyền qua nhiều thế hệ và được mọi người đón nhận nồng nhiệt. Thế giới tâm linh vẫn luôn là thế giới bí ẩn mà con người sử dụng để giải thích cho những sự vật, hiện tượng không thể lí giải trong cuộc sống hằng ngày. Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã giúp chúng ta thấy được trí tưởng tượng cùng sáng tạo của người Hy Lạp xưa. Qua đây, chúng ta cần trân trọng những giá trị tốt đẹp của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.

Mẫu 7

Văn học được sinh ra trên cõi đời này từ thuở xa xưa nhất, khi mà con người đã có những tri thức ban đầu. Nó có mặt trên cuộc đời này để phục vụ đời sống và những giá trị tinh thần cho con người, không những vậy nó còn là một loại phương tiện để con người gửi gắm ước mơ và mong muốn của họ về thế giới này, nơi mà họ sinh sống, nơi mà con cháu họ sẽ phát triển và tồn tại. Chính vì vậy ngay từ thuở khai thiên lập địa, họ đã biết sáng tạo ra những tác phẩm văn học mang đậm tính văn hoá và giáo dục, mặc dù không được ghi chép rõ rành như ngày hôm nay nhưng thay vào đó là những lời truyền miệng, được bổ sung và tái tạo không ngừng qua các thế hệ để dần hoàn thiện hơn. Hàng loạt những câu chuyện được thêu dệt trong quá trình lao động sản xuất của họ, không chỉ là tạo ra những giá trị vật chất để nuôi sống cơ thể mà những giá trị tinh thần cũng không thể không có. Có vô vàn các thể loại văn học dân gian được lưu truyền qua hàng ngàn năm, nhưng không thể phủ nhận sức sống của các nhân vật trong các câu chuyện thần thoại, nó băng hoại với dòng chảy thời gian và luôn có một vị trí nào đó trong những giá trị văn hoá của con người xưa và nay. Nhắc đến các thể loại thần thoại không thể không nhắc đến nền văn minh Hy Lạp, cái nôi của những câu chuyện về các vị thần, những người đầy quyền năng kiến tạo nên nguồn sống cho người Hy Lạp theo lối suy nghĩ xưa. Một trong những giai thoại luôn giữ được những giá trị của mình khi giải thích về sự có mặt của loài người trên đời này là “Prô-mê-tê và loài người”, không chỉ cho ta những tri thức thuở xưa của người Hy Lạp cổ mà còn đưa ra nhiều thông điệp nhân sinh về thế giới quan.

Thần thoại trong nền văn hoá của người Hy Lạp là một thứ không thể thiếu, bởi từ xa xưa nó như là một phần trong các giá trị tinh thần nuôi dưỡng con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển. Thần thoại Hy Lạp bắt đầu hình thành từ khoảng 2000 – 1100 năm trước Công nguyên, những câu chuyện chủ yếu kể về các vị thần và công lao của họ trong việc kiến tạo nên thế giới và tạo ra loài người, là nguồn gốc, ý nghĩa của các tín ngưỡng, tôn giáo trên khắp thế giới, đó chính là lí do mà người ta vẫn gọi Hy Lạp là cái nôi của những câu chuyện về các vị thần, những người đã tạo nên sự sống trên thế giới này. Trải qua hàng ngàn triều đại và thịnh suy của đất nước, những câu chuyện thần thoại liên tục được bổ sung, tu bổ, được thêm bớt các chi tiết để phù hợp với thời cuộc, vậy nên dù mất đi những tính chất ban đầu của mình nhưng nó vẫn chứa đựng những chi tiết và bài học lí thú về con người và đời sống nhân loại. Các câu chuyện ấy mặc dù chủ yếu kể các vị thần có tài năng phi thường nhưng vẫn xoay quanh con người, xoay quanh thế giới mà họ đang sống, các vị thần không chỉ để tôn sùng mà còn là những nét văn hoá trong suy nghĩ của người Hy Lạp xưa, họ quan niệm không có các vị thần thì vũ trụ này mãi mãi chỉ là một mớ hỗn độn và con người mãi mãi chỉ là những hạt bụi lơ lửng. Những chuỗi sự kiện về các vị thần cho đến ngày được được chuyển thể ở những đề tài, lĩnh vực khác như Triết học, hội hoạ, nghệ thuật, … chính vì vậy những tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, không những thế mà còn được tiếp xúc gần với thế giới loài người hiện đại, những câu chuyện hàng ngàn năm tuổi mãi mãi không bao giờ cũ mà luôn hiện hữu trong đời sống thường nhật. Giai thoại về “Prô-mê-tê và loài người” đã tái hiện lại cách mà con người mà các loài vật được sinh ra trên vũ trụ này, mỗi một cá thể đều được các vị thần ban cho một loại sức mạnh riêng để có thể tự bảo vệ mình trước những tai hoạ xung quanh. Truyện đã nêu lên một thông điệp Con người là trung tâm của vũ trụ, là những kẻ có được sự tin yêu của thần linh và là thế lực được thần linh giao phó để cải tạo và xây dựng thế giới.  

  Thần thoại “Prô-mê-tê và loài người” kể về khoảng thời gian thuở xưa ấy, bất định, khi mà trời đất vừa phân chia làm đôi, chỉ có sự hiện diện của các vị thần, mặt đất vắng vẻ và tẻ nhạt. Hai anh em Thần Prô mê tê và Ê pi mê tê đã quyết định cầu xin các vị thánh đấng trên để tạo ra một thứ gì đó xoá tan đi bầu không khí ảm đạm này, vậy là họ bắt đầu công cuộc cải tạo thế giới này, là hành động khởi đầu mở ra một kỉ nguyên mới cho vũ trụ. Thần Ê-pi-mê-tê lấy đất và nước nặn thành hình thù của hàng ngàn loài vật, mỗi loài đều được ban cho một đặc ân của thần, “một vũ khí để có thể phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình”, Con thì được ban chạy nhanh như gió, con thì có đôi mắt sáng nhìn thấu đêm đen, con thì có thân hình khổng lồ mạnh khoẻ … Nhưng có một loài vẫn chưa có được vũ khí cho mình đó là con người. Bằng tấm lòng yêu thương của mình thần Prô mê tê nhận thấy vẻ trang nhã của các vị thần nên đã tái tạo cho con người một thân hình đẹp đẽ thanh tao hơn các con vật, giúp con người đứng thẳng, đi bằng hai chân, đôi tay thảnh thơi để làm việc khác, không chỉ vậy thần còn lén lên cổ xe của thần Mặt trời để ăn trộm ngọn lửa thiêng ban cho con người, và chính ngọn lửa ấy đã kiến tạo nên nền văn minh của nhân loại. Đó là vũ khí mạnh mẽ nhất mà không một con vật nào có thể có được, nó bảo vệ con người vượt qua hàng ngàn nguy hiểm của thế giới xung quanh. Từ đó họ có cuộc sống ấm no, hanh phúc hơn. Câu chuyện đã khắc hoạ nên quá trình hình thành của các sinh vật trên thế giới và thể hiện tấm lòng yêu thương cao cả mà các vị thần ban cho loài người, mỗi loài đều cần có những đặc ân riêng, “vũ khí” riêng, sức mạnh riêng để có thể phòng thân, hộ mệnh, tự lập, tự bảo vệ được cuộc sống của chính mình, con người được ưu ái hơn bởi họ mang một nhiệm vụ to lớn là kiến tạo nên thế giới để nó ngày càng phát triển và hạnh phúc. 

Con người chúng ta sinh ra với đầy đủ những giá trị thiết yếu cần có, chúng ta luôn có nhu cầu nhận biết và tìm hiểu những gì xoay quanh chúng ta hằng ngày, từ những thay đổi của ngoại cảnh cho đến chính bản thân mình. Ngày nay tất cả các lĩnh vực từ Khoa học cho đến Tâm linh đều luôn muốn trả lời cho câu hỏi Con người ta được tạo ra như thế nào, tại sao lại xuất hiện trên cõi đời này cùng tất cả các loài sinh vật khác. Nhu câu muốn tìm hiểu về nguồn gốc của chính mình luôn luôn tạo những hứng thú và sự tò mò. Không chỉ nguời hiện đại ngày nay mới có những lối tư duy đó mà những người cổ đại xưa có có những thắc mắc như vậy, đó chính là nguyên do về sự ra đời của những câu chuyện thần thoại đề cập đến sự tồn tại của loài người và hàng triệu loài sinh vật khác. Những câu chuyện viết về các vị thần của Hy Lạp gắn liền với nền văn minh Hy Lạp cổ, một trong những vương triều tồn tại lâu đời nhất và còn hiện diện cho đến ngày nay, chính vì lí do đó những sáng tác đi từ đời sống của Hy Lạp mang đậm dấu ấn lịch sử và những bước chuyển mình của thời đại. Việc họ sáng tạo ra Thần Prô mê tê đã tạo nên loài người và các giống sinh vật bằng cách nặng từ đất và nước, họ ban cho loài người những vũ khí mạnh mẽ để chống chọi lại với bao biến thiên tai hoạ khôn lường, bão tố, núi lửa, để chống lại các loài vật khác trở thành bá chủ muôn loài thể hiện loài người chính là sức mạnh của tạo hoá, là giống nòi đặc biệt có thể thay mặt các vị thần thực hiện những công việc giang dở .Việc tạo ra loài người bằng cách nặn từ đất và nước có thể bắt gặp trong thần thoại Nữ Oa của nên văn minh Trung Hoa cổ đại. Nữ Oa để tưởng nhớ công ơn Bàn Cổ đã khai thiên lập địa, bà muốn tạo ra một thứ gì đó để thức tỉnh sự im lặng của thế giới. Lúc ấy bà nhìn xuống sông Hoàng Hà, thấy bóng hình mình soi chiếu xuống đó, bà cảm thấy thế giới này thiếu đi một người như vậy. Thế là bà từ bùn Hoàng Hà mà nặn thành hình người, thổi âm khí thì biến thành đàn bà, thổi dương khí thì biến thành đàn ông, ban cho họ khả năng sinh sản để có thể lấp đầy những khoảng trống trên khắp thiên địa này. Ta có thể thấy Thần thoại tạo ra loài người ở bất kì đâu cũng có một lối tư duy riêng phù hợp với nét văn hoá truyền thống của mỗi vùng, nhưng tất cả đều có điểm chung là con người được tạo ra từ những điều kì bí, vô thực. Tuy nhiên không hề mất giá trị, nó vẫn có những giá trị nhất định đối với truyền thống văn hoá và tinh ngưỡng, tôn giáo của mỗi dân tộc. 

                                    “Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu

                                    Giống loài người đã có ngọn lửa của Pro te me

                                    Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề”

Có thể nói ngọn lửa, thứ vũ khí táo bạo mà thần Prô mê tê đã ban cho loài người đã mở ra một nền văn minh mới, đưa con người từ cảnh sống tối tăm, bẩn thỉu, không quy cũ ở trong các hang động nay đã biết dùng lửa để nấu chín thức ăn, xoay chuyển toàn cục diện của xã hội nguyên thuỷ. Ngọn lửa là thức quà tặng quý báu của thần linh, chính vì vậy con người luôn xem trọng ngọn lửa trong cuộc sống, không chỉ có ích trong đời sống sinh hoạt của họ mà con là thứ để chống lại những mối nguy hại xung quanh, bởi “ nó hơn hẳn bộ lông dày, hàm răng sắc, cặp móng nhọn, thân hình đồ sộ,…”, đó là vốn quý để từ bước đà này con người có thể vươn tới những đỉnh cao khác trong suốt quá trình tiến hoá và hoàn thiện bên ngoài lẫn bên trong. 

Việc ban phát cho loài người những vũ khí mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất so với muôn loài xuất phát từ sự thông thái và biết cách quan sát, thấu hiểu của các vị thần. Mà các vị thần lại do chính loài người tạo nên, có thể thấy trong bất kì hoàn cảnh nào, trí khôn lanh và tiềm năng của loài người vẫn luôn là vốn để kiến tạo nên nhiều thứ khác. Họ biết sáng tạo ra những tác phẩm thần thoại để tìm về nguồn cội của mình, họ tôn sùng các vị thần ở từng nếp tư duy vì muốn có một trật tự nhất định trong suy nghĩ. Họ muốn rằng con người đừng bao giờ tự xem mình là thứ mạnh mẽ nhất, bởi còn rất nhiều rất nhiều điều lí thú mà họ chưa thể khám phá hết. Các vị thần chính là chỗ dựa tinh thần của họ, không vì là những nhân vật hư cấu mà những câu chuyện thần linh mang giá trị tầm thường, chỉ cần con người hết lòng tin tưởng thì bất kì điều gì cũng có thể xảy ra. Việc mỗi loài trong sinh giới đều có một thứ vũ khí riêng cũng là một bài học đến từ những giá trị nhân văn cao cả, đó là sự công bằng trong cuộc sống. Thế giới này sẽ ra sao nếu mất đi sự công bằng giữa người với người, hay giữa các loài vật với loài người, tất cả sẽ chỉ là một mớ hỗn độn bất trật tự, không có trên dưới. Sẽ không có những triều đại thay phiên nhau phát triển, thịnh rồi suy, cứ thế diễn ra liên tục cho đến khi thế giới này đạt đến một tầm vĩ mô, xa và xa hơn nữa. Đó cũng chính là mong ước của loài người về hậu thế sau này, bởi sức mạnh tiềm ẩn của con người không thể nào đong đếm được, có thể sau này họ sẽ có sức mạnh và thực hiện những việc phi thường như các vị thần của mình chăng?  

 Thần thoại về Prô mê tê tạo ra loài người không chỉ mang tính li kì hấp dẫn người đọc mà còn chứa đựng nhiều giá trị và ý nghĩa nhân văn trong đời sống. Như những tác phẩm thần thoại khác, yếu tố hoang đường kì ảo là điều cốt lõi để tạo nên sức thu hút và giá trị đích thực của tác phẩm, nó giúp người đọc dễ dàng tiếp thu những ý nghĩa được truyền tải dễ dàng mà không dài dòng, xa vời. Các nhân vật như thần Prô mê tê, Ê đi tê mê, thần Mặt trời, Đất mẹ Gaia,… họ là những vì thần tối cao trong văn hoá Hy Lạp, không chỉ mang những đặc trưng văn hoá mà đó còn là tín ngưỡng của họ. Tôn sùng các vị thần trong truyền thuyết từ lâu đã là một điểm đặc trưng của người Hy Lạp, nay các câu chuyện về thần thoại được lưu truyền, phát triển và xuất hiện nhiều trong thời hiện đại chính là một sự thành công. Cốt truyện của những câu chuyện ấy thường không phức tạp, chỉ xoay quanh công lao của họ trong thế giới ma thuật,  kể về những công lao của họ đối với việc tạo nên muôn loài, đó cũng là một điểm sáng để thể loại thần thoại được kết nối với thời hiện đại hơn, nơi mà kĩ thuật số trở nên vô cùng phổ biến. So với các câu chuyện thần thoại khác như Thần Trụ trời của văn hoá Việt Nam, sự hình dung về các vị thần trong văn hoá Hy Lạp mang nét gần gũi với đời sống con người hơn, chính vì thế mà sức sống của nó thực sự lâu bền, Hy Lạp được mệnh danh là suối nguồn của các vị thần linh.

Prô mê tê và loài người đã đem đến cho chúng ta những kiến thức thú vị về cách mà con người được sinh ra cùng với các loài sinh vật khác trên trái đất, tại sao lửa lại có mặt trên đời này. Thần thoại Prô mê tê không chỉ là những tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại mà cho đến mãi sau này nó vẫn mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc, những bài học nhân văn đích thực được truyền tải vô cùng lí thú và hấp dẫn. Nếu chúng ta cứ mãi chạy theo những ham thú mới mẻ mà quên đi những giá trị truyền thống thì sẽ đánh mất đi nét đẹp trong văn hoá dân tộc.

 

10. Tự luận
1 điểm

Hãy viết một đoạn văn chia sẻ suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật.

Xem đáp án

Dàn ý Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật

a. Mở đoạn:

- Giới thiệu về truyện thần thoại.

b. Thân đoạn:

- Đặc sắc truyện thần thoại:

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

c. Kết đoạn:

- Khẳng định giá trị của truyện thần thoại đó.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 1

Trong hệ thống thần thoại Việt Nam, em vô cùng ấn tượng với truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật". Truyện kể về việc Ngọc Hoàng tạo ra các loài vật nhưng do một số yếu tố mà cơ thể của các con vật chưa được hoàn chỉnh. Để bù đắp cho những thiếu sót ấy, Ngài đã sai ba vị Thiên thần xuống núi hoàn thiện cho những con vật mang khiếm khuyết. Câu chuyện đã thể hiện cách con người thời cổ lí giải về một số đặc điểm, tập tính của loài vật. "Cuộc tu bổ lại các giống vật" có cốt truyện đơn giản, diễn biến câu chuyện được diễn ra trong không gian vũ trụ, thời gian không xác định, mang tính vĩnh hằng. Sự xuất hiện của hệ thống nhân vật Ngọc Hoàng, ba vị Thiên thần mang sức mạnh phi thường, thực hiện công việc sáng tạo, tu bổ lại các giống vật. Tính cách nhân vật chủ yếu được khắc họa qua hành động. Với những đặc sắc nghệ thuật về nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" đã cho ta thấy được cách người xưa quan sát về các hiện tượng, sự vật diễn ra xung quanh và giải thích chúng thông qua trí tưởng tượng phong phú của mình.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 2

Thần thoại là một thể loại truyện của Việt Nam mang những yếu tố huyền ảo, giải thích cho những sự vật, hiện tượng chưa có lời giải. Đặc sắc trong những truyện này cũng có thể kể đến truyện Cuộc tu bổ lại các giống vật, một truyện thần thoại giải thích về quá trình tạo ra các loài vật trên Trái đất. Câu chuyện kể về nguồn gốc ban đầu của các loài vật là do Ngọc Hoàng tạo nên, tuy nhiên bằng gì thì lại chưa nêu được rõ. Trong lúc vội vàng, Ngọc Hoàng chưa thể hoàn chỉnh được cơ thể các con vật nên đã cử 3 vị thiên thần xuống hoàn thiện lại để bù đắp những thiếu sót. Nghe được tin, các con vật tranh nhau đến để sử lại các bộ phận còn thiếu. Qua chi tiết này, người ta cũng giải thích được một số đặc điểm trong cách sống của các loài vật như chim, chó,... Câu chuyện là cái nhìn của những người xưa về các loài vật và lý giải những tập tính của chúng. Cuộc tu bổ lại các giống vật không dài, cốt truyện cũng không có quá nhiều những chi tiết huyền ảo mà thể hiện tinh thần thoại của nó ở các yếu tố thời gian, không gian và nguyên liệu không xác định. Nhân vật Ngọc Hoàng và 3 vị thiên thần chính là hiện thân của sức mạnh phi thường, là những người tạo ra và tu bổ lại các giống loài trên Trái đất. Tính cách của nhân vật không được đề cập tới, nhưng ta có thể thấy được nó qua những hành động của nhân vật. Sử dụng nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc, truyện đã cho ta thấy cái nhìn mới lạ của những người xưa về các loài vật. Cuộc tu bổ lại các giống vật đến nay vẫn được xem là một truyện thần thoại đặc sắc, là một tài liệu tốt và giúp người đọc thấy được một cách giải thích về sự hình thành muôn loài rất sáng tạo.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 3

Thần thoại là một thể loại truyện rất đặc sắc, có chứa nhiều yếu tố kỳ ảo và được sử dụng để giải thích về nguồn gốc của người hay việc. Trong nền văn học Việt Nam có rất nhiều thần thoại ra đời nhằm giải thích sự hình thành đất trời, con người, lúa nước,... Truyện thần thoại Cuộc tu bổ lại các giống vật lại cho người đọc thấy được nguồn gốc hình thành nên những loài vật trên trái đất ngày nay. Theo như trong truyện, ban đầu Ngọc Hoàng tạo thành các loại động vật trên trái đất, nhưng do thời gian không kịp nên chưa thể hoàn thiện được các bộ phận của chúng. Để sửa chữa sai lầm này, người cử 3 vị thiên thần xuống mặt đất để giúp các loài vật. Khung cảnh ấy được tác giả miêu tả rất sáng tạo khi sử dụng đến những vật dụng như chân nhang, chân ghế. Tuy nhiên, nhờ những chi tiết đó người đọc mới hiểu được một số tập tính hiện nay của các loài vật như “hai giống vật này khi ngủ đều giơ một cẳng lên trên không.” hay “các loài chim vẫn giữ thói quen chơi với ba lần để thử đặt chân trước khi đậu”. Đây chính là những tập tính trong hiện thực của các loài kể trên, nhờ câu chuyện này người đọc có thể tìm hiểu được nguyên nhân của nó. Những nhân vật như Ngọc Hoàng và các vị thiên thần trong truyện thể hiện sức mạnh của mình, là cách khéo léo để những người xưa thể hiện được ước mơ chinh phục và tôn sùng những sức mạnh mạnh mẽ ấy. Truyện có nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc, cốt truyện đơn giản đã giúp người đọc hiểu nhanh về chủ đề và nội dung tác giả muốn truyền đạt. Cuộc tu bổ lại các giống vật giúp chúng ta hiểu về nguồn gốc các loài vật và sự hình thành những tập tính của chúng.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 4

Với mỗi vùng văn hóa khác nhau, dân gian lại có cách lý giải về nguồn gốc của muôn ngàn vạn vật khác nhau. Tuy nhiên, các sáng tạo ấy vẫn gặp nhau tại một điểm tương đồng nào đó. Nếu như bạn bắt gặp vị thần lơ đễnh, đãng trí Ê-pi-mê-tê trong "Prô-mê-tê và loài người" của thần thoại Hy Lạp thì khi đến với "Cuộc tu bổ lại các giống vật" của thần thoại Việt Nam, các bạn sẽ lại thấy sự hấp tấp, vội vã của Ngọc Hoàng. Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" được sưu tầm và in trong "Lược khảo về thần thoại Việt Nam" là truyện có chủ đề gần gũi với con người và hình thức nghệ thuật độc đáo.

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" kể về việc Ngọc Hoàng tạo ra các loài vật nhưng cơ thể chúng lại không hoàn chỉnh. Để khắc phục những thiếu sót ấy, ngài đã phái ba vị Thiên thần xuống trần gian để tu bổ lại các loài vật. Qua câu chuyện, ta thấy được cách lý giải sáng tạo của con người về những đặc tính, tập quán của loài vật. Quá trình tu bổ lại các giống vật của Ngọc Hoàng được diễn ra vào lúc sơ khai. Khi ấy, thế giới còn chưa được tạo lập nên Ngọc Hoàng luôn mong muốn "có một thế giới ngay" Trước khi sáng tạo ra con người, ngài đã nặn ra vạn vật nhưng do thiếu nguyên liệu và vội vàng muốn tạo ra thế giới ngay lập tức nên nhiều con vật không có đủ bộ phận trên cơ thể như ngày nay. Để có thể bù đắp những thiếu sót ấy, Ngọc Hoàng phái ba vị Thiên thần mang theo các nguyên liệu xuống núi để thực hiện công việc tu bổ, bù đắp cho những con vật có cơ thể chưa đầy đủ. Ba vị Thiên thần với những cố gắng đã giúp cho loài vật có được những bộ phận còn thiếu. Trong thời gian tu bổ ấy, vì vịt, chó và chim đến muộn nên ba vị Thiên thần có tấm lòng tốt bụng đã lấy chân ghế chắp cho vịt và chó, chân hương gắn cho chim. Thế là các con vật đều có đủ các bộ phận như chúng mong muốn. Tuy nhiên, câu chuyện không đơn thuần kể về quá trình bù đắp các khiếm khuyết mà còn là những quan sát tỉ mỉ về đặc điểm, tập tính của con vật. Con người thời cổ đã phát hiện ra những điều lí thú gắn với đặc điểm cơ thể mỗi loài nên mong muốn có một đáp án chính xác. Vì thế, bằng trí tưởng tượng của mình, họ sáng tạo nên câu chuyện gắn liền với chân sau của chó, chân còn thiếu của vịt và thói quen chới với ba lần để thử đặt chân trước khi đậu của các loài chim. Như vậy, chủ đề của tác phẩm đã trở nên gần gũi hơn với con người khi xoay quanh các sự vật gắn liền đời sống hàng ngày.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 5

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" không chỉ là sự lý giải của con người về sự hình thành của các con vật mà truyện còn là bài học về sự hấp tấp vội, vội vàng và sự thích nghi với cuộc sống. Ngọc Hoàng vì vội vàng muốn tạo ra thế giới cho nên khi nặn ra các loài vật thì lại có những loài thiếu đi một bộ phận nào đó trên cơ thể. Cho nên, trong cuộc sống chúng ta cần phải suy nghĩ kĩ càng, lên kế hoạch, mục tiêu cụ thể trước khi hành động để tránh gặp phải những sai lầm không đáng có. Bên cạnh đó, việc làm của ba vị Thiên thần còn giúp chúng ta học được sự bao dung và vị tha cùng tấm lòng nhân hậu khi vịt, chó và chim đến muộn nhưng ba vị thần vẫn cố gắng hết mực để giúp đỡ chúng để chúng có một cuộc sống tốt hơn.

Một trong những điểm đặc sắc tạo nên sự thành công của truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" đó chính là ở cách xây dựng cốt truyện và vận dụng các yếu tố hư cấu, kì ảo vào trong truyện. Truyện có cốt truyện đơn giản, gần gũi với đời sống con người Việt Nam bởi nội dung xoay quanh các con vật thường thấy trong cuộc sống như vịt, chó,... Truyện đã lý giải các đặc tính, tập quán của các con vật này một cách thú vị và hấp dẫn qua các yếu tố kì ảo. Yếu tố hư cấu kì ảo cùng ngôn ngữ giản dị được thể hiện ở việc ba vị Thiên thần dùng chân ghế để chắp cho vịt và chó, chân hương để gắn cho chim khiến câu chuyện trở nên hài hước hơn. Đây là cách lý giải đầy hóm hỉnh, tạo tiếng cười cho người đọc. Bên cạnh đó, cách xây dựng nhân vật cũng tạo nên đặc sắc cho truyện và đóng góp thành công trong việc làm nổi bật chủ đề. Ngọc Hoàng - vị thần có sức mạnh siêu nhiên khi có thể tạo ra muôn loài nhưng lại có nét tính cách tương đồng với con người. Vì tính nóng vội khi "muốn có một thế giới ngay trong một sớm một chiều" nên các loài vật mà Ngọc Hoàng nặn ra đã bị thiếu một bộ phận nào đó trên cơ thể.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 6

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" mang đậm dấu ấn của truyện dân gian cùng với những yếu tố hư cấu, kì ảo, ngôn từ giản dị đã giải thích về các đặc điểm, tập tính của các con vật quen thuộc với chúng ta. Qua câu chuyện, chúng ta hiểu biết hơn về trí tuệ và trí tưởng tượng phong phú của dân gian xưa.

ất cả mọi sinh thể trên đời này từ khi sinh ra đã không hề được toàn thiện và hoàn mĩ , tất cả đều phải trải qua quá trình thích nghi với những điều kiện xung quanh để dần đạt đươc hình thái thích hợp nhất. Từ loài người, cho đến các loài vật, kể từ lúc xuất hiện trên mặt đất họ chưa thể có những đặc điểm về bề ngoài và lối tư duy hiện đại như vậy, con người thuở ban sơ chỉ là loài vượn cổ, các loài vật cũng như vậy, nó mang hình thái chưa được hoàn thiện của tổ tiên chúng, đó là theo cách hiểu của khoa học hiện đại. Vậy thì từ xa xưa, con người, loài có nền văn mình sớm nhất, họ cũng có những nhu cầu về vấn đề tìm hiểu chuyển biến của các loại sinh vật, của chính họ, những người Việt cổ đại quan niệm như thế nào về chuyện này ? Người Việt cổ đại sáng tạo ra những câu chuyện thần thoại li kì để giải thích cho nguồn gốc của các hiện tượng xung quanh mình, họ tin những gì có mặt trên đời này, cách thức hoạt động của nó ra sao đều dựa vào một tay của các vị thần tiên ở trên trời làm nên. Những câu chuyện về các vị thần ấy được lưu giữ bằng cách truyền miệng trong nhiều tác phẩm thần thoại kì ảo, nhưng nó vẫn có những điểm đáng suy nghĩ bởi có liên quan thực tế đến biểu hiện của các hiện tượng trong cuộc sống thực. Thần thoại liên quan đến những điều thật trong đời sống, chính vì vậy chiếm được lòng tin của người xưa, họ tin vào thần thánh, dần dần trở thành tín ngưỡng trong lòng. Thần thoại “Cuộc tu bổ lại các giống vật” là một trong những truyện kể về quá trình hoàn thiện của các loại sinh vật trong quá trình thích nghi với điều kiện sống, không chỉ đem lại những kiến thức thú vị mà nó còn giải thích những hiện tượng mà những thứ khác khó lòng mang được màu sắc ấy. 

                          Đoạn văn suy nghĩ về truyện Cuộc tu bổ các loài giống vật - mẫu 7

Thần thoại là các câu chuyện kể về các vị thần, những công lao của họ trong quá trình sáng tạo nên thế giới, được con người tin tưởng và nhớ ơn, bởi vậy các vị thần ấy trở thành những điều thiêng liêng trong suy nghĩ của loài người. Thần thánh là những người có quyền năng, có sức mạnh phi thường tạo nên những điều không tưởng, được sinh ra từ những câu chuyện đời thường của con người, chính vì vậy họ tượng trưng cho lí tưởng và ước mơ của loài người. Việc tạo nên những tác phẩm thần thoại để giải thích cho các hiện tượng đời sống xuất phát từ sự ham học hỏi, tìm tòi và sáng tạo của người Việt cổ đại, họ muốn thấu hiểu và tường tận những điều đang xảy ra xung quanh mình, những kiến thức mà họ tạo ra đã một phần nào thể hiện được sự sáng tạo trong nếp nghĩ, làm cho nền văn minh của người xưa trở nên phong phú và đồ sộ hơn. Điều đặc biệt làm nên nét kì bí và lôi cuốn người đọc của thế loại này là mô tuýp nhân vật được thần thánh hoá, không gian và thời gian thuở xa xưa, cốt truyện biến hoá theo lối hoang đường kì ảo, và cuối cùng là những thông điệp được gửi gắm một cách dễ hiểu với thế giới này. Những vị thần trong truyện thần thoại không chỉ có sức mạnh kì diệu một tay tạo ra thế giới này mà còn là người đồng hành trong suốt chặng đường tiến hoá và tồn tại của các loài sinh vật, kể cả con người. Trong thần thoại “Cuộc tu bổ của các giống vật” các vị thần được lệnh của Ngọc Hoàng đã tiến hành bổ sung những bộ phận còn thiếu để hoàn thiện cho những loài vật ở trần gian. Truyện đã giải thích quá trình tu bổ lại các giống vật, bù đắp những phần cơ thể còn thiếu để chúng có hình dạng giống ngày nay. Qua câu chuyện hấp dẫn ấy là những bài học về sự công bằng và nét kì thú trong cuộc trò chuyện giữa thần và vật. 

                      Thuở xa xưa ấy trước khi loài người được tạo ra Ngọc Hoàng đã tạo ra các giống vật trước, nhưng vì nóng lòng muốn có một thế giới nên đã không cẩn thận, chính vì sự qua loa ấy của Ngọc Hoàng mà những loài vật do ông tạo ra có một số loài chưa được hoàn thiện về thân thể, có loài thì thiếu mất đi đôi cánh, có loài thì mất đi cả đôi chân,… Chính vì vậy vào một ngày nọ Ngọc Hoàng đã sai ba vị Thiên thần hạ phàm và đem theo các nguyên liệu để tiến hành bổ sung và hoàn thiện quá trình tạo ra các loài vật đang còn dang dở của Ngọc Hoàng. Khi biết tin như vậy tất cả các con vật đều đổ xô tới để xin được các vị thần giúp đỡ, ai ai cũng đều có phần. Các loài vật đã hoàn thành xong tâm nguyện cũng là lúc nguyên liệu vừa hết, lúc ấy chó và vịt đến để nài nỉ các vị thần ban thêm chó chúng một cái chân, dù đã hết nguyên liệu những các vị thần vẫn giúp chúng bằng cách bẻ một chân cái ghế chắp vào cho chúng, con chó từ ba chấn biến thành bốn chân, con vịt một chân nay hoá thành hai, bọn chúng mừng lắm. Nhưng thần dặn dò khi ngủ đừng để chân ấy xuống đất kẻo lâu ngày ngấm bùn nước bị mục ruỗng, thế là mãi cho đến ngày nay chó và vịt khi ngủ cả hai loài ấy đều có một chân giơ lên trời. Thật là lí thú phải không các bạn, câu chuyện trên đã đem đến cho ta một kiến thức dân gian vô cùng thú vị. Trong khi nhiều lĩnh vực ngày nay để đi tìm câu trả lời cho câu trả lời này, ai cũng đều có những lí lẽ riêng của mình, câu chuyện thần thoại trên cũng là một cách hiểu, mặc dầu theo hướng hoang đường những cũng khá hợp tình hợp lí theo cách tưởng tượng của người xưa. Dù không bám sát thực tế nhưng những lí lẽ ấy tượng trưng cho sự sáng tạo và tò mò trong nhận thức và cách học hỏi của người xưa, nó vẫn mang những giá trị tinh thần mà không phải một câu trả lời khoa học nào cũng có thể thay thế được.

 

Sau khi vịt và chó trở về, một đám chim lại kéo đến, có cả chiền chiện, đỏ nách , ốc cau,… bọn chúng cùng nhau kéo đến để xin các vị thần giúp đỡ. Vì quá vội vàng trong việc tạo ra các giống loài nên cả ba loài chim này đều thiếu đi cả hai cái chân. Dù vậy thần vẫn không chịu giúp đỡ vì đã hết nguyên liệu, bọn chúng lấy cớ nghe tin các vị thần hạ phàm trễ và vì không có chân nên đi đến đây rất lâu. Một trong só các vị thần cảm thấy thương tình nên bèn bẻ một nhúm tăm hương làm cho chúng cặp chân, nhưng lại bị bọn chúng chê yếu ớt, không làm được gì. Các vị thần khuyên chúng bao giờ muốn đậu ở đâu đó thì chịu khó thử đặt chân xuống xem có vững không rồi đầu. Thế là từ đó các loài chim ấy có tập tính chới với ba lần trước khi muốn đậu ở đâu đó. Cũng giống như mẫu chuyện của Vịt và chó, việc các vị thần ban cho chúng những bộ phận trên cơ thể để chúng có thể dùng trong cuộc sống của mình đã giải thích cho những tập tính của các loài trong cuộc sống đời thường. 

 

                     Qua những mẫu chuyện ấy, ta có thể ngầm hiểu được cách mà người xưa sáng tạo ra những câu chuyện hoang đường để giải thích các hiện tượng đời sống cho con cháu họ không chỉ mang những giá trị đơn thuần mà chứa đựng nhiều bài học bổ ích. Mỗi một loài vật đều được sửa sang lại cho phù hợp với điều kiện sống, ai ai cũng đều có phần, đó là bài học về sự công bằng trong cuộc sống này. Người xưa muốn cho con cháu họ biết công bằng là một điều tất yếu trong cuộc sống, con người hay loài vật, ai cũng có một giá trị riêng. Đã tồn tại trên thế giới này đều phải có trách nhiệm đối với nó. Những câu chuyện thần thoại luôn truyền tải các bài học bổ ích một cách dễ hiểu, không trừu tượng, để người đọc có thể tiếp thu trong quá trình thưởng thức.  Ta thấy Thần thoại không chỉ đơn thuần là những chuỗi các sự kiện hoang đường, mà nó còn chưa đựng nhiều thông điệp nhân văn cao cả. Chỉ những tác phẩm văn học mang giá trị nhân bản mới tồn tại và phát triển đến ngày nay.

 

                     Câu chuyện thần thoại về việc tu bổ lại các giống vật đã mở mang cho ta những thông tin lí thú để trả lời cho các tập tính của loài vật hiện nay, tại sao chó và vịt khi ngủ lại giơ một chân lên trời, tại sao các loài chim nước lại có cặp chân mảnh khảnh và chới với trước khi chạm đất. Bên cạnh nội dung truyền tài không thể thiếu những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm. Cốt truyện biến hoá kì ảo với những yếu tố siêu thực đã mở ra trong trí tưởng tượng người đọc một thế giới nhiệm màu, ở đó các con vật có thể nói chuyện, các vị thần tiên hạ phàm giúp đỡ mọi sinh vật, đó là những điểm thú vị thu hút người đọc. Những yếu tố không có thật ấy dù đi ngược lại với các quan điểm hiện đại nhưng nó vẫn có những giá trị nhất định trong nếp văn hoá người Việt ta, ởi dân gian là nơi bắt nguồn của mọi tri thức trên cõi đời này, dù đúng hoặc phi thực tế. Bên cạnh đó các nhân vật không có trên thực tế được thể hiện một các vô cùng sinh động, nào là Ngọc Hoàng, nào là các loài động vật có thể nói chuyện giống như on người, tất cả đã tạo nên một thế giới diệu kì, ở đó không có những mặt tiêu cực của xã hội mà chỉ chứa những điều tốt đẹp, nhân văn, và các bài học về lẽ sống quý giá. Các nhân vật ấy càng ngày càng gắn kết với đời sống tinh thần của con người hơn, xuất hiện trong các hoạt động văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, bổ sung sự đa dạng trong nền văn hoá xứ sở lâu đời. Đất Việt ta tồn tại với truyền thống tôn thờ thần linh, tin vào những việc mà họ tác động đến đời sống thực, chính vì vậy nững câu chuyện thần thoại như vậy chưa bao giờ bị phai nhoà, bởi những thứ quý giá mà nó mang lại đối với tinh hoa truyền thống Việt Nam. 

                      Chuyện Thần thoại về “Cuộc tu bổ lại các giống vật” đã mang đến cho bạn đọc nhiều kiến thức hay và hấp dẫn về những thói quen tập tính của các loaì vật bắt nguồn từ đâu. Những yếu tố siêu thực được gây dựng trong tác phẩm đã góp phần làm cho những ý nghĩa nhân văn bộc lộ ra một cách dễ hiểu, đó là sự công bằng trong cuộc sống. Người xưa không chỉ sáng tạo ra các tác phẩm thần thoại chỉ để ca ngợi các vị thần và giải thích các hiện tượng, mà qua đó còn thể hiện chức năng giáo dục của văn học nghệ thuật. Dù ở trong bất kì khoảng thời gian nào, đã được gọi là văn học nghệ thuật thì những sản phẩm ấy không chỉ hay về nội dung hình thức mà còn phải có những ý nghĩa sâu xa. Đó chính là điều cốt lõi để thể loại này được tồn tại và ngày càng đến gần với cuộc sống hiện đại hơn.

 

11. Tự luận
1 điểm

Hãy viết một đoạn văn chia sẻ suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất.

Xem đáp án

Dàn ý Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất

a. Mở đoạn:

- Giới thiệu về truyện thần thoại.

b. Thân đoạn:

- Đặc sắc truyện thần thoại:

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

c. Kết đoạn:

- Khẳng định giá trị của truyện thần thoại đó.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 1

Có lẽ, những bí ẩn về thiên nhiên vẫn là một câu hỏi lớn đối với con người thời cổ. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo nên các câu chuyện để trả lời cho những thắc mắc của bản thân. Đọc truyện "Thần Trụ trời", ta thấy được cách phân chia bầu trời và mặt đất. Đọc "Prô-mê-tê và loài người", ta được giải đáp về cách các vị thần tạo ra muôn vật và loài người. Không giống hai tác phẩm trên, truyện "Đi san mặt đất" lại là những lí giải đơn giản về quá trình loài người chung lòng, góp sức san phẳng mặt đất để làm ăn mà không có sự xuất hiện của các vị thần. Bên cạnh đó, truyện còn sử dụng biện pháp nhân hóa cùng với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Các con vật được nhân hóa có những cử chỉ giống con người đã giúp cho truyện trở nên sinh động hơn. Người Lô Lô xưa đã sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị giúp cho bạn đọc ở mọi lứa tuổi dễ dàng tiếp nhận truyện. "Đi san mặt đất" là một trong những truyện thần thoại đặc sắc của người Lô Lô. Truyện đã thể hiện những lí giải nguyên sơ của người xưa về vũ trụ, về thế giới qua thể thơ năm chữ kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Qua câu chuyện, ta càng thêm ấn tượng với trí tưởng tượng của người xưa trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa dân gian.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 2

Có lẽ, những bí ẩn về thiên nhiên vẫn là một câu hỏi lớn đối với con người thời cổ. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo nên các câu chuyện để trả lời cho những thắc mắc của bản thân. Đọc truyện "Đi san mặt đất", ta thấy được cách phân chia bầu trời và mặt đất. Đọc "Prô-mê-tê và loài người", ta được giải đáp về cách các vị thần tạo ra muôn vật và loài người. Không giống hai tác phẩm trên, truyện "Đi san mặt đất" lại là những lí giải đơn giản về quá trình loài người chung lòng, góp sức san phẳng mặt đất để làm ăn mà không có sự xuất hiện của các vị thần. Truyện gây ấn tượng bởi những đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 3

Truyện "Đi san mặt đất" có chủ đề viết về quá trình khai hoang và cải tạo tự nhiên của người Lô lô xưa, quá trình này cần có sự giúp sức của tất cả mọi người lúc bấy giờ. Người Lô Lô xưa đã có những nhận thức khá nguyên sơ, đơn giả về thế giới vũ trụ, đồng thời họ cũng có ý thức trong việc cải tạo thế giới sống quanh mình Khi Trái Đất vẫn còn hoang sơ thì người xưa đã cùng nhau đi trình khai hoang và cải tạo tự nhiên. Đó là thời gian không thể xác định, mà người cổ xưa chỉ biết là:

"Ngày xưa, từ rất xưa...
Người già không nhớ nổi
Mấy năm mấy nghìn đời
Ngày xưa từ rất xưa...
Người trẻ không biết tới
Mấy nghìn, mấy vạn năm"

Mốc thời gian không cụ thể khiến chúng ta không thể biết chính xác đó là thời điểm nào. Khoảng thời gian ấy xưa đến mức người già cũng không thể nhớ nổi, người trẻ thì lại chẳng thể biết tới. Và cuộc sống con người lúc bấy lại thật đơn giản. Trước khi đi san mặt đất, con người vẫn sống chung, ở chung và ăn chung với nhau. Người Lô Lô xưa đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên để trồng bắp, lấy nước uống từ "bụng đá" "Trồng bắp trên núi cao/ Uống nước từ bụng đá". Tuy nhiên, sống trong không gian hoang sơ, thiếu thốn khi "Bầu trời nhìn chưa phẳng/ Mặt đất còn nhấp nhô" nên con người thời cổ đã khẩn trương cùng nhau đi tái tạo thế giới.

Để có thể san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời thì người Lô Lô đã biết tận dụng sức mạnh của các loài vật xung quanh lúc bấy giờ:

"Kiếm con trâu sừng cong
Chọn con trâu sừng dài"

Họ kiếm những con trâu sừng phải cong, phải dài vì đây là những con trâu khỏe, trâu tốt. Chúng đi cày bừa san đất mà không quản gì mệt nhọc. Có sức giúp đỡ của chúng thì công cuộc cải tạo mặt đất của người Lô Lô xưa chẳng mấy chốc mà thành. Thế nhưng công việc san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời là công việc chung của muôn loài nên con người đã đi chuột chũi cóc, ếch. Đáp lại lời kêu gọi của người Lô Lô xưa, các con vật đều tìm cớ trốn tránh, thoái thác. Không thể trông cậy vào chúng, con người đã tập hợp sức mạnh của nhau để cải tạo thiên nhiên "Giống nào cũng không đi/ Người gọi nhau làm lấy". Truyện "Đi san mặt đất" của người Lô Lô không chỉ đơn thuần là lời lí giải về sự bằng phẳng của mặt đất và bầu trời mà còn phản ánh nhận thức của người Lô Lô xưa về quá trình tạo lập thế giới. Theo cách lí giải của họ, để có được mặt đất, bầu trời bằng phẳng như ngày nay thì người Lô Lô xưa đã phải đi san mặt đất. Con người đã tự biết tập hợp sức mạnh của cộng đồng để chung tay thực hiện công việc. Và qua đây, ta thấy được con người trong buổi sơ khai đã có ý thức trong việc cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của chính mình.

Không chỉ độc đáo ở chủ đề, truyện "Đi san mặt đất" còn có những đặc sắc ở khía cạnh nghệ thuật. Người Lô Lô xưa đã sáng tạo truyện thần thoại bằng hình thức thơ ca với giọng điệu vui tươi, nhí nhảnh tạo cảm giác thích thú cho người đọc.

Bên canh đó, truyện còn sử dụng biện pháp nhân hóa cùng với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Các con vật được nhân hóa có những cử chỉ giống con người đã giúp cho truyện trở nên sinh động hơn. Người Lô Lô xưa đã sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị giúp cho bạn đọc ở mọi lứa tuổi dễ dàng tiếp nhận truyện.

"Đi san mặt đất" là một trong những truyện thần thoại đặc sắc của người Lô Lô. Truyện đã thể hiện những lí giải nguyên sơ của người xưa về vũ trụ, về thế giới qua thể thơ năm chữ kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Qua câu chuyện, ta càng thêm ấn tượng với trí tưởng tượng của người xưa trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa dân gian.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 4

Quá trình phát triển của con người rất dài, không thể kể ra trong thời gian ngắn được. Nó gồm rất nhiều thời kì, mỗi thời kì lại đều chứa đựng sự tiến hóa của con người. Từ những ngày ăn lông ở lỗ, đến thời kì cả kinh tế và xã hội đều phát triển như hiện tại. Con người vận dụng trí tưởng tượng để kể lại câu chuyện khai phá đất đai qua các câu truyện truyền thuyết. Đi san mặt đất có những luận điểm đơn giản, kể về cuộc sống của lớp người quá khứ. 

Truyện Đi san mặt đất kể về quá trình khai khẩn đất hoang của con người lúc bấy giờ. Mọi người khi đó vẫn cùng cùng lao động, cùng chung sức để khám phá những miền đất mới. Người Lô Lô có những nhận định đơn sơ về quá trình tiến hóa ấy. Theo họ, khi trái đất vẫn còn là hình thái sơ khai, con người chỉ cần hợp sức đi khai hoang và cải tạo lại để sống. Họ cũng không thể xác định thời gian chính xác quá trình bắt bắt đầu từ khi nào, chỉ biết rằng “từ rất xưa”.

"Ngày xưa, từ rất xưa...

Người già không nhớ nổi

Mấy năm mấy nghìn đời

Ngày xưa từ rất xưa...

Người trẻ không biết tới

Mấy nghìn, mấy vạn năm"

Những cụm từ “ngày xưa, rất xưa, mấy nghìn năm, nghìn đời” khiến cho người đọc liên hệ về một khoảng thời gian xa xôi mù mịt. Tuy nhiên, ngày ấy con người lại có sự đoàn kết và tình người mà bây giờ chúng ta phải ngưỡng mộ. Họ ăn chung, sống chung, cùng nhau làm việc để khiến cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Người Lô Lô xưa đã biết cách trồng trọt trên nùi cao, uống nước từ bụng đá. Không bỏ cuộc trước hành trình đầy những khó khăn, họ đã từ những “chưa bằng phẳng, nhấp nhô” tạo nên một thiên sử mới.

Theo thời gian, họ cũng biết cách mượn sức của loài vật để thay thế sức lao động của con người. Cũng từ đó, người xưa đã đúc kết được những kinh nghiệm sống và lao động quý giá. Hình ảnh những loài vật khác ở đây cũng được nhắc tới. Đúng như lịch sử, những loài động vật như chuột, ếch không tham gia vào quá trình phát triển của thế giới, vậy nên nền văn minh loài người mới phát triển vượt bậc như hiện tại. Tuy nhiên, hình ảnh đó cũng đã cho thấy người xưa đã biết cách kêu gọi sự trợ giúp từ thiên nhiên.

Người Lô Lô đã dựa vào sức người, không có trợ giúp từ máy móc hoặc loài vật mà có thể san bằng mặt đất. Ta thấy được sức mạnh và tiềm lực vô hạn của con người. Đây chính là một trong những nét đặc sắc của truyện. Về mặt nghệ thuật, truyện khá thú vị và mới lạ khi truyền thuyết không được kể dưới dạng văn xuôi, mà là thơ. Điều này khiến cho người đọc thấy hứng thú và mới lạ hơn. 

Giọng điệu được người Lô Lô sử dụng rất vui tươi, không hề mang nhiều đặc điểm của những ngày lao động vất vả bấy giờ. Có lẽ đối với họ, công việc này là công cuộc chinh phục tự nhiên đầy thành tựu. Với nghệ thuật điệp từ một cách khéo léo, câu chuyện cũng đưa người đọc trở về khoảng thời gian xa xôi, trong khoảng không ấy hình ảnh những người Lô Lô đầy phi thường. Phép nhân hóa những loài vật cũng khiến câu truyện trở nên gần gũi, bình dị hơn. Bởi ngôn từ đơn giản và lại nhiều màu sắc, câu chuyện có thể dễ dàng tiếp cận nhiều lứa tuổi người đọc khác nhau.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 5

Trong khi Prô-mê-tê và loài người nói về nguồn gốc tạo nên con người, truyện Đi san mặt đất lại là hành trình con người mở rộng đất đai để phát triển cuộc sống. Nhờ những biện pháp nghệ thuật, người đọc dễ dàng hình dung được quá trình khó khăn ấy. Đến bây giờ khi đọc lại, ta cũng phải thốt lên lời khen ngợi với những người xưa, không chỉ về sức mạnh mà còn về những nét văn hóa nghệ thuật vô cùng đặc sắc.

Đoạn văn suy nghĩ về truyện Đi san mặt đất - mẫu 6

Kho tàng văn học sẽ thật sự thiếu sót nếu vắng đi những câu chuyện thần thoại kì ảo và đầy tính lí thú. Trải qua hàng triệu năm thịnh suy của thế gian, những đồn thổi về thần trụ trời vẫn luôn là nhiều bí ẩn và bất kì ai cũng muốn tường tận về vị thần có công khai mở trời đất này. Từ thuở trời đất hoà làm một, vũ trụ chỉ là một cái hố đen ngòm và hỗn độn, vạn vật chưa sinh sôi nãy nở, xung quanh chỉ là một màu đen kịt. Lúc ấy có một vị thần cao to, đầu đội trời, chân đạp đất, bước một bước có thể đi từ vùng này đến vùng khác, người ta vẫn tương truyền ông là thần trụ trời. Ông có công xây cột chống trời, đến khi trời khô, cái cột ấy được phá đi, những mãnh vỡ văng ra tạo thành núi, gò đồi, … Mặt đất vuông vắn, trời như cái bát úp, nơi giao nhau là đường chân trời. Đó chỉ là những lời lưu truyền về vị thần này, nhưng những kiến thức đó lại mang dấu ấn về sự hiểu biết của người cổ đại về sự hành thành thế giới xung quanh, về lịch sử hình thành đất trời, là những kiến thức ban đầu để tạo nên các tư tưởng trong hành trình đi về cội nguồn  của loài người.

12. Tự luận
1 điểm

Hãy viết một đoạn văn chia sẻ suy nghĩ về truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. (10 mẫu)

Xem đáp án

Mẫu 1

Mỗi câu chuyện của ông cha ta để lại dù ngắn hay dài đều là cả quá trình tích lũy kinh nghiệm và sáng tạo. Trong các câu truyện ông cha ta để lại em thích và nhớ nhất là truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Câu chuyện ca ngợi công lao dựng nước của vua Hùng. Ông cha ta mượn cuộc chiến của Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích hiện tượng lũ lụt xảy ra hàng năm và ước mơ muốn chế ngự thiên tai.

Bằng khả năng sáng tạo của mình ông cha ta đã sáng tạo truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh lịch sử hóa thần thoại về núi Tản Viên thành truyện truyền Thuyết. Câu chuyện được khéo léo gắn vào thời đại vua Hùng thứ mười tám, đây là một trong những truyện nằm trong kho tàng những câu chuyện về Hùng Vương.  Ở nước ta từ xưa đến nay luôn luôn phải đối mặt với các trận lũ lụt gây hậu quả và người và tài sản. Người Việt cổ luôn giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên đều liên quan đến các vị thần như thần núi, thần nước, thần gió,…. Nên có thể khi phải đối mặt với các trận lũ lụt thì người Việt cổ nghĩ đến có việc khiến thủy thần hàng năm nổi giận. Họ đã sáng tạo ra truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích nguyên nhân dẫn đến các trận luc lụt hằng năm và qua truyện hộ thể hiện ước muốn chế ngự thiên tai.

Câu chuyện được bắt đầu rất độc đáo, đó chính là việc vua Hùng thứ mười tám muốn kén rể cho con gái. Con gái của vua Hùng tên là Mị Nương là cô gái đẹp người, đẹp nết được vua Hùng yêu thương hết mực nên muốn tìm cho con một người chồng tài giỏi, xứng đáng.

Khởi đầu là cuộc tranh tài bất phân thắng bại của Sơn Tinh và Thủy Tinh. Người Việt cổ dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình để sáng tạo nên hình tượng vĩ đại của hai chàng trai đến cầu hôn. Phần giới thiệu rất ngắn gọn những thể hiện tài năng hơn người và ngang tài ngang sức của hai chàng trai. Một người thì “vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn cát; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên tường dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh.” Người còn lại thì “tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến: gọi mưa, mưa về. Người ta gọi chàng là Thủy Tinh.” Một người trên núi, một người dưới biển mà ngang sức ngang tài kiến cho vua Hùng không biến chọn ai bèn cho mời các lạc hầu bàn bạc đưa ra quyết định nếu ai mang đầy đủ lễ vật đến trước thì người đó sẽ đón được Mị Nương về làm vợ.

Khi đọc đến phần lễ vật em cảm thấy vua Hùng hình như nghiêng về bên Sơn Tinh có thể lễ vật chỉ là cách mà vua Hùng nghĩ ra. Lễ vật gồm “Một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.” Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao là chỉ sống ở vùng núi. Còn cơm nếp và bánh chưng dều là các sản phẩm nông nghiệp nơi vùng đất Sơn Tinh cai quản. Người Việt cổ dùng trí tưởng tượng ra những món lễ vật phi thường voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao bên cạnh đó là những sản vật gần gũi và quan trọng đối với họ là các món ăn từ lúa gạo. Vì vậy, có lẽ đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến chiến thắng của Sơn Tinh đến sớm đón được Mị Nương.

Có thể các lễ vật ở vùng núi nên Thủy Tinh mất nhiều thời gian đi tìm hơn nên mang lễ vật đến muộn hơn Sơn Tinh. Vì vậy, khi Thủy Tinh đến nơi thì Mị Nương đã được Sơn Tinh đón về núi khiến Thủy Tinh tức giận đuổi đanh Sơn Tinh muốn cướp lại Mị Nương. Thủy tinh thể hiện hết khả năng “ Thần hô mưa, gọi gió làm thành giông bão rung chuyển cả trời đất, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh.” Thủy Tinh không để ý đến sự tức giận của mình khiến “nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.”

Sự tức giận của Thủy Tinh khiến cho muôn dân lầm than, những cánh đồng lúa làm ra ván cơm nếp, nệp bánh chưng bị dòng nước nuốt chửng. Người dân vì dòng nước mất đi ruộng vườn nơi ở, mất đi cả người thân. Đứng trước sự tức giận của Thủy Tinh, Sơn Tinh không hề nao núng “bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất ngăn chặn dòng nước lũ. Nước sông cao lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu.” Trận chiến ác liệt kéo dài mấy tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh cũng thua buộc phải rút quân. Trận đấu nhờ những chi tiết kì ảo, tưởng tượng của người Việt cố hiện lên thật vĩ đại, đây là cuộc chiến của các vị thần mang sức mạng vĩ đại. Với chiến thắng cuối cùng, Sơn Tinh như vị anh hùng đại diện cho dân tộc bảo vệ và đứng ra trị thủy bảo vệ ruộng vườn, nhà của và cuộc sống của người dân.

Năm nào cũng vậy, từ xưa đến nay, Vì lòng ghen muốn đoạt lại Mị Nương mà Thủy Tinh không tiếc gây ra thiệt hại cho người dân dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng nhờ sức mạnh, sự đoàn kết và trí thông minh dùng núi, đồi,đất ngăn nước Sơn Tinh luôn chiến thắng Thủy tinh, buộc Thủy Tinh phải rút quân. Phải chăng tài năng của Sơn tinh phải chăng chính là sáng tạo của nhân dân chống lại lũ lụt hằng năm bằng các đắp đê ngăn lũ như ngày nay được truyền lại. Nhân dân ta luôn đứng lên nghĩ cách chế ngự thiên tai và còn sáng tạo ra câu chuyện thú vị giải thích cho con cháu về nguyên nhân gây ra lũ lụt hằng năm cùng với biện pháp chống lại lũ lụt.

Đáp lại công ơn các vua Hùng dựng nước và các bài học của người Việt cổ để lại, chúng ta ngày nay đã xây dựng được các bờ đê vững  chắc đặc biệt là chúng ta đã chinh phục được dòng nước để xây dựng đập thủy điện phục vụ cho cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta lại tự phá hủy đi tuyến phòng ngự của thấn núi là các cánh rừng phòng hộ ngăn lũ lụt. Vậy nên, dù có kế thừa và phát huy sáng tạo của người Việt cổ mà chúng ta không giữ gìn và bảo vệ rừng cùng chung sức với thần núi thì sẽ có lúc Thủy Tinh sẽ giành chiến thắng.

Mẫu 2

Từ năm lớp hai, em đã được nghe thầy giáo kể truyện “Sơn Tinh Thủy Tinh”. Thế mà năm học lớp sáu, được nghe cô giáo giảng lại truyện ấy trong giờ giảng văn, em vẫn theo dõi hứng thú vô cùng. Truyện cổ dân gian này tuy là một truyện thần thoại nhưng cũng phản ánh ước mơ chiến thắng bão lụt của cha ông ta ngày xưa.

Truyện kể về Vua Hùng thứ 18 có một người con gái tên là Mị Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Nhà vua rất mực yêu thương con nên muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai tuân tú đến xin ra mắt Vua đề cầu hôn. Một người tên Sơn Tinh ở núi Ba Vì khôi ngô, tài giỏi có thể chuyển cả núi non, dời cả đồng ruộng. Một người tên là Thủy Tinh ở tận biển Đông có tài gọi gió hô mưa. Vua Hùng lúc bấy giờ băn khoăn chẳng biết nên gả Mị Nương cho ai nên ra điều kiện: “Ngày mai ai đem lễ vật tới đây trước: một trăm ván cơm nếp hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi thì được rước dâu về”.

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đem đủ lễ vật đến trước và được rước vợ về. Thủy Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận đuổi theo Sơn Tinh để giành lại Mị Nương. Hai bên đều dốc hết phép thuật đánh nhau dữ dội. Cuối cùng Thủy Tinh thua. Thế nhưng hàng năm, anh cưới vợ hụt này vẫn đem quân lên đánh Sơn Tinh để phục hận nhưng năm nào cũng thất bại:

Núi cao sông cũng còn dài

Năm năm báo oán đời đời đánh ghen

Đọc hay nghe kể chuyện Sơn Tinh xong, hẳn ai cùng thích thú với chi tiết các lễ vật mà Sơn Tinh đã đưa đến để hỏi cưới Mị Nương. Đó “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Các món này đều là bảo vật riêng của miền rừng núi, mà muốn có được trong một thời gian rất ngắn như thế, rõ ràng là Sơn Tinh cũng phải mất nhiều công sức để mà có được các món sinh lễ có một không hai này. Điều đó cũng biểu lộ quyết tâm mãnh liệt của Sơn Tinh muốn cưới Mị Nương làm vợ. Tình yêu của một chàng trai miền rừng núi bình tĩnh thâm trầm, khác hẳn với Thủy Tinh nóng nảy, thù dai và ích kỉ.

Thật vậy, khi không rước được Mị Nương, Thủy Tinh đã đùng đùng nổi giận, hô mưa, gọi gió, làm dông bão phá phách thẳng tay. Thủy Tinh dùng phép thuật dâng nước sông lên cuồn cuộn dìm kinh thành Phong Châu lềnh bềnh trong biển nước. Một con người nóng nảy, dữ dằn, vị kỉ lại thù dai. “Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen” như thế làm sao cho thể xứng đôi với người đẹp Mị Nương nết na, dịu dàng được? Trong khi đó Sơn Tinh tỏ ra bình tĩnh và thận trọng bốc từng quả đồi, dời từng quả núi làm thế nào để nước sông dâng lên bao nhiêu thì núi đồi cao lên bấy nhiêu.

Hình tượng Sơn Tinh phải chăng là thi vị hóa của hình ảnh nhân dân chống bão lụt thiên tai đầy gian khổ mà cũng vô cùng dũng cảm ở vùng đồng bằng sông Hồng ngày xưa, nhằm bảo vệ cửa nhà, hoa lợi non sông gấm vóc? Hình tượng ấy cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng đầy tính lãng mạn của người xưa.

Tóm lại, tuy là thần thoại đầy tính lãng mạn nhưng truyện “Sơn Tinh Thủy Tinh” mà em được học vẫn có nhiều yếu tố chân thực. Một trong những nét chân thật là truyện phản ánh ước mơ chiến thắng được bão lụt thiên tai của cha ông ta ngày xưa. Trong thực tế đời sống, bão lụt thiên tai đã thường xuyên phá hoại cuộc sống yên lành nhưng mọi người khi ấy chưa đủ sức để thắng được thiên nhiên. Do đó, họ phải dùng thần thoại để chiến thắng được bão lụt và thiên tai trong trí tưởng tượng đầy lãng mạn của mình.

Mẫu 3

Truyện thần thoại “Sơn Tinh- Thủy Tinh” là một câu chuyện hay không chỉ đơn thuần kể về việc kén rể, lấy vợ mà còn phản ánh, giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm đồng thời thể hiện ước mơ, khát vọng chiến thắng và làm chủ thiên nhiên của người dân lao động.

Nhân dân ta từ ngàn xưa đã phải chịu thiệt hại từ thiên tai lũ lụt, từ thuở sơ khai con người từ miền núi chuyển xuống đồng bằng tìm kiếm đất đai phù sa, màu mỡ phục vụ cho đời sống cũng như việc chăn nuôi, trồng trọt. Tuy nhiên, bên cạnh mặt thuận lợi với địa hình bằng phẳng, nhân dân ta cũng phải chịu nhiều thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, chủ yếu là ở đồng bằng sông Hồng. Để bảo vệ thành quả lao động, chúng ta đã dũng cảm, mưu trí chống lại và khắc phục thiên nhiên.

Dựa trên những điều đó, dân gian đã dựng nên câu chuyện nhà vua kén rể, các chàng trai đi tìm vợ, người lấy được vợ xinh đẹp, người thua cuộc trở về dẫn đến cuộc giao tranh lẫn nhau. Hai vị thần dựng nên xung đột, mỗi năm kẻ ôm mối thù vẫn gây sự để trả thù đối phương. Câu chuyện không chỉ phản ánh hiện thực đời sống mà qua đó còn thể hiện trí tượng tưởng phong phú cũng như là món ăn tinh thần cho nhân dân lao động.

Truyện có hai nhân vật chính là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tinh hay còn gọi là Thần Núi Tản Viên- Thánh Tản là chúa tể ở vùng non cao hùng vĩ, Thủy Tinh- Thần Nước là chúa tể của vùng nước thẳm mênh mông. Hai người đều có tài năng phi thường. Sơn Tinh vẫy tay về phía đông, phía đông mọc lên cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên các núi đồi, chỉ tay đến đâu rừng núi mọc lên đến đó, chim muông đầy đàn. Thủy Tinh gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về. Cả hai thần đều giỏi và được lòng vua cha, khiến ngài do dự không biết gả con gái cho ai nên đành ra điều kiện, ngày mai ai mang sính lễ đến sớm hơn thì cưới được Mị Nương.

Ngay từ đầu chúng ta đã nhận thấy vua cha có phần ưu tiên cho Sơn Tinh hơn, bởi các sính lễ mà ngài yêu cầu đều rất dễ để Sơn Tinh tìm kiếm và ngược lại, rất khó đối với Thủy Tinh bởi: voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng chỉ có ở trên núi non. Sáng hôm sau, Sơn Tinh đã nhanh chân hơn, đến mang đầy đủ những sính lễ và cưới được Mị Nương.

Thủy Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, tức khắc đuổi theo và kêu gọi binh tướng để đánh Sơn Tinh quyết chiếm lại công chúa Mị Nương. Sơn Tinh và Thủy Tinh đánh nhau với cuộc chiến dữ dội và ác liệt. Thủy Tinh hô mưa gọi gió, dùng tất cả các phép dâng nước lên cao để nhấn chìm Sơn Tinh, sấm chớp đùng đùng, đồng ruộng phút chốc ngập trong biển cả.

Thần Núi cũng không hề thua kém, nước dâng lên đến đâu, Thần dùng phép làm núi cao lên đến đó, chặn dòng nước dữ dội. Cuối cùng, Thủy Tinh kiệt sức, đành phải rút lui. Cả Sơn Tinh và Thủy Tinh đều là những vị thần đều có tài lực ngang nhau. Với việc sử dụng các chi tiết tưởng tượng, kì ảo, hoang đường tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện thể hiện trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo.

Chính vì căm thù Sơn Tinh, không cưới được vợ xinh đẹp nên hằng năm cứ vào tháng bảy âm lịch lại gây mưa bão, hô mưa gọi gió gây thiệt hại mùa màng để trả thù Sơn Tinh. Nhưng Thủy Tinh vẫn không thể có được Mị Nương. Tình huống truyện không chỉ mang ý nghĩa thực về cuộc giao tranh kiếm vợ của hai vị thần mà nó còn mang ý nghĩa tượng trưng. Sơn Tinh là hiện thân cho lớp người nông dân, cần cù đắp đê chống lũ, thể hiện cho khát vọng được chinh phục và chiến thắng thiên nhiên.

Sức mạnh, tầm vóc của Sơn Tinh thể hiện cho sức mạnh của người dân lao động dũng cảm chống lại thiên tai. Thủy Tinh là đại diện cho mưa gió, sấm chớp, là kẻ thù của người dân lao động. Ngày nay, để khắc phục thiên nhiên, đã xuất hiện nhiều công trình thủy lợi, đê điều, mương máng chứa nước, đập nước điều hòa của các sông Hồng, sông Đà nhằm khắc phục được phần nào tình hình lũ lụt, lũ quét, xói mòn đất đai, thiệt hại mùa màng. Tuy nhiên, gần đây nạn chặt phá rừng, phá rừng diễn ra nghiêm trọng ở rộng khắp cả nước. Đồng thời sự thay đổi về thời tiết, khí hậu ảnh hưởng lớn đến môi trường cũng như đời sống của con người.

Chính quyền nhà nước cũng quan tâm sát sao đến tình hình củng cố đê điều, mương máng, các công trình thủy lợi được xây dựng kiên cố, nổi lên nhiều ở các lưu vực đồng thời thực hiện các chính sách ngăn cấm chặt phá rừng, tổ chức các phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, thể hiện sự đúng đắn, hợp lí của chính quyền. Câu chuyện Sơn Tinh- Thủy Tinh thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta nhằm khắc phục, chiến thắng được thiên nhiên.

Mẫu 4

Sơn Tinh Thủy Tinh là một câu chuyện được xây dựng trên trí tưởng tượng phong phú của người dân Việt Nam thời xưa. Mang ý nghĩa sâu sắc nhằm lý giải hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ, Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh đã để lại cho em những bài học, kiến thức mới mẻ.

Câu chuyện kể về hai vị thần Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh tài cưới Mị Nương công chúa. Cả hai đầu có những tài năng phi thường, đều là những người tài giỏi. Thế nhưng, với những điều kiện mà Đức Vua đưa ra thì dĩ nhiên, Sơn Tinh sẽ là người chiến thắng.

Trong truyện, Sơn Tinh được coi là hiện thân của người Việt Nam ta thời xưa dày công đắp đê để chống lại lũ lụt hằng năm. Sơn Tinh mang một sức mạnh phi thường là thể hiện cho ước mơ lớn lao của nhân dân ta muốn chiến thắng những thiên tai. Bởi thế, ta hoàn toàn có thể nhận ra, người đọc cũng như tác giả dành nhiều tình cảm hơn cho Sơn Tinh. Đức vua cũng không ngoại lệ. Bằng chứng là trong ngày cưới, nhà vua đã yêu cầu sính lễ là những sản vật của đất liền:Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, trăm ván cơm nếp, trăm tệp bánh chưng. Phần thắng đương nhiên thuộc về Sơn Tinh.

Về phần Thủy Tinh, chàng cũng mang những năng lực phi thường, hô mây gọi gió, nhưng lại có thể tạo ra những thiên tai bão lũ. Đây chính là hiện thân của những nguy cơ tiềm ẩn đe dọa tới đời sống của người dân thời xưa. Sơn Tinh và Thủy Tinh là những hình tượng huyền thoại, được hình thành, nhào nặn trong trí tưởng tượng của người Việt cổ, trong đó những yếu tố tự nhiên và xã hội, hiện thực và lí tưởng đã kết hợp, hòa lẫn với nhau, rất khó tách bạch.

Sơn Tinh là sự khái quát hóa, hình tượng hóa và thần thánh hóa không chỉ riêng lực lượng con người (tinh thần, ý chí, thành quả chống lũ lụt của nhân dân) mà còn có cả lực lượng tự nhiên (rừng, núi). Sự xung đột giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ phản ánh mâu thuẫn giữa con người và hiện tượng bão lụt trong thiên nhiên mà còn phản ánh cả sự xung đột giữa con người với con người, giữa các bộ tộc miền biển và miền núi trong thời kì Văn Lang của các vua Hùng.

Cơn giận dữ của Thủy Tinh hàng năm được phản ánh vô cùng độc đáo, hấp dẫn, lý giải hiện tượng lũ lụt hằng năm của thiên nhiên và hiện tượng ghen tuông dai dẳng của con người. Ở cuối câu truyện, chi tiết Thủy Tinh dâng nước lên bao nhiêu thì Sơn Tinh lại nâng núi Tản Viên cao lên bấy nhiêu đã thể hiện được ước mơ nhưng đồng thời cũng có tính hiện thực ở trong đó. Câu chuyện như một bài học nhắc nhở con cháu sau này phải luôn chiến đấu, đối mặt với thiên tai khốc liệt.

Câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh vẫn còn mang một giá trị to lớn đối với các thế hệ ngày nay.

Mẫu 5

“Sơn Tinh Thủy Tinh” là một truyền thuyết rất hay và độc đáo của nền văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm được xây dựng bằng trí tưởng tượng của con người, trong đó truyện mang đậm những yếu tố thần thánh nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt hàng năm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời qua đó, tác phẩm cũng thể hiện mơ ước của nhân dân trong việc chống lại thiên tai, đem đến một cuộc sống thanh bình no đủ hơn.

Truyện kể về hai chàng Sơn Tinh và Thủy Tinh tài giỏi cùng đến xin vua Hùng được kết hôn cùng công chúa Mị Nương xinh đẹp. Vua Hùng rất khó xử bèn ra điều kiện thách cưới. Cuối cùng Sơn Tinh đã đem được lễ vật đến trước nên cưới được Mị Nương. Thủy Tinh vì thua cuộc nên mới tức giận hô mưa gọi gió hòng tiêu diệt Sơn Tinh, cướp lại Mị Nương. Thế nhưng Sơn Tinh cũng quyết tâm chống trả lại. Cuối cùng, Thủy Tinh đành phải rút lui nhưng hàng năm vẫn nhớ mối thù xưa cũ nên dâng nước làm lũ lụt khắp nơi.

Với câu chuyện này, tác giả dân gian muốn giải thích về hiện tượng lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ hàng năm. Và từ xa xưa, người Việt chúng ta cũng đã biết cách đắp đê chống lũ. Bởi vậy, dù hàng năm có lũ lụt nhưng rồi nước vẫn phải rút. Đất đai sau đó lại trở nên màu mỡ và tươi tốt hơn. Người xưa chính là dựa trên những thực tế mà tưởng tượng ra câu chuyện về Sơn Tinh, Thủy Tinh để lý giải cho hiện tượng tự nhiên này.

Có thể thấy rằng, vị thần Sơn Tinh trong truyện chính là hiện thân của người Việt xưa đã biết cách đắp đê chống lũ. Đây là nhân vật được tác giả dân gian xây dựng bằng trí tượng cho nên Sơn Tinh với những tài năng rất phi thường đã chiến thắng Thủy Tinh, qua đó thể hiện ước mơ chiến thắng thiên tai của nhân dân. Chính vì thế mà tác giả dân gian đã yêu mến, để cho vua Hùng ra yêu cầu thách cưới đa phần là những sản vật của đất liền như: “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, một trăm ván cơm nếp, một trăm tệp bánh trưng….”. Và cuối cùng, Sơn Tinh cũng đã chiến thắng Thủy Tinh trong cuộc thách cưới và cuộc chiến đấu chống lại lũ lụt. Điều đó cùng thể hiện sự chính nghĩa, mơ ước ước của nhân dân trong việc chống lại thiên tai, vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng.

Nhân vật Thủy Tinh cũng có những năng lực phi thường nhưng vì tính tình nóng nảy cho nên mới luôn tìm cách trả thù, gây ra lũ lụt hàng năm, làm thiệt hại đến nhân dân. Vì vậy, đối với nhân dân, Thủy Tinh trở thành hiện thân của kẻ hung ác, chỉ nghĩ đền quyền lợi cá nhân mà không biết đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Những kẻ hung ác và tàn bạo như vậy thì luôn luôn thất bại trước chính nghĩa.

Câu chuyện về Sơn Tinh Thủy Tinh vẫn còn tồn tại cho đến tận hôm nay như thể nhắc nhở cho thế hệ sau về tinh thần chính nghĩa của nhân dân ta đã chiến thắng trong cuộc chiến lại thiên tai, bão lũ. Ngày nay, bão lũ vẫn thường xảy ra nhưng nhờ có hệ thống để điều, các công trình thủy lợi kiên cố mà cuộc sống của con người càng ổn định và đảm bảo hơn. Có thể nói câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh vẫn còn giá trị cho đến ngày nay vì ước mơ, khát vọng chiến thắng thiên tai của người xưa đã được thế hệ sau tiếp nối, gìn giữ và thực hiện.

 Mẫu 6

Em đã từng đọc rất nhiều truyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết; mỗi câu chuyện đều để lại trong em những cảm xúc riêng. Tuy nhiên em vẫn ấn tượng với truyện Sơn Tinh Thủy Tinh. Đây là câu chuyện do nhân dân dựng nên, mượn hình ảnh của các vị thần để nói lên sự tàn khốc của thiên tai, bão lũ hằng năm. Đồng thời qua đó ngợi ca công lao dựng nước, giữ nước của các vua Hùng.

Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh xoay quanh cuộc đấu tài, đấu trí của hai vị thần Sơn Tinh – chúa tể vùng non cao và thần Thủy Tinh – chúa tể của vùng nước thẳm để có được công chúa Mỵ Nương. Sơn Tinh khi vẫy tay về phía đông thì phía đông nổi lên cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây lập tức hiện ra núi đồi. Thủy Tinh gọi gió, gió tới; hô mưa, mưa về. Cả hai vị thần này đều rất tài giỏi. CHính điều này đã khiến vua Hùng không biết chọn ai nên bèn đưa ra điều kiện: Ngày mai, nếu ai mang lễ vật đến sớm thì sẽ cưới được Mỵ Nương. Ngay trong chuyện lễ vật nhà vua đã có ý nghiêng về thần Sơn Tinh: voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, trăm ván cơm nếp, trăm nệp bánh chưng. Tất cả những thứ đó đều là thức quà của đồng ruộng và núi rừng hùng vĩ.

Sơn Tinh là người đến trước và rước công chúa Mỵ Nương về, nhưng Thủy Tinh vì không cưới được công chúa đã nổi giận đùng đùng và lập kế hoạch cướp công chúa về. Thủy Tinh hô mưa gọi gió gây nên bão lũ, nước sông dâng tràn. CUộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh không cân sức. Nhưng Sơn Tinh mưu dũng và tài trí đã chiến thắng được thủy tinh.

Cuộc chiến giữa hai vị thần đã gây ra bao nhiêu lầm than và nước mắt cho nhân dân. Lũ lụt triền miên, sạt lở đất là những thiên tai mà hằng năm nhân dân ta vẫn phải hứng chịu. Nhân dân ta đã có một trí tưởng tượng phi thường mới có thể nghĩ ra một câu chuyện hư cấu nhưng lại mang ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống như vậy. Sự nổi giận của các vị thần sẽ gây nên hệ quả xấu đối với đời sống của nhân dân.

Chi tiết Thủy Tinh vẫn ôm hận hằng năm hô mưa gọi gió gây ra cảnh lũ lụt triền miên cũng là một cách lý giải cực kỳ sâu sắc cho việc thiên tai hằng năm vẫn đổ ập lên đời sống nhân dân. Thực tế năm nào cũng vậy, nhân dân ta luôn phải hứng chịu những trận bão lũ cuồng phong do Sơn Tinh và Thủy Tinh gây ra. Nhưng năm nào Sơn Tinh cũng chiến thắng Thủy Tinh. Chi tiết này ẩn dụ cho việc con người không bao giờ chịu khuất phục trước thiên nhiên, bằng mọi giá phải chống chọi và đẩy lùi nó. Một tinh thần quả cảm, anh hùng đáng khâm phục.

Cuộc chiến Sơn Tinh và Thủy Tinh đều không có thực, đều là do nhân dân tưởng tưởng nên nhưng vua Hùng và Mỵ Nương là những nhân vật lịch sử có thật. Điều này cho thấy rằng từ ngàn đời nay nhân dân đã hứng chịu thiên tai lũ lụt triền miên, đồng nghĩa với tinh thần kiên cường, không bất khuất của nhân dân.

Qua câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh; chúng ta thấy được rằng hằng năm nhân dân ta phải hứng chịu rất nhiều thiên tai, bão lũ nhưng tất cả đều không nao núng, vẫn kiên cường chống chọi và chiến thắng tất cả.

Mẫu 7

Truyền thuyết Việt Nam là bức tranh đẹp đẽ về đời sống, về trí tưởng tượng tài hoa của ông cha xưa. Trong kho tàng ấy có biết bao câu chuyện làm say đắm các thế hệ người nghe, người đọc và một trong những tác phẩm đó là truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh. Tác phẩm là một thần thoại cổ đã được lịch sử hóa khi gắn với thời đại Hùng Vương và trở thành truyền thuyết trong thời đại các vua Hùng.

Tác phẩm tập trung thể hiện hai nội dung chính: cuộc giao tranh của Sơn Tinh và Thủy Tinh để giải thích hiện tượng mưa bão hàng năm và sự việc Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh phản ánh khát vọng chế ngự thiên nhiên của nhân dân ta. Câu chuyện được bắt đầu bằng việc vua Hùng kén rể cho người con gái yêu của mình là nàng Mị Nương. Trong vô vàn những người kiệt xuất, ưu tú thì Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai chàng trai xuất sắc nhất. Sơn Tinh là thần núi Tản Viên, có nhiều phép lạ “vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi”, Thủy Tinh cũng không hề kém cạnh, chàng là chúa vùng nước thẳm cũng có những tài năng kì lạ “gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về”.

Quả thực tài năng hai người ngang tài ngang sức nhau, trước tình thế đó vua Hùng không biết lựa chọn ai, bèn đưa ra sính lễ: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi”, ai mang đến sớm vua Hùng sẽ gả con gái yêu của mình cho người đó. Nhìn vào số đồ sính lễ này ta có thể dễ dàng nhận ra ưu thế đang nghiêng về chàng Sơn Tinh, và bất lợi đang nghiêng về phía chàng Thủy Tinh, đồ sính lễ đều thuộc địa phận cai quản của Sơn Tinh. Và kết quả Sơn Tinh mang sính lễ đến trước và rước được Mị Nương về.

Thủy Tinh vô cùng giận dữ đem quân đuổi theo đánh Sơn Tinh, cuộc giao tranh diễn ra vô cùng quyết liệt. Thần nước “hô mưa gọi gió, làm thành dông bão, rung chuyển cả đất trời” nước mỗi ngày một dâng cao nhằm đánh bại Sơn Tinh. Nhưng trước sự hung hãn của Thủy Tinh, Thần núi vẫn không hề nao núng, Sơn Tinh “bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, ngăn chặn dòng nước lũ”. Cuối cùng Thủy Tinh yếu thế đành phải rút lui. Cuộc giao tranh giữa hai vị thần không đơn thuần là cuộc giao tranh để đòi lại người đẹp (Mị Nương) mà nó còn phản ánh sức mạnh của dân tộc ta trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, bão lụt. Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh của thiên nhiên hung bạo, Sơn Tinh đại diện cho sức mạnh quật cường của dân tộc Việt. Trước những thiên tai bão lũ dân tộc ta không chịu lùi bước, luôn kiên cường chống đỡ. Đồng thời bằng trí tưởng tượng của mình, các tác giả dân gian còn dùng cuộc đấu tranh giữa hai vị thần về hiện tượng mưa bão, lũ lụt hàng năm.

Tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm ta không thể không kể đến sự góp công của các yếu tố nghệ thuật. Trước hết là việc xây dựng cốt truyện với tình huống truyện gay cấn, sự kiện sinh động. Không chỉ vậy, xây dựng các nhân vật với tài năng phi thường, các yếu tố kì ảo làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Ngoài ra còn phải kể đến sự kết hợp hài hòa giữa các yêu tố tưởng tượng kì ảo với yếu tố hiện thực lịch sử. Tất cả các yếu tố đó đã tạo nên sự thành công cho tác phẩm này.

Sơn Tinh Thủy Tinh là một truyền thuyết lí thú trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Truyện vừa thể hiện cách giải thích của nhân dân ta về hiện tượng mưa bão hàng năm nhưng đồng thời cũng phản ánh sức mạnh, mơ ước chế ngự thiên tai, bảo vệ và xây dựng cuộc sống của nhân dân ta.

Mẫu 8

Tuổi thơ mỗi người chắc hẳn đều gắn với những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết hay thần thoại, đó là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần người Việt. Những câu chuyện này đều do nhân dân sáng tạo ra nhằm giải thích những hiện tượng thiên nhiên bí ẩn, nó cũng thể hiện ước mơ hoài bão của người dân về công lý, về sức mạnh chế ngự thiên nhiên của con người. Sơn Tinh Thuỷ Tinh là một truyền thuyết rất đặc sắc kể về cuộc chiến giữa hai vị thần, nó đã tái hiện được thiên nhiên khắc nghiệt bão lũ xảy ra hằng năm trên đất nước ta.

Cách đây hàng ngàn năm khi người Việt từ núi rừng chuyển xuống đồng bằng sinh sống thì hằng năm đều xảy ra thiên tai lũ lụt. Đầu tháng bảy mùa mưa bão đến, nước từ các sông hồ dâng cao làm ngập hết những làng mạc, nhà cửa. Thế nhưng chưa bao giờ làm ngập được núi đồi sừng sững kia, khi mùa lũ qua đi sông hồ lại trở lại hiền hoà, êm dịu. Chỉ là hiện tượng thiên nhiên tàn khốc nhưng với trí tưởng tượng bay bổng của mình, nhân dân cho rằng đó là cuộc chiến giữa hai vị thần để trả mối thù năm xưa.

Tương truyền vua Hùng thứ mười tám có một cô con gái rất xinh đẹp đã đến tuổi gả chồng, vua ban lệnh xuống tìm nhân tài để chọn làm phò mã. Sau có hai chàng trai đến xin hỏi cưới Mỵ Nương. Cả hai đều khôi ngô tuấn tú và có phép thần thông. Một là Sơn Tinh – Thần Núi Tản Viên (Thánh Tản), hai là Thủy Tinh (Thần Nước). Sơn Tinh chỉ tay đến đâu núi rừng mọc xanh tươi lên đến đấy, muông thú từng đàn. Thủy Tinh có tài hô mưa gọi gió, chỉ cần vẫy tay thì nước dâng lên cao vạn trượng, ba ba, thuồng luồng nổi khắp mặt nước. Ai cũng tài giỏi xuất chúng khiến nhà vua không biết chọn ai đành bảo ngày mai ai đến trước với đủ sính lễ: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi; thì sẽ cưới được công chúa. Những thứ lễ vật vua đưa ra thử thách đều là những tinh hoa của núi rừng, trong lần so tài này nhà vua vốn có ý thiên vị nghiêng về Sơn Tinh bởi nhà vua có lẽ đã sớm nhận ra tấm chân tình và khí chất anh hùng của Sơn Tinh.

Mờ sáng hôm sau Thuỷ Tinh đã đến trước với đầy đủ sính lễ và rước Mỵ Nương về núi. Vì bận tìm kiếm lễ vật Thuỷ Tinh đến sau không cưới được công chúa bèn cho quân tức tốc đuổi theo sau để giành lại Mỵ Nương. Hai vị thần đánh nhau một trận kinh thiên động địa, khắp trời đất là một màu tối đen. Thuỷ Tinh cho nước dâng cao nhằm nhấn chìm Sơn Tinh, nước cứ cao lên bao nhiêu Sơn Tinh lại dời núi cao lên bấy nhiêu. Sau cùng Thuỷ Tinh đánh không lại đành chịu thua và rút quân về. Thế nhưng vẫn ôm mối thù xưa hằng năm cứ vào tháng bảy âm lịch Thuỷ Tinh lại cho quân đến đánh Sơn Tinh. Trận chiến của Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đã gây ra cho nhân dân biết bao lầm than, tất cả nhà cửa, hoa màu, trâu bò lợn gà,.. đều bị nhấn chìm, bị cuốn trôi theo dòng nước. Hằng năm nhân dân đều phải oằn mình chống chọi với cơn giận lôi đình của Thuỷ Tinh.

Đây là một câu chuyện rất hay và ý nghĩa. Qua cuộc chiến giữa hai vị thần, tác giả dân gian đã thể hiện rõ ước mơ của nhân dân về công lý, lẽ phải, cái thiện sẽ luôn luôn chiến thắng cái ác. Thuỷ Tinh dù có hàng trăm phép thần thông cũng không thể chiến thắng Sơn Tinh, bởi vì từ cổ chí kim thì người tốt luôn được đất trời che chở bảo vệ. Đồng thời câu chuyện cũng thể hiện tinh thần, ý chí chiến đấu của nhân dân ta trước những hoàn cảnh khó khăn, dù thiên thiên có hung bạo tới đâu cũng sẽ phải khuất phục trước sức mạnh kiên cường của con người. Với sự sáng tạo, tưởng tượng phong phú của nhân dân đã sáng tạo nên câu chuyện có tính chất hư cấu, kỳ ảo nhưng cũng không kém phần độc đáo thú vị. Thuở xưa khi khoa học còn chưa thể lý giải những hiện tượng tự nhiên, con người đã mượn câu chuyện để giải thích cho nó và làm cho cuộc sống thêm thú vị hơn.

Sơn Tinh Thuỷ Tinh là câu chuyện hư cấu nhưng lại khéo léo lồng ghép những chi tiết lịch sử có thật như vua Hùng, Mỵ Nương để làm tăng sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Câu chuyện “vừa hư vừa thực” này thể hiện một ẩn ý rất sâu sắc: Con người sẽ không bao giờ lùi bước trước thiên nhiên khắc nghiệt, sẽ luôn làm chủ số phận mình trước mọi hoàn cảnh khó khăn, thử thách. Cho dù Thuỷ Tinh có dâng nước cao lên bao nhiêu nữa thì Sơn Tinh cũng lấp đầy đá bấy nhiêu.

Truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh đã thể hiện được nỗi khó khăn vất vả của nhân dân ta, hằng năm mưa bão, lũ lụt kéo đến nhưng ta vẫn chẳng hề chùn bước sợ hãi mà kiên cường chiến đấu, khắc phục thiên tai. Cho đến nay câu chuyện vẫn giữ nguyên được giá trị của nó như nhắc nhở con cháu đời sau phải biết nối tiếp, gìn giữ những truyền thống về tinh thần chính nghĩa và lòng quả cảm trước những gian khó cuộc đời.

Mẫu 9

Truyện cổ tích, truyện truyền thuyết, thần thoại là một phần không thể thiếu trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam. Những câu chuyện này được sáng tác nhằm giải thích những sự vật sự việc xảy ra xung quanh con người chúng ta. Hoặc thể hiện mong muốn ước mơ nguyện vọng của người xưa trong cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác, giữa con người và lực lượng siêu nhiên.

Truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mượn hình ảnh những vị thần để nói lên sự khắc nghiệt tàn bạo của những thiên tai, lũ lụt, mưa bão xảy ra hàng năm trên đất nước ta, làm cho người dân của ta phải khốn đốn chống trả. Đồng thời qua truyện này ca ngợi tinh thần dựng nước và giữ nước của các vị vua hùng ở nước ta. Thể hiện ý chí của con người trong việc xây dựng và bảo vệ những thành quả mà mình có được.

Truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh thể hiện cuộc đấu trí của hai người anh hùng Sơn Tinh được mệnh danh là chúa tể của vùng núi non, sơn cước, và Thủy Tinh được mệnh danh là chúa tể vùng nước biển vực sâu. Sơn Tinh vô cùng thần thông quảng đại khi anh vẫy tay về phía đông thì phía đó lập tức nổi lên những cồn bãi, khi anh vẫy tay về phía tây thì phía đó mọc lên những núi đồi xanh tươi. Còn Thủy Tinh thì có tài hô mưa gọi gió.

Vua Hùng chỉ có một người con gái xinh đẹp tên Mỵ Nương nhà vua cũng muốn chọn một người hiền tài làm rể của mình. Nhưng nay lại có tới hai người vô cùng tài giỏi nên nhà vua không biết làm như thế nào đành bảo: Hai anh về tìm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao tới đây. Ai đến trước thì nhà vua gả con gái cho người đó. Dường như trong cuộc đấu trí này nhà vua có ý nghiêng về Sơn Tinh thì phải bởi những thứ vua Hùng thách cưới đều là món quà của núi rừng, nơi sinh ra và lớn lên của Sơn Tinh. Chính vì vậy, Sơn Tinh nhanh chóng tìm được lễ vật tới cưới công chúa Mỵ Nương về làm vợ.

Thủy Tinh tới muộn không cưới được vợ nên ôm hận, cứ hàng năm anh ta lại hô mưa gọi gió, dâng nước lên cao nhằm nhấn chìm giang sơn của Sơn Tinh. Nhưng Sơn Tinh cũng tài giỏi không kém nước dâng lên bao nhiêu thì núi cao lên bấy nhiêu, không bao giờ Thủy Tinh có thể nhấn chìm được Sơn Tinh. Cuộc chiến giữa hai vụ thần gây ra rất nhiều lầm than, tai ương cho nhân dân, là cho người dân hàng năm lại rơi vào cảnh màn trời chiếu đất khi nhà cửa bị nước lũ cuốn trôi, hoa màu, trâu bò, lợn gà đều bị cuốn sạch. Những khó khăn đó đều khiến người dân phải hứng chịu.

Người xưa muốn giải thích cho những hiện tượng thiên nhiên, cho nạn lũ lụt xảy ra hàng năm ở nước ta nên mới nghĩ ra câu chuyện mang tính chất hư cấu, kỳ ảo với những yếu tố hoang tưởng này để làm cho cuộc sống trở nên thi vị hơn. Đồng thời cũng nhằm khẳng định tinh thần chiến đấu của người dân trước thiên tai, lũ lụt, dù thiên nhiên có mạnh mẽ quyền lực tới đâu, thì cũng phải thua trước sức mạnh ý chí của con người mà thôi. Chính vì vậy dù Thủy Tinh có dâng nước cao bao nhiêu thì Sơn Tinh cũng cho đá đất lấp đầy bấy nhiêu. Nói lên tinh thần chiến đấu quả cảm quật cường của những người nông dân lao động.

Thông qua những tình tiết trong câu chuyện này nhằm thể hiện một ẩn ý vô cùng sâu sắc rằng con người chúng ta không bao giờ khuất phục trước thiên nhiên. Dù khó khăn thử thách tới đâu thì con người cũng vẫn luôn chiến thắng thiên tai, làm chủ vận mệnh của mình không bao giờ lùi bước. Cuộc chiến đấu giữa hai vị thần Sơn Tinh và Thủy Tinh là cuộc chiến đấu không có thật nhưng lại nhằm lý giải cho những hiện tượng thiên nhiên xảy ra hàng năm. Người xưa đã vô cùng tinh tế khi lựa chọn giữa những thứ đã có thật như vua Hùng, công chúa Mỵ Nương, với những điều không có thật như thần núi Sơn Tinh hay thần nước Thủy Tinh để làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, hư hư thực thực kích thích người đọc.

Qua truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh ta thấy rằng hàng năm nhân dân nước ta phải gánh chịu rất nhiều tai ương, lũ lụt, bão tố nhưng người dân chưa bao giờ nao núng sợ hãi trước những thiên tai này mà họ vẫn kiên cường chống chọi tới cùng, thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của những người nông dân.

Mẫu 10

Trong những truyện thần thoại đã đọc, em rất thích truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bởi sự cuốn hút, hấp dẫn lạ thường của nó. Truyện mượn thần thánh để giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ và gửi gắm vào đó ước mơ chiến thắng thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống của người xưa, đồng thời suy tôn, ca ngợi công lao dựng nước của các vua Hùng.

Cách đây mấy ngàn năm, khi tổ tiên người Việt từ vùng rừng núi chuyển xuống sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ thì năm nào cũng gặp phải một trong những thiên tai đáng sợ là nạn lụt. Nạn lụt do nước lũ từ các con sông, chủ yếu là sông Hồng, sông Đà gây ra. Để bảo vệ thành quả lao động của mình, nhân dân ta đã dũng cảm, mưu trí, bền bỉ tìm cách chống lụt. Việc đắp đê ngăn nước chính là biểu hiện của tinh thần đó.

Từ chuyện chống lũ lụt để bảo vệ mùa màng và đời sống, người xưa đã tưởng tượng thành một câu chuyện với nhiều tình tiết li kì: Hai vị thần cùng muốn cưới một công chúa xinh đẹp làm vợ; rồi người được vợ, kẻ không được vợ, dẫn đến cuộc giao tranh dữ dội. Cuối cùng, bên thắng, bên thua. Kẻ thua cuộc ôm lòng thù hận khôn nguôi, hằng năm vẫn gây sự đánh trả. Thực tế là hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ, cứ đến mùa mưa bão là nước dâng to, nhưng chưa bao giờ làm ngập nổi núi đồi. Cuối mùa lũ, nước rút đi, sông suối trở lại hiền hòa. Người xưa cho rằng đó là Thần Nước đánh nhau với Thần Núi để giành lại Mị Nương… Quả là trí tưởng tượng của họ vô cùng phong phú và bay bổng.

Truyện có hai nhân vật: Sơn Tinh – chúa tể của vùng non cao và Thủy Tinh – chúa tể của vùng nước thẳm. Cả hai đều có tài năng phi thường. Sơn Tinh vẫy tay về phía đông, phía đông nổi lên cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây lập tức hiện ra những dãy núi đồi. Thủy Tinh gọi gió, gió tới; hô mưa, mưa về. Cả hai vị thần đều tài giỏi. Điều ấy khiến nhà vua băn khoăn không biêt chọn ai, đành ra điều kiện: Ngày mai, nếu ai mang lễ vật đến sớm thì được cưới Mị Nương. Ngay trong truyện thách cưới, có lẽ ý nhà vua đã nghiêng về phía Sơn Tinh. Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chính hồng mao. Rồi trăm ván cơm nếp, trăm nệp bánh chưng… Tất cả đều là sản vật của đồng ruộng, núi rừng. Vì vậy, kẻ thắng cuộc tất nhiên phải là Sơn Tinh. Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, cưới được Mị Nương và đưa nàng về núi Tản Viên. Sơn Tinh thật xứng đôi với nàng công chúa xinh đẹp.

Không cưới được Mị Nương, Thủy Tinh đùng đùng nổi giận. Chàng phô bày hết sức mạnh tàn bạo của mình trong cuộc giao tranh với Sơn Tinh. Gió bão rung chuyển cả đất trời. Mưa làm nước sông hồ dâng lên cuồn cuộn, ngập tràn đồng ruộng, mùa màng, cuốn phăng cây cối, nhà cửa, súc vật. Nước dâng lên sườn đồi, sườn núi làm trốc cây, lở đá… Thủy Tinh muốn nhấn chìm đỉnh núi để tiêu diệt Sơn Tinh, cướp lại Mị Nương.

Nhưng Sơn Tinh cũng trổ hết tài bốc đồi, dời núi, dựng thành ngăn nước. Nước dâng cao bao nhiêu, núi đồi cao lên bấy nhiêu. Suốt mấy tháng trời, cuộc tấn công của Thủy Tinh thật là dữ dội: giông bão, sấm chớp, mưa như trút nước, đồng ruộng hóa thành sông, sông thành biển cả. Ấy vậy nhưng Sơn Tinh không hề nao núng, vẫn bình tĩnh, sáng suốt chống trả một cách quyết liệt và thắng lợi. Cuối cùng kiệt sức, Thủy Tinh phải rút lui. Cả hai vị thần đều có tài cao, phép lạ. Nhưng Thủy Tinh dù phép thuật cao cường vẫn phải khuất phục trước Sơn Tinh dũng mãnh và mưu trí. Những chi tiết nghệ thuật kì ảo, hoang đường về Sơn Tinh, Thủy Tinh và khí thế hào hùng của cuộc giao tranh giữa hai vị thần thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa.Cuộc giao tranh không chỉ xảy ra một lần mà nhiều lần, năm nào cũng vậy. Nhưng kết cục thì không thay đổi: thần Núi chiến thắng thần Nước. Mị Nương vẫn sống hạnh phúc bên Sơn Tinh trên đỉnh Tản Viên cao vòi vọi. Thủy Tinh không sao giành lại được nàng. Sơn Tinh, Thủy Tinh là những nhân vật hoàn toàn tưởng tượng nhưng lại có ý nghĩa rất thực vì đã khái quát được hiện tượng lũ lụt, đồng thời phản ánh những kì công trong sự nghiệp dựng nước của nhân dân ta dưới triều đại các vua Hùng.Tất cả những chi tiết kì ảo trên đều nhằm để giải thích hiện tượng lũ lụt và việc chống lũ lụt hằng năm của nhân dân ta ở đồng bằng Bắc Bộ. Có một chi tiết quan trọng là Sơn Tinh dựng thành ngăn nước. Đó là công việc đắp thành bằng đất của con người – khởi đầu cho những con đê lớn sau này chạy suốt hai bờ những con sông lớn để ngăn lũ. Người xưa để cho Sơn Tinh thắng Thủy Tinh là gửi gắm vào đó ước mơ có được sức mạnh thần kì để chế ngự được nạn lũ lụt – một tai họa lớn của con người.Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh có giá trị nội dung và nghệ thuật rất đặc sắc. Thủy Tinh là hiện tượng mưa gió, bão lụt ghê gớm hằng năm đã được hình tượng hóa thành kẻ thù hung dữ, truyền kiếp của Sơn Tinh. Sơn Tinh là hiện thân của người dân Việt cổ cần cù đắp đê phòng chống lũ lụ, là ước mơ chiến thắng thiên tai của người xưa. Tầm vóc vũ trụ, tài năng và khí phách của Sơn Tinh là biểu tượng sinh động cho chiến công của người Việt cổ trong cuộc đấu tranh chống bão lụt ở vùng lưu vực sông Đà và sông Hồng. Đây cũng là kì tích dựng nước của thời đại các vua Hùng và kì tích ấy cho đến nay vẫn được tiếp tục phát huy mạnh mẽ.Ước mơ xưa giờ đây đã thành hiện thực. Những công trình thủy lợi lớn như hệ thống đê điều, mương máng, những hồ nước, đập nước điều hòa dòng chảy của sông Đà, sông Hồng đã thực sự chế ngự được sức tàn phá ghê gớm của nước lũ. Hạt lúa, củ khoai do bà con nông dân đổ mồ hôi làm ra đã được bảo vệ. Ngày nay, con cháu của Sơn Tinh đã và đang thực hiện ước mơ của tổ tiên ngày trước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nạn phá rừng, cháy rừng diễn ra rất nghiêm trọng trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái, môi trường của đất nước ta. Hiện tượng thiên tai lũ lụt xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng, phần lớn nguyên nhân là do cháy rừng, phá rừng.Mất rừng, Sơn Tinh sẽ mất hết sức lực và phép lạ, làm sao chống chọi được với Thủy Tinh?! Nhà nước ta hiện nay đang có chủ trương vận động nhân dân tích cực xây dựng, củng cố đê điều ; nghiêm cấm nạn phá rừng, đi đôi với việc trồng thêm hàng triệu hecta rừng phủ xanh đất trồng, đồi trọc. Đây là chủ trương đúng đắn và hợp lí, được mọi người đồng tình. Chẳng lẽ Sơn Tinh lại thua Thủy Tinh ? Chuyện xảy ra từ ngàn xưa nhưng vẫn là bài học thiết thực trong cuộc sống hôm nay, cháu con cần ghi nhớ.

13. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Sọ Dừa. (10 mẫu)

Xem đáp án

Mẫu 1

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có vô vàn những câu truyện dân gian hay, cảm động và có ý nghĩa, trong số đó có truyện “Sọ Dừa” một câu chuyện với nhiều tình tiết hoang đường đầy ly kì nhưng cũng mang rất nhiều ý nghĩa cuộc sống nhất là ước mơ của những người nông dân nghèo.

Sọ Dừa ra đời một cách vô cùng huyền bí và li kì với nhiều tình tiết hư cấu, kì ảo. Một bà mẹ đã lâu chưa có con một ngày bà đi làm đồng do khát nước lại thấy nước trong một chiếc sọ dừa liền uống. Về nhà bà có thai sau đó đẻ ra một bé trai không chân và không tay, duy nhất chỉ có mỗi một cái đầu nhìn như sọ dừa, nên cậu bé được đặt là Sọ Dừa. Khi Sọ Dừa lên 7-8 tuổi thì cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Khi mẹ nói Sọ Dừa rằng nhà càng lúc càng nghèo và không biết lấy gì để nuôi Sọ Dừa nữa, không biết rồi cuộc sống của hai mẹ con ta sẽ ra sao. Sọ Dừa liền nói với mẹ: “mẹ yên tâm con lớn rồi con sẽ đi ở đợ cho nhà phú hộ kiếm tiền nuôi mẹ”. Cho thấy Sọ Dừa tuy là đứa trẻ tật nguyền nhưng lại vô cùng có hiếu, là đứa con ngoan biết giúp đỡ gia đình.

Tuy Sọ Dừa mang hình hài xấu xí nhưng lại vô cùng nhanh nhẹn và hoạt bát, nên khi xin đi ở đợ cho nhà phú ông, ban đầu phú ông không nhận nhưng sau một hồi tính toán thiệt hơn, thấy Sọ Dừa nuôi cơm đỡ tốn nên nhận Sọ Dừa. Sọ Dừa hàng ngày đều đưa trâu đi ăn đồng xa, nhìn con nào con nấy đều béo tốt và khỏe mạnh, phú ông lấy làm mừng lắm, càng tin tưởng Sọ Dừa hơn. Nhà phú ông có ba cô con gái nhưng chỉ có cô út là dịu dàng, nết na, hay nhận việc mang cơm cho Sọ Dừa. Chính việc đi đưa cơm cho Sọ Dừa nên cô út mới biết được bí mật rằng Sọ Dừa là một chàng trai khôi ngô, lại còn biết thổi sáo hay nữa.

Sọ Dừa nói với mẹ mình muốn lấy con gái phú ông, vì thương con mẹ Sọ Dừa cũng qua thưa chuyện. Phú ông lấy làm điều nực cười lắm nhưng không từ chối thẳng thừng mà thách Sọ Dừa mang thật nhiều sính lễ là vàng bạc châu báu thì phú ông mới gả con gái cho. Sọ Dừa vốn dĩ là tiên xuống trần gian để thử lòng con người, vì vậy Sọ Dừa biến được nhiều vàng bạc để làm sính lễ.

 

Hai cô chị nhà phú ông thấy Sọ Dừa xấu xí, khác người thì đã lắc đầu bĩu môi không thèm nhìn, chỉ có mỗi cô út là gật đầu đồng ý. Sau khi lấy được vợ Sọ Dừa trở về hình hài là một chàng trai tuấn tú, thông minh, Sọ Dừa đã biến một ngôi nhà vô cùng khang trang, tráng lệ, có người hầu đi lại liên tục. Chính điều này đã làm cho hai cô chị nhà phú ông không khỏi tiếc nuối và nghiên tức với cô Út.

Hình ảnh Sọ Dừa khác người, hình dạng xấu xí, đã thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc, sự thương cảm và lòng ưu ái, cảm thông của nhân ta đối với những số phận thiếu may mắn, bất hạnh, khi sinh ra bị khiếm khuyết. Câu truyện cũng muốn nhắn nhủ đến mọi người không nên chỉ chú trọng vẻ bên ngoài mà đánh đồng những đức tính bên trong của con người. Sọ Dừa khiếm khuyết nhưng nhiều tài, thông minh, nhanh nhẹn. Vẻ bề ngoài không thể biểu hiện được cả mặt chất và lượng của một con người.

Qua nhân vật Sọ Dừa nhân dân ta khi xưa muốn ngợi ca tình yêu một tình yêu trong sáng, không hám danh lợi, tình yêu chung thủy, không vì cái ngoại hình bên ngoài mà chia rẽ được tình cảm lứa đôi. Vì tình yêu con người ta có thể vượt qua được tất cả những khó khăn, thử thách. Đó chính là ước muốn, thông điệp của nhân dân qua hình ảnh nhân vật Sọ Dừa.

Mẫu 2

Sọ Dừa là truyện cổ về người mang lốt vật, được truyền tụng lâu đời trong dân gian. Truyện thể hiện ước mơ đổi đời, mong muốn những điều tốt đẹp, hạnh phúc sẽ đến với người hiền lành, lương thiện và khát vọng công lí của người xưa. Truyện còn đặt ra bài học về cách đánh giá con người: Đừng nhìn hình thức bên ngoài mà vội nhận xét bản chất bên trong. Bài học ấy được gửi gắm qua hình ảnh chàng Sọ Dừa dị dạng mà tài đức vẹn toàn.

 

Sự ra đời của Sọ Dừa có nhiều nét khác thường. Bà mẹ đi rừng khát nước, uống nước trong một cái sọ dừa rồi có thai sinh ra đứa con chỉ có cái đầu tròn lông lốc, thân mình, chân tay chẳng có. Bà mẹ chỉ vì thương con nên giữ lại nuôi và đặt tên là Sọ Dừa.

 

Các tình tiết li kì về sự ra đời và hình dạng khác thường của Sọ Dừa thể hiện sự quan tâm của nhân dân đến một loại người đau khổ nhất, số phận thấp hèn nhất trong xã hội. Đau khổ, thấp hèn từ dáng vẻ bề ngoài, lại bị coi là “vô tích sự”. Hình ảnh cái đầu tròn lông lốc gợi sự thương cảm sâu xa của mọi người đối với nhân vật này.

 

Tưởng chừng Sọ Dừa là kẻ vô tích sự, nào ngờ chàng lại làm việc giỏi. Chàng thưa với mẹ hãy xin phú ông cho chàng chăn đàn bò đông đúc của ông ta. Thật khó mà tin rằng chàng làm được công việc vất vả ấy. Thế mà chỉ sau một thời gian, bò con nào con nấy bụng no căng, béo mượt khiến phú ông rất hài lòng.

 

Chăn bò cực nhọc vô cùng nhưng Sọ Dừa đã biết tạo cho mình một niềm vui… Những lúc đàn bò mải mê gặm cỏ, Sọ Dừa trút bỏ lốt quái dị, biến thành một chàng trai tuấn tú, đu đưa trên chiếc võng đào mắc giữa hai thân cây, ung dung thổi sáo. Thật là thong dong, thư thái. Lao động nặng nhọc đã trở thành niềm vui nhẹ nhàng. Sọ Dừa không những lao động giỏi mà còn tài hoa biết mấy!

 

Bất ngờ và kì lạ hơn cả là Sọ Dừa nhờ mẹ đi hỏi con gái phú ông về làm vợ. Nghèo hèn, dị dạng, lại làm đầy tớ cho nhà người ta, thế mà chàng lại dám làm điều thiên hạ cho là đũa mốc mà chòi mâm son. Bà mẹ ngạc nhiên, thậm chí sợ hãi nhưng rồi cũng phải chiều con. Phú ông bật cười mai mỉa và thách cưới một cách nghiệt ngã, tưởng chừng giàu có cỡ nào cũng không lo nổi. Hắn định bụng trừng trị mẹ con gã đầy tớ kia một cách đích đáng. Vậy mà chỉ hôm sau, Sọ Dừa có đủ sính lễ theo yêu cầu của phú ông: mười mâm lụa đào, mười con lợn béo, một vò rượu tăm, một chĩnh vàng cốm. Sọ Dừa không phải là người phàm trần, chàng đã hóa phép ra tất cả.

 

Những đòi hỏi về sính lễ của phú ông có ý nghĩa như là một thử thách ban đầu mà Sọ Dừa phải vượt qua. Phú ông hoa mắt vì tham, nhưng rõ ràng vẫn ngần ngại, đo đó mới có chi tiết: Lão lúng túng nói với bà cụ: – Để ta hỏi con gái ta, xem có đứa nào ưng lấy thằng Sọ Dừa không đã. Điều lão không ngờ đã xảy ra là trong khi hai cô chị bĩu môi chê bai, thi cô út đồng ý lấy Sọ Dừa. Thế là phú ông đành phải nhận lễ và gả cô út cho Sọ Dừa.

 

Khác với hai cô chị, cô út nhận biết được thực chất vẻ đẹp bên trong của Sọ Dừa nên đã thuận lòng lấy chàng. Trong truyện này, bên cạnh nhân vật chính là Sọ Dừa, cô Út cũng là nhân vật đáng chú ý. Hai cô chị vốn tính ác nghiệt, đỏng đảnh nên thường hắt hủi Sọ Dừa. Cái định kiến sâu sắc về sự thấp kém, về sự dị hình và vô dụng đã khiến hai cô chị không thể nhìn thấy được bản chất tốt đẹp của Sọ Dừa.

 

Cô Út hiền lành, tính hay thương người. Ngay cả khi chưa biết gì về những điều kỳ lạ của Sọ Dừa, cô vẫn đối xử với Sọ Dừa rất tử tế. Phép lạ của Sọ Dừa có được là nhờ sự kết hợp của hai yếu tố: thứ nhất là dưới bề ngoài xấu xí, thực chất Sọ Dừa là chàng trai khôi ngô, tài giỏi và thứ hai là lòng thương người của cô Út. Chính lòng thương người ấy giúp cô có dịp thấy được bên trong cái hình hài sọ dừa lăn lóc là một chàng trai khôi ngô, tài giỏi. Cô út trỏ thành bà Trạng là phần thưởng xứng đáng mà truyện cổ thường dành cho những người nhân hậu.

 

Như vậy, ở truyện này, giá trị,cao quý của con người không chi thể hiện ở nhân vật Sọ Dừa mà còn thể hiện ở nhân vật cô út. Nhờ cô út, giá trị của Sọ Dừa mới có thể bộc lộ và phát triển. Cưới được con gái út phú ông, Sọ Dừa đã xóa được cái hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo, giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới trong hôn nhân thời phong kiến. Bằng tài năng, đạo đức của mình, chàng buộc phú ông phải chịu thua. Đến lúc này, chẳng cần phải tiếp tục giấu mình trong cái lốt xấu xí nữa, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai khôi ngô, đẹp đẽ và càng tỏ ra có tài, có đức. Chàng học giỏi, thông minh khác thường và thi đỗ Trạng nguyên rồi được nhà vua cử đi sứ ở nước ngoài. Chàng đã đạt tới tột đỉnh danh vọng cao sang. Sọ Dừa đã đem đến cho người đọc những bất ngờ hết sức thú vị.

 

Nhưng hạnh phúc của chàng bị đe dọa bởi lòng đố kỵ và sự ghen ghét của những kẻ lòng dạ xấu xa. Hai cô chị vốn khinh rẻ Sọ Dừa, nay thấy chàng thành đạt lại rắp tâm hãm hại em gái để được làm vợ quan trạng. Mưu mồ của chúng thật hiểm độc nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, Sọ Dừa đã dự đoán và lo xa được tất cả. Trước khi lên đường, chàng chuẩn bị chu đáo cho vợ: con dao, hai quả trứng, hòn đá lửa… để phòng thân.

 

Quả nhiên, khi nàng út bị hãm hại, các thứ đó đều có ích cho nàng. Dao đâm chết cá kình, đá đánh ra lửa nướng cá làm thức ăn. Đặc biệt là hai quả trứng nở ra hai con gà sớm hôm bầu bạn với nàng và tiếng gáy của chú gà trống đã báo cho quan trạng biết mà ghé vào đảo hoang cứu vợ. Không chi có tài và trí, Sọ Dừa còn là người nhân đức và độ lượng. Trở về quê hương, chàng mở tiệc mừng sum họp. Mặc dù biết rõ lòng dạ độc ác của hai người chị nhưng chàng không một lời trách cử, chi lặng lẽ đưa vợ ra chào. Hai người chị xấu hổ, nhục nhã, âm thầm trốn đi. Vậy là quan trạng Sọ Dừa có đủ cả tài, đức, trí. Chàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc.

 

Người xưa đã thành công khi miêu tả hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật Sọ Dừa có sự đối lập đến mức kỳ lạ. Dưới cái lốt kì quái, Sọ Dừa có đủ vẻ đẹp cả về hình dáng lẫn tài năng, phẩm chất tuyệt vời. Sự đối lập ấy khẳng định cái đáng quý là phẩm chất bên trong và đề cao giá trị của con người chân chính.

 

Trong xã hội phong kiến trọng người giàu sang, khinh kẻ nghèo hèn, người lao động khó lòng vượt qua số phận tăm tối của mình. Cho nên sự biến đổi kỳ diệu của Sọ Dừa chính là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú, thể hiện sức sống và tinh thần lạc quan mãnh liệt của nhân dân lao động. Còn sống là còn hy vọng, còn mơ ước, còn tin tưởng vào chiến thắng tất yếu của lòng tốt và sự công bằng trước sự độc ác, bất công của cuộc đời.

Mẫu 3

Truyện cổ tích là loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc như nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật. Tuy các nhân vật trong chuyện cổ tích có sự đa dạng về hình hài, số phận nhưng đều có đặc điểm chung là chúng được xây dựng nhằm thể hiện những ước mơ niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công. Truyện cổ tích “Sọ Dừa” là một câu chuyện về đề tài “người đội lốt vật”, qua đó các tác giả dân gian đã khẳng định vẻ đẹp chân chính của con người, cũng như sự đồng cảm đối với những con người có số phận bất hạnh trong xã hội.

 

Trước hết, Sọ Dừa có một sự ra đời vô cùng kì lạ, một lần vào rừng hái củi, mẹ của Sọ Dừa đã uống nước ở trong một cái sọ dừa bên gốc cây, từ hôm đó về nhà bà hoài thai và sinh ra Sọ Dừa. Và khi sinh ra Sọ Dừa cũng có một hình dáng vô cùng kì lạ “…một đứa bé không chân, không tay, tròn như một quả dừa”, và khi người mẹ có ý định vứt bỏ thì đứa bé kì lạ này còn biết cất tiếng gọi đầy tha thiết, tội nghiệp “Mẹ ơi, con là người đây. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp”. Đây là một tình tiết đầy kì lạ, bởi Sọ Dừa không chỉ có hình dáng khác người mà dường như cũng trưởng thành hơn, không giống như những đứa trẻ mới sinh. Có lẽ đây cũng chính là đặc điểm của những câu chuyện cổ tích, các tác giả dân gian xây dựng những yếu tố kì lạ để thể hiện những quan niệm thực, cách nhìn nhận, đánh giá rất thực về con người, về nhân sinh.

 

Sọ Dừa dù lớn cũng không khác gì lúc nhỏ, lúc nào cũng lăn lông lốc trong nhà, không làm được việc gì, khiến cho bà mẹ phải lên tiếng than phiền “Con nhà người ta bảy, tám tuổi đã đi ở chăn bò. Còn mày chẳng được tích sự gì”. Tuy nhiên, Sọ Dừa không phải là người “không được tích sự” gì như bà mẹ cũng như mọi người suy nghĩ. Ở Sọ Dừa luôn có sự trưởng thành hơn những đứa trẻ cùng trang lứa, thể hiện ngay trong lời nói và hành động của chàng “Gì chứ chăn bò thì con cũng chăn được. Mẹ cứ nói với phú ông cho con đến ở chăn bò”. Ý kiến này của chàng không chỉ khiến cho người mẹ bất ngờ mà còn khiến cho phú ông hoài nghi, thậm chí coi thường “..cả đàn bò giao cho thằng bé người không ra người, ngợm không ra ngợm ấy, chăn dắt làm sao?”.

 

Nhưng trái lại với sự coi thường, dè bỉu của phú ông, Sọ Dừa chăn bò rất giỏi, hàng ngày Sọ Dừa thả bò ra đồng, tối lại dắt về, không thiếu một con “…bò con nào con nấy bụng no căng”. Theo thời gian, Sọ Dừa cũng trưởng thành, chàng cũng có những mong muốn như bao chàng trai bình thường nào khác, đó chính là khát khao về tình yêu, về hạnh phúc. Cô con gái út của phú ông là người hiền lành, tốt bụng nhất trong ba chị em con phú ông, cô không dè bỉu, coi thường, cũng là người duy nhất tình nguyện mang cơm cho Sọ Dừa, trong một lần mang cơm, cô đã nghe thấy tiếng sáo véo von, khi đến gần thì thấy một chàng trai khôi ngô đang ngồi thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ.

 

Đây cũng là lần đầu tiên, con người thật của Sọ Dừa được khám phá, không phải với lốt vật như mọi người vẫn thấy. Từ đó mà cô út đem lòng yêu mến Sọ Dừa. Biết được tấm chân tình của cô gái mà Sọ Dừa về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Ý muốn này thật khó thực hiện, làm cho bà mẹ không khỏi sửng sốt. Vì nếu Sọ Dừa có hình hài như một người bình thường, nhưng với một gia cảnh nghèo khó đã không thể lấy vợ, bởi quan niệm “môn đăng hậu đối” trong xã hội xưa rất khắt khe, hơn nữa đây còn là con gái của phú ông, mà Sọ Dừa cũng đâu phải người bình thường, hình hài của chàng luôn nhận sự coi thường, dè bỉu, đặc biệt là từ phú ông.

 

Sọ Dừa vốn không phải người bình thường, vốn ẩn giấu những điều kỳ lạ, sức mạnh kì lạ, vì vậy mà những sính lễ mà phú ông đưa ra, gồm “ …một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm” thì cũng không làm khó được Sọ Dừa. Khi chàng mang sính lễ sang bên nhà phú ông, lão đã rất bất ngờ, bị cho những sính lễ ấy làm cho hoa mắt. Lão hỏi con gái xem ai chịu lấy Sọ Dừa, như tính cách kiêu kì vốn có, ác nghiệt vốn có thì cô cả và cô hai không ai chịu lấy Sọ Dừa, chỉ có cô út đồng ý. Đám cưới của Sọ Dừa và cô út cũng vô cùng linh đình, gia nhân chạy ra vào tấp nập, vì vậy mà những người chị độc ác vô cùng ghen tức, có phần tiếc nuối vì khi ấy không chịu lấy Sọ Dừa.

 

Cuộc sống của vợ chồng Sọ Dừa vô cùng hạnh phúc, hơn nữa chàng còn ngày đêm đèn sách, chờ khoa thi. Và đúng như dự đoán, Sọ Dừa đã đỗ trạng nguyên, vua sai chàng đi sứ. Vốn là người thông minh, lại có cảm giác bất an nên Sọ Dừa đã đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải luôn mang trong người, phòng khi phải dùng đến. Quả nhiên như vậy, khi Sọ Dừa đi thì hai bà chị đã nhẫn tâm hại cô em gái, ý định muốn thay em làm bà trạng. Nhưng vì đã có những vật dụng mà Sọ Dừa đã đưa mà cô vợ có thể thoát khỏi kiếp nạn này. Không những thế, đó còn là những vật dụng giúp Sọ Dừa tìm được vợ.

 

Như vậy, nhân vật Sọ Dừa là kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích, đây là kiểu nhân vật khá quen thuộc trong truyện cổ tích của Việt Nam. Thông qua nhân vật này, các tác giả dân gian muốn đề cao giá trị của con người, đồng thời thể hiện sự đồng cảm với những con người bất hạnh trong cuộc sống. Các tác giả cũng thể hiện niềm tin cũng như khát vọng về lẽ công bằng ở đời, theo đó những con người thiện lương, tốt bụng sẽ được hưởng hạnh phúc, người có dã tâm độc ác sẽ phải nhận lấy những quả báo.

Mẫu 4

Truyện cổ tích "Sọ Dừa" là một câu chuyện ly kỳ hấp dẫn, mang nhiều yếu tố hoang tưởng thần kỳ vô cùng phong phú. Sọ Dừa là một truyện cổ tích do trí tưởng tượng của tác giả dân gian xây dựng lên, nhưng nó nói lên ước mơ khát vọng của người dân lao động xưa. Nhân vật Sọ Dừa đại diện cho mong ước của người nông dân lao động nghèo khổ. Nhân vật Sọ Dừa được ra đời một cách ly kỳ mang yếu tố kỳ ảo. Có một bà mẹ hiếm muộn đã lâu chưa có con một hôm bà đi làm đồng khát nước quá nhìn thấy nước mưa chứa trong một cái sọ dừa bà liền uống.

 

Về nhà bà mang thai rồi để ra một cậu bé trai không có chân tay, chỉ có mỗi cái đầu, tròn lăn như sọ dừa. Bà liền đặt tên con trai mình là Sọ Dừa. Năm Sọ Dừa được chừng 7-8 tuổi trong nhà ngày càng khó khăn. Mẹ Sọ Dừa mới tâm sự với con nhà mình càng ngày càng nghèo không biết mẹ con ta sẽ sống sao? Thì Sọ Dừa liền nói với mẹ rằng "mẹ yên tâm con lớn rồi con sẽ đi ở đợ cho nhà phú hộ kiếm tiền nuôi mẹ." Điều này cho thấy Sọ Dừa là nhân vật có hiếu với cha mẹ, là người biết tự lập từ khi còn rất nhỏ.

 

Sọ Dừa xấu xí nhưng nhanh nhẹn, chàng xin mẹ cho đi làm chăm trâu cho gia đình phú hộ gần nhà, phú hộ lúc đầu không muốn nhận nhưng nghĩ nuôi Sọ Dừa ít tốn cơm hơn nên nhận lời cho làm thử. Sọ Dừa ngày ngày đi chăn trâu, ở rất xa, khi về con nào con đó đều béo khỏe, phú hộ vui lắm. Nhà phú hộ có ba cô con gái nhưng hai cô chị kiêu ngạo, đánh đá chỉ có cô em út hiền lương, dịu dàng thường mang cơm cho Sọ Dừa. Cô út nhiều lần mang cơm đã phát hiện ra sự việc lạ đó là Sọ Dừa thực ra là một chàng trai vô cùng khôi ngô tuấn tú, có tài thổi sáo rất hay.

 

Sọ Dừa nhờ mẹ mình sang hỏi con gái phú hộ cho mình. Phú hộ buồn cười lắm nhưng mà ông ta cũng đồng ý với điều kiện nhà Sọ Dừa phải lo được nhiều vàng bạc châu báu thì mới được cưới con gái lão. Bởi lão nghĩ nếu từ chối thẳng thừng thì không hay lắm nên cứ thách cưới thật cao, cho mẹ con nhà Sọ Dừa bỏ cuộc bởi nhà Sọ Dừa nghèo khó lấy đâu ra vàng bạc châu báu mà cưới con gái lão.Nhưng lão phú hộ đã nhầm, Sọ Dừa thực ra là người tiền xuống trần gian thử lòng người, nếu ai tốt thì gặp may mắn hạnh phúc, còn ai xấu xa thì phải trả giá. Chính vì vậy, Sọ Dừa đã biến ra nhiều vàng bạc để tới hỏi cưới con gái phú hộ.

 

Nhưng hai cô chị vừa thấy Sọ Dừa là đã bĩu môi, lườm nguýt chẳng thèm nhìn một lần. Họ chỉ thấy Sọ Dừa là một cục thịt có mỗi cái đầu lăn đi lăn lại như trái bóng, khác nào một tên tàn phế, dị hợm, nên không bao giờ thèm ngó tới Sọ Dừa, chỉ có cô con gái út của phú hộ là e thẹn đồng ý. Sau khi lấy vợ Sọ Dừa trút bỏ bộ dạng xấu xí biến thành chàng trai khôi ngô, học giỏi, biến ngôi nhà lụp xụp của mẹ mình thành nhà cao cửa rộng khang trang có người hầu kẻ hạ. Khiến hai cô chị con gái phú hộ ganh ghét đố kỵ với em út của mình.

 

Đằng sau nhân vật Sọ Dừa xấu xí chính là tấm lòng nhân đạo chứa đựng nhiều lòng chắc ẩn của người dân xưa với những con người bị hẩm hiu số phận thiếu may mắn cho họ một vẻ bề ngoài xấu xí. Tác giả dân gian xưa muốn khuyên nhủ con người không nên nhìn vẻ bên ngoài mà đánh giá con người bên trong. Sọ Dừa tuy xấu xí nhưng tài giỏi, mưu trí, thông minh nhanh nhẹn hơn người.Ngoài ra, thông qua nhân vật Sọ Dừa tác giả dân gian xưa muốn ca ngợi tình yêu thật lòng chung thủy, không vì tiền bạc, hoặc ngoại hình bên ngoài tình yêu nam nữa có thể vượt qua mọi rào cản ranh giới giàu nghèo, xấu đẹp để tới với nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc.

 

Nó chính là mong ước, khát vọng của người xưa muốn nhắn gửi thông qua nhân vật Sọ Dừa. Dù nhân vật Sọ Dừa xấu xí nhưng lại thông minh, có tài thổi sáo vô cùng hay, có tài chăn bò rất giỏi có sự nhanh nhẹn hoạt bát. Đừng nhìn vẻ bề ngoài mà vội vàng kết luận đánh giá một con người, hoặc làm tổn thương ai đó vì vẻ bề ngoài không được đẹp đẽ của họ, thể hiện sự nhân văn của tác giả dân gian với những số phận chịu bất hạnh trong cuộc sống.

Mẫu 5

Trong các truyện cổ tích Đông Tây thường có những người, và bên ngoài xấu xí đến ghê tởm, nhưng chính đó lại là trai tài, gái sắc. Có lẽ là tác giả hư cấu ra như vậy để thử thách người chỉ biết nhìn cái vỏ ngoài mà không chú ý đến thực chất bên trong chăng?

 

Sọ Dừa là một nhân vật như vậy. Sinh ra dị dạng nhưng thực ra là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, có tài nghệ, lao động lại giỏi giang: Chuyện đó không ai biết cả, từ mẹ chàng cho đến phú ông thuê chàng ở chăn bò. Phú ông có ba người con gái thì hai cô chị cũng không biết, chỉ cô em út biết mà thôi. Vì thế mà hai cô chị đối với chàng tỏ ra khinh thường, còn cô em út thì đem lòng yêu mến, bằng lòng lấy Sọ Dừa khi Sọ Dừa cầu hôn.

 

Phú ông tưởng cứ thách cưới cho to là mẹ con Sọ Dừa, nhà nghèo lấy đâu ra mà sửa sang đô sính lễ! Chẳng ngờ, Sọ Dừa đưa đầy đủ những gì phú ông thách cưới. Lúc này Sọ Dừa mới biến thành một chàng trai tuấn tú. Rồi chàng dùi mài kinh sử, gặp khoa thi, đỗ Trạng nguyên, được bổ làm quan.

 

Bấy giờ hai cô chị vốn ác nghiệt, chua ngoa với Sọ Dừa rắp tâm hại em để cướp chồng em, thay em làm bà Trạng! Nhân khi quan Trạng đi sứ, ở nhà hai cô chị lập mưu xô em xuống sông, giữa dòng nước xoáy. Nhưng trời không để nàng chết. Nàng trôi dạt vào một đảo hoang. Đến khi thuyền quan Trạng đi sứ trở về qua thì hai vợ chồng lại gặp nhau. Tất nhiên, hai cô chị xấu hổ, bỏ trốn đi biệt xứ.

 

Truyện có nhiều tình tiết hoang đường như Sọ Dừa lúc sinh ra chỉ là một cục thịt, không có tay chân, nhưng biết nói, biết chăn bò, vv... Hoặc như quan trạng biết trước vợ sẽ gặp tai nạn nên lúc ra đi, đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà. Nhờ có những thứ ấy mà cá kình nuốt vào bụng, nàng không chết, lại lấy dao mổ bụng cá chui ra, vv... Nhưng ý nghĩa truyện thì rõ ràng: "Người chăm chỉ lao động sẽ được đền bù; người hiền hậu sẽ được hưởng hạnh phúc. Chỉ có kẻ ác độc mới phải chịu số phận hẩm hiu".

Mẫu 6

Trong truyện cổ tích Sọ Dừa ngoài nhân vật chính là Sọ Dừa thì nhân vật cô Út cũng là một nhân vật đáng được nhắc đến hơn cả. Cô Út là hiện thân cho hình mẫu phụ nữ tiêu biểu của thời kỳ phong kiến, hiền lành, dịu dàng, công dung ngôn hạnh, tài đức có đủ.

 

Trong truyện cô Út xuất hiện lần đầu bằng những dòng rất vắn tắt “hiền lành, tính hay thương người, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế”, người ta không đề cập đến nhan sắc của cô, nhưng có lẽ đây là một người con gái có vẻ đẹp dịu dàng. Sọ Dừa vốn mang một hình hài quái dị, trong thực tế nếu là ai thì cũng có phần kiêng dè, nhưng chỉ có riêng mình cô Út lại không như thế, hẳn cô ấy phải có một lấm lòng nhân hậu và một tình thương vô bờ bến, cảm thông sâu sắc trước cảnh tội nghiệp của chàng, càng vì thế cô lại càng dặn lòng phải đối xử tử tế với Sọ Dừa. Người tốt thì thường được trời thương, cô Út may mắn thấy được hình dáng thực sự của Sọ Dừa, chàng vốn chẳng phải người phàm trần, mà là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, lâu nay vẫn ẩn núp trong cái sọ dừa, lại có tiếng sáo làm say lòng người. Trái tim của cô gái hiền lành, tốt bụng ấy chẳng biết từ lúc nào đã âm thầm cảm mến chàng trai, yêu thương chàng mà không cầu mong điều chi, chỉ lặng lẽ chăm sóc “có của ngon vật lạ đều giấu đem hết cho chàng”.

 

Cô Út không biết được rằng Sọ Dừa vốn đã nhìn thấu tâm tư của cô nàng qua sự ân cần chăm sóc, chàng hỏi cưới con gái của phú ông, nhưng không chỉ rõ là ai, mục đích là muốn xác nhận xem cô Út có muốn là người đi cùng chàng suốt đời hay không. Lẽ dĩ nhiên, một người con gái như Út, bỗng được người mình thầm yêu bấy lâu ngỏ ý cầu hôn, thì bụng bảo dạ “e lệ, cúi mặt xuống, tỏ ý bằng lòng”. Chi tiết này cho thấy cô Út là người rất ngoan hiền, ở cô có sự e ấp, ngượng ngùng đúng kiểu thiếu nữ thời xưa. Có câu “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu”, cô Út rất vâng lời cha, cô chưa bao giờ cãi lời hay tỏ thái độ không bằng lòng, vô cùng nhu mì và đúng mực, không giống như hai cô chị vừa chanh chua lại chỉ biết coi thường người khác. Và với những đức tính tốt đẹp cùng lòng yêu thương, cô đã có một cuộc hôn nhân viên mãn, bên cạnh một chàng trai tài giỏi.

 

Sóng gió ập đến khi, Sọ Dừa nay đã trở thành trạng nguyên và được cử đi sứ, cô Út ở nhà một mình cùng với hòn đá lửa, hai quả trứng và con dao găm mà chồng cho. Hai cô chị bộc lộ dã tâm muốn làm bà trạng, bèn hợp mưu giết cô em, đẩy cô xuống biển cho chết đuối. May thay dù bị cá kình nuốt chửng nhưng cô Út vẫn đủ sự bình tĩnh và dũng cảm, lấy ra con dao găm chồng cho để rạch bụng cá chui ra và bơi vào bờ, rồi lại cực kỳ thông minh, sáng tạo khi tận dụng luôn thịt con cá Kình để làm nguồn thức ăn duy trì sự sống, hòn đá lửa chính là công cụ để cô nấu chín thức ăn. Tuy không nhắc nhiều đến cuộc sống của cô trên đảo nhưng có thể thấy được rằng cô Út là một người phụ nữ kiên cường, ở cô có sự lạc quan, yêu đời, cô sống rất thong dong, thậm chí còn ấp được một đôi gà đẹp để vui vầy làm bạn, và hàng ngày cô vẫn tìm cách để trở về, chưa bao giờ nản chí. Nếu như đặt vào một người phụ nữ khác chưa chắc đã có đủ bình tĩnh và bản lĩnh như cô Út, một thân một mình trên đảo hoang, mà có lẽ đã chết ngay từ trong bụng cá rồi cũng nên.

 

Sau bao trắc trở cuối cùng cô Út cũng gặp lại chồng, hai người lại sống một cuộc sống êm đềm hạnh phúc, còn kẻ gây tội ác thì mãi mãi phải đi biệt xứ. Ở đây không thấy nhắc đến chi tiết trả thù của cô Út, có lẽ xuất phát từ tấm lòng nhân hậu, bao dung của cô, nể tình chị em cô Út đã bỏ qua, dù trước kia hai cô chị toan giết mình. Điều đó lại càng làm cho hai cô chị cảm thấy tội lỗi chồng chất, bèn bỏ đi biệt tích, không quay lại. Chi tiết này đề cao tính nhân văn, triết lý của câu chuyện, cách trả thù tốt nhất là sự tha thứ xuất phát từ lòng khoan dung.

 

Như bao câu chuyện cổ tích khác, Sọ Dừa đem đến cho chúng ta một câu chuyện hấp dẫn và đặc sắc, với chi tiết cái sọ dừa hóa thành chàng trai tài giỏi. Đồng thời đây cũng là một bài học đáng giá trong cuộc sống, giáo dục cho chúng ta những triết lý nhân sinh sâu sắc, ở hiền thì gặp lành, ở ác thì không bao giờ có được kết cục tốt đẹp. Ngoài ra còn cho chúng ta thấy lòng nhân hậu sẽ đem đến cho chúng ta nhiều điều tuyệt vời, trong truyện là nhân vật cô Út với tấm lòng thiện lương cuối cùng có một người chồng tài giỏi lại yêu thương cô hết mực, cuộc sống viên mãn đủ đầy.

Mẫu 7

Từ thuở em còn bé tí, bà nội đã kể cho em nghe bao câu chuyện cổ thật hay. Những nhân vật hiền lành, tài năng như Thạch Sanh, cô Tấm, An Tiêm, Lang Liêu… đã để lại trong tâm trí em ấn tượng sâu sắc. Truyện Sọ Dừa cũng là một cổ tích lí thú. Nhân vật phú ông trong truyện có ba người con gái, nhưng hạnh phúc không đến với hai cô chị mà chỉ đến với cô Út bởi cô hiền lành nhân hậu, xứng đáng được hưởng hạnh phúc.

 

Cô Út là người giàu lòng nhân ái. Cô chẳng nề hà gì khi phải mang cơm cho người đầy tớ chăn bò ở tận trên núi cao. Dù Sọ Dừa dị dạng, xấu xí, cô vẫn đối xử ân cần tử tế. Cô thương người như thể thương thân. Những người bất hạnh, sinh ra đã kì hình dị tướng, thường hay buồn tủi. Chỉ cần một chút cảm thông, trân trọng như thái độ của cô Út cũng đủ đem lại cho họ niềm an ủi lớn lao.

 

Cô Út là người có trái tim vàng. Chính trái tim nhân hậu đó đã cho cô một cách nhìn đời, nhìn người hết sức đúng đắn. Từ những buổi đưa cơm lên núi cho Sọ Dừa, cô đã được chứng kiến chàng có tài thổi sáo tuyệt vời. Tiếng sáo đã nói lên tâm tư, ước vọng của chàng. Cô Út lắng nghe và nhận ra điều đó. Cũng từ đấy cô phát hiện ra điều bí mật của Sọ Dừa. Bên trong cái lốt xấu xí là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, tài hoa. Cũng giống như ở đời, có biết bao tâm hồn cao thượng ẩn giấu dưới hình dạng cục mịch quê mùa. Việc làm của cô Út đã nhắc nhở mọi người chớ nhìn dáng vẻ bề ngoài mà đã vội nhận xét phẩm chất bên trong.

 

Cô Út đã hành động theo sự mách bảo của con tim. Cô nhận lời lấy Sọ Dừa trong sự dè bỉu, khinh thường của gia đình, nhất là của hai cô chị. Khi mẹ con Sọ Dừa mang lễ vật sang cầu hôn, phú ông rất lúng túng vì không muốn gả con cho kẻ đầy tớ hèn mọn. Nhưng vốn tham lam, trước bao nhiêu lễ vật quý giá, lão cũng không dám chối từ. Lão đã gọi ba cô con gái lên hỏi ý kiến. Hai cô chị bĩu môi khinh bỉ, chỉ có cô Út e lệ tỏ ý bằng lòng. Bởi vì cô đã nhận ra phẩm chất đẹp đẽ của Sọ Dừa và đem lòng yêu mến chàng. Trong xã hội phong kiến thời xưa, hành động đó chứng tỏ cô là một phụ nữ thông minh và dũng cảm, dám vượt lên những định kiến khắt khe.

 

Vì nhân hậu, thương người nên cô Út đã vui vẻ chấp nhận cùng Sọ Dừa kết duyên đôi lứa. Hạnh phúc thật sự đã mỉm cười với cô. Sọ Dừa thi đỗ Trạng nguyên, cô Út thành bà Trạng. Nhưng hai cô chị sinh lòng ghen ghét đã lập mưu hãm hại em. Cô Út không thể chết. Sóng biển đã đưa cô dạt vào một hòn đảo vắng. Những đồ vật nhỏ bé thân thuộc cô đem theo bên mình đã giúp đỡ cô. Con dao và hòn đá đánh lửa đã giúp cô sống được giữa đảo hoang. Đôi gà nhỏ trở thành bầu bạn chia sẻ buồn vui cùng cô. Cô Út bền gan vững chí, ngày đêm trông ngóng người chồng yêu quý. Nghị lực, tình yêu và lòng chung thủy tăng thêm sức mạnh cho cô. Cuối cùng, cô Út đã được sum họp cùng quan trạng. Kết thúc có hậu ấy làm thỏa lòng mong ước của bao người từng nghe truyện Sọ Dừa.

 

Hàng ngàn năm đã trôi qua nhưng hình ảnh cô Út đẹp người đẹp nết đã in sâu trong tâm trí bao người. Truyện Sọ Dừa mãi mãi được người Việt Nam thích thú và truyền tụng.

Mẫu 8

Khi nhắc tới câu chuyện Sọ Dừa, truyện cổ tích nổi tiếng và vô cùng thân thuộc của Việt Nam thì không ai không biết, ngoài Sọ Dừa thì Cô út nhân vật chính trong truyện là một trong những điển hình đại diện cho người con gái xưa: đoan trang, hiền hậu, nết na, thùy mị, một lòng vì chồng nhưng cũng vô cùng sắc sảo và thông minh.

 

Khác với 2 cô chị đanh đá, tham lam và vô cùng ác nghiệt, luôn hắt hủi và khinh rẻ Sọ Dừa thì cô út lại được khắc họa là người con gái hiền dịu, tốt bụng, luôn sống vì người khác, không ngại khổ, ngại khó. Trong những câu văn đầu miêu tả cô út hiện lên thật xinh đẹp như tiên giáng trần lại còn trong sáng. Lúc đầu cô đâu biết Sọ Dừa là chàng thanh niên đẹp trai, tuấn rú đâu chỉ biết anh vẫn mang trong mình cái vỏ dừa làm vỏ bọc bên ngoài xấu xí và kỳ dị nhưng dù là con giá phú ông nhưng cô chưa bao giờ xem thường hay kinh bỉ chàng mà ngược lại luôn đối đãi với chàng rất tử tế, qua việc này cho thấy cô không những là người hiền lành mà còn biết thương người. Cô vẫn đều đặn mang cơm cho chàng, không thiếu bữa nào, ngược lại thì hai cô chị lúc nào cũng tỏ ra ta là con người ông chủ, xem thường và kinh bỉ Sọ Dừa, nói tới việc mang cơm tới cho chàng là họ tỏ thái độ ngay, môi thì trễ xuống.

 

Nhắc tới chuyện cưới xin khi phú ông có thiện chí gả con gái cho Sọ Dừa, cô thì lúc nào cũng ngoan ngoãn bố bảo như thế nào thì nghe như thế đó, mà nói chung là cô cũng có thiện cảm ngay từ đầu với chàng rồi, và nhận ra chàng không hề tầm thường như người ta nhìn nhận về anh mà cô cảm nhận được sự phi thường trong con người của chàng. Cho thấy cô là người của ông chủ, có cơ đồ, giàu sang phú quý nhưng chưa bao giờ khinh bỉ và miệt thị ai hết, đồng thời cũng cho thấy sự sắc sảo và thông minh của cô khi nhìn nhận về con người nào đó, không phải ai cũng có thể có được tố chất này.

 

Rồi một ngày, cô út vẫn thường lệ đưa cơm cho Sọ Dừa, ngạc nhiên không thấy bóng dáng chàng ở đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô, tuấn tú ngồi thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ, sau hôm đấy chàng trai của chúng ta như biết được tâm tư của cô út trẻ liền đòi mẹ sang nhà phú ông xin cưới, mẹ chàng cũng hoảng hốt không tin nhưng rồi cũng đồng thuận theo con sang xin nhà phú ông cho con trai mình, nghe tin phú ông ngạc nhiên vô cùng nên nảy ra ý định thách cưới vì biết là hoàn cảnh của chàng sẽ không bao giờ đáp ứng nổi sính lễ đâu, nhưng ông đã nhầm mẹ chàng đã mang đầy đủ sính lễ cưới hỏi ngay tới trước mặt ông, ông đành ngậm ngùi bảo ba cô con gái ra cho các on lựa chọn, hai cô chị thì mặt phụng phịu, đùn đẩy mãi, còn tới cô út thì gật đầu ngay, đám cưới diễn ra trong sự bàng hoàng của mọi người, chàng Sọ Dừa ghê sợ kia đâu mà trước mắt họ là chàng trai đẹp tới mê hồn, hai người thật xứng đôi vừa lứa, còn hai cô chị tức lắm. Qua vụ việc cho thấy cô út là người con hiếu thảo, luôn nghe lời bố mẹ, là người vợ hiền dâu thảo.

 

Họ về sống với nhau, Sọ Dừa quyết tâm thi đỗ trạng nguyên, trong một lần lên kinh vì được vua trọng dụng mời đến, trước khi đi chàng đưa cho vợ một con dao, một hòn đá lửa, hai quả trứng và dặn luôn phải mang theo bên mình, cô út luôn vâng lời và nghe theo sự chỉ bảo của chồng, đúng như dự báo của Sọ Dừa hai cô chị âm mưu sát hại cô út để cướp chồng, họ cố tình đẩy cô xuống biển, bị cá ăn thịt nhưng trong lúc nguy hiểm cô nhớ ra vật dụng mà chồng cô đã bảo cô mang bên người, cô liền lấy con dao rạch bụng cá kình chết, xác của nó dạt vào bờ, cô leo lên bờ thì hai quả trứng nở ra một trống một mái, còn hòn lửa thì cô dùng để sưởi ấm.

 

Ông cha ta bảo chưa bao giờ sai, ở hiền thì gặp lành, ở ác ắt gặp quả báo, hai cô chị thì cuối cùng nhận cái kết cay đắng, cô út là nhân vật đáng được ngợi ca.

Mẫu 9

Kho tàng truyện dân gian Việt Nam không chỉ để lại cho chúng ta những bài học mang ý nghĩa sâu sắc mà những nhân vật được tạo dựng trong mỗi tác phẩm đều để lại ấn tượng khó quên đối với người đọc. Nhân vật cô em Út trong tác phẩm “Sọ Dừa”đã để lại cho em thiện cảm về lòng tốt, tình yêu thương, bao dung, độ lượng của cô.

 

Cô em út là một nhân vật mờ trong tác phẩm Sọ Dừa, tuy nhiên lòng nhân ái và sự độ lượng của cô thật đáng trân trọng. Cô là con gái út của phú ông trong một gia đình có ba chị em gái. Sinh ra trong một gia cảnh giàu có, đầy đủ giai nhân, kẻ hầu người hạ, lại được phú ông nuông chiều nhưng không vì thế mà cô mang dáng dấp tiểu thư, yểu điệu. Cô chẳng quản ngại trời trưa, nắng gắt, đường sá xa xôi, nguy hiểm để mang cơm cho người đầy tớ chăn bò ở sau núi.Mặc dù hai cô chị hắt hủi, ghét cay ghét đắng Sọ Dừa bởi thân hình xấu xí, dị dạng nhưng cô thì không hề, ngược lại còn yêu thương, đồng cảm với chàng. Cô em út có tấm lòng thương người như thể thương thân, thật đáng trân trọng.

 

Sọ Dừa sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, lại còn xấu xí, dị nhân. Chính tấm lòng cảm thông, chia sẻ cao cả của cô em út đã giúp cho Sọ Dừa nhận được sự an ủi đáng trân trọng, trái tim của cô đã soi sáng cuộc sống đầy thiệt thòi, bất hạnh của Sọ Dừa.

 

Cô út là một người có tâm hồn cao cả, trong sáng và độ lượng. Chính trái tim nhân hậu giúp nàng có cái nhìn đúng đắn về con người, về cuộc đời. Những buổi trưa hè nắng gắt, cô không quản ngại khó khăn, nguy hiểm mang cơm cho Sọ Dừa và được chứng kiến tài thổi sáo của chàng thật tuyệt vời. Và cũng từ đây, cô phát hiện ra bí mật của Sọ Dừa. Bên ngoài cái lốt xấu xí, dị dạng là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Phía sau lớp vỏ sần sùi là một tâm hồn thật đẹp. Chính chi tiết này nhắc nhở chúng ta không nên nhìn con người với vẻ bề ngoài, đánh giá con người qua hình thức mà cần nhìn sâu trong tâm hồn, thế giới bên trong.

 

Khi Sọ Dừa và mẹ chàng đến ngỏ lời xin cưới, cô út gật đầu e lệ, tỏ ý bằng lòng mà không có ý kiến gì. Trước sự chê bai, hắt hủi của hai cô chị, sự khinh thường nghèo khổ, xấu xí của phú ông thì cô út lại đồng ý không một chút do dự. Hành động đó chứng tỏ cô út chấp nhận gắn kết cuộc đời mình với Sọ Dừa, đồng thời lúc đó cô đã phát hiện ra Sọ Dừa là một chàng trai tuấn tú chứ không hề xấu xí như mọi người nhìn bề ngoài. Trước sự nghèo khổ của mẹ con Sọ Dừa, cô bất chấp định kiến xã, gia cảnh khó khăn để đi theo con tim, ta thấy được quyết định thông minh, đúng đắn và dũng cảm của nhân vật cô em út khi đi tìm hạnh phúc của cuộc đời mình.

 

Trở thành vợ của Sọ Dừa, cô sống một cuộc sống hạnh phúc với chàng và niềm vui nhân đôi khi Sọ Dừa đỗ trạng nguyên và nghiễm nhiên cô út trở thành bà Trạng. Hai cô chị gái nuối tiếc, ghen ăn tức ở khi đã không lấy Sọ Dừa làm chồng nên trả thù em gái. Với sự thông minh và được hỗ trợ từ chồng, trước khi lên đường, Sọ Dừa đã đưa cho vợ ba thứ: con dao, hòn đá và hai quả trứng. Đúng như dự đoán, cô út bị hai cô chị lập mưu hãm hại và nhờ có ba thứ chồng đưa mà cô đã thoát nạn và trở về với chồng. Qua đây, ta thấy được một chân lí ở hiền gặp lành mà tiêu biểu là nhân vật cô út. Bị hai chị hãm hại nhưng cô không hề trả thù mà vẫn vui vẻ đến chào hỏi hai chị cùng Sọ Dừa. Chính sự bao dung và lòng vị tha của cô út đã mài nhẵn thêm tâm hồn cao thượng, trong sáng của cô.

 

Kết thúc câu chuyện có hậu, vợ chồng Sọ Dừa được vui vẻ đoàn tụ, sống một cuộc sống hạnh phúc. Đó cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân ta hướng đến sự bình yên, đoàn tụ. Nghị lực, tình yêu thương, lòng vị tha và trái tim vàng của cô út luôn là tấm gương sáng để chúng ta noi theo. Đồng thời, qua câu chuyện và nhân vật cô em út đã để lại cho ta bài học quý báu, không nên nhìn nhận con người qua vẻ hình thức, bề ngoài mà cần đánh giá qua nhân phẩm bên trong.

Mẫu 10

Truyện cổ tích Việt Nam thường xuất hiện những nhân vật cô Út với phẩm chất, nét đẹp đáng quý như xinh đẹp, giàu lòng vị tha, nhân ái và cuối cùng cô nhận được phần thưởng xứng đáng. Nhân vật cô Út trong truyện cổ tích “ Sọ Dừa” là một nhân vật như vậy.

 

Phú ông trong truyện “ Sọ Dừa” có ba người con gái. Sau khi Sọ Dừa nhận chăn bò cho phú ông. Thấy Sọ Dừa chăn tốt nên phú ông rất mừng và từ đó yên tâm để Sọ Dừa chăm. Ông sai ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị thì ác nghiệt, kiêu kì, hắt hủi Sọ Dừa vì vẻ ngoài của cậu. Chỉ có cô Út hiền lành, lại thương người nên đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế. Vậy nên có thể thấy cô út trong truyện “Sọ Dừa” là người hiền lành, có tấm lòng nhân ái.

 

Chính tấm lòng nhân ái, thương người của cô nên cô đã được nhìn thấy bên trong của Sọ Dừa lăn lóc dị hình là chàng trai khôi ngô, tuấn tú khi cô đi đưa cơm. Cô không hề khinh bỉ hay sợ hãi trước bề ngoài của Sọ Dừa mà đối đãi với chàng rất tử tế. Cô Út không đánh giá Sọ Dừa qua vẻ bề ngoài mà cô nhận thấy rằng chàng rất chăm chỉ, chịu khó, siêng năng.

 

Vậy nên kể từ khi phát hiện ra vẻ ngoài của Sọ Dừa cô càng yêu anh hơn. Đến khi Sọ Dừa muốn hỏi cưới một trong ba cô con gái của phú ông. Tình huống này giúp cho anh bộc lộ được tài năng của mình khi đem đủ các sinh lễ mà phú ông yêu cầu. Phú ông bèn gọi cả ba cô con gái ra. Ông hỏi lần lượt từng cô thì hai cô chị bĩu môi, chê bài, chỉ có cô Út bằng lòng. Chính tấm lòng thương người, nhận ra được tài năng, phẩm chất của Sọ Dừa đã giúp cô trở thành vợ của chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Cô đã dám dũng cảm vượt lên định kiến của xã hội vì cô nhận ra không chỉ vẻ đẹp bên ngoài của chàng mà cô nhận thấy tài giỏi, cũng như phẩm chất tốt đẹp của Sọ Dừa.

 

Cô út hiện lên trong truyện là người thông minh, khéo léo, và chung thủy với Sọ Dừa. Khi hai cô chị biết được vẻ ngoài của Sọ Dừa đều vừa tiếc vừa ghen tức. Từ đó, họ đã rắp tâm chờ cô hội để hại em. Hai vợ chồng Sọ Dừa lấy nhau sống với nhau vô cùng hạnh phúc. Sọ Dừa vốn thông minh, chăm chỉ nên hàng ngày đọc sách, chờ khoa thi. Đến khi đỗ trạng nguyên, thì nhà vua sau quan trạng đi sứ.

 

Nhân cô hội này mà hai cô chị đã hại cô em, đẩy cô em xuống nước..May trước khi đi, Sọ Dừa đã đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao, và hai quả trứng dặn là phải giắt luôn trong người phòng khi dùng đến. Đến khi cô Út gặp nạn nhớ đến lời chồng, bị con cá kình nuốt vào bụng thì sẵn có con dao, cô em đâm chết cá rồi dạt vào hòn đảo. Từ những vật dụng mà chồng để lại mà cô Út đã tự nuôi sống được mình khi sống trên hòn đảo hoang đấy để chờ chồng đến đón. Nhờ nghe thấy tiếng gáy của gà trống mà Sọ Dừa tìm được vợ. Hai vợ chồng lại trở về với nhau sống hạnh phúc còn hai cô chị thì đi biệt xứ.

 

Cô út trong truyện “ Sọ Dừa” là nhân vật quan trọng để Sọ Dừa bộc lộ tài năng cũng như vẻ đẹp của mình. Cô út xứng đáng nhận được kết cục có hậu, trở thành bà trạng. Đồng thời, ta vẫn thấy cô út hiện lên vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp, hiền lành, nhân hậu.

 

14. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Cuộc tu bổ lại các giống vật.

Xem đáp án

Mẫu 1

Trong hệ thống thần thoại Việt Nam, em vô cùng ấn tượng với truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật". Truyện kể về việc Ngọc Hoàng tạo ra các loài vật nhưng do một số yếu tố mà cơ thể của các con vật chưa được hoàn chỉnh. Để bù đắp cho những thiếu sót ấy, Ngài đã sai ba vị Thiên thần xuống núi hoàn thiện cho những con vật mang khiếm khuyết. Câu chuyện đã thể hiện cách con người thời cổ lí giải về một số đặc điểm, tập tính của loài vật. "Cuộc tu bổ lại các giống vật" có cốt truyện đơn giản, diễn biến câu chuyện được diễn ra trong không gian vũ trụ, thời gian không xác định, mang tính vĩnh hằng. Sự xuất hiện của hệ thống nhân vật Ngọc Hoàng, ba vị Thiên thần mang sức mạnh phi thường, thực hiện công việc sáng tạo, tu bổ lại các giống vật. Tính cách nhân vật chủ yếu được khắc họa qua hành động. Với những đặc sắc nghệ thuật về nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" đã cho ta thấy được cách người xưa quan sát về các hiện tượng, sự vật diễn ra xung quanh và giải thích chúng thông qua trí tưởng tượng phong phú của mình.

Mẫu 2

Thần thoại là một thể loại truyện của Việt Nam mang những yếu tố huyền ảo, giải thích cho những sự vật, hiện tượng chưa có lời giải. Đặc sắc trong những truyện này cũng có thể kể đến truyện Cuộc tu bổ lại các giống vật, một truyện thần thoại giải thích về quá trình tạo ra các loài vật trên Trái đất. Câu chuyện kể về nguồn gốc ban đầu của các loài vật là do Ngọc Hoàng tạo nên, tuy nhiên bằng gì thì lại chưa nêu được rõ. Trong lúc vội vàng, Ngọc Hoàng chưa thể hoàn chỉnh được cơ thể các con vật nên đã cử 3 vị thiên thần xuống hoàn thiện lại để bù đắp những thiếu sót. Nghe được tin, các con vật tranh nhau đến để sử lại các bộ phận còn thiếu. Qua chi tiết này, người ta cũng giải thích được một số đặc điểm trong cách sống của các loài vật như chim, chó,... Câu chuyện là cái nhìn của những người xưa về các loài vật và lý giải những tập tính của chúng. Cuộc tu bổ lại các giống vật không dài, cốt truyện cũng không có quá nhiều những chi tiết huyền ảo mà thể hiện tinh thần thoại của nó ở các yếu tố thời gian, không gian và nguyên liệu không xác định. Nhân vật Ngọc Hoàng và 3 vị thiên thần chính là hiện thân của sức mạnh phi thường, là những người tạo ra và tu bổ lại các giống loài trên Trái đất. Tính cách của nhân vật không được đề cập tới, nhưng ta có thể thấy được nó qua những hành động của nhân vật. Sử dụng nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc, truyện đã cho ta thấy cái nhìn mới lạ của những người xưa về các loài vật. Cuộc tu bổ lại các giống vật đến nay vẫn được xem là một truyện thần thoại đặc sắc, là một tài liệu tốt và giúp người đọc thấy được một cách giải thích về sự hình thành muôn loài rất sáng tạo.

Mẫu 3

Thần thoại là một thể loại truyện rất đặc sắc, có chứa nhiều yếu tố kỳ ảo và được sử dụng để giải thích về nguồn gốc của người hay việc. Trong nền văn học Việt Nam có rất nhiều thần thoại ra đời nhằm giải thích sự hình thành đất trời, con người, lúa nước,... Truyện thần thoại Cuộc tu bổ lại các giống vật lại cho người đọc thấy được nguồn gốc hình thành nên những loài vật trên trái đất ngày nay. Theo như trong truyện, ban đầu Ngọc Hoàng tạo thành các loại động vật trên trái đất, nhưng do thời gian không kịp nên chưa thể hoàn thiện được các bộ phận của chúng. Để sửa chữa sai lầm này, người cử 3 vị thiên thần xuống mặt đất để giúp các loài vật. Khung cảnh ấy được tác giả miêu tả rất sáng tạo khi sử dụng đến những vật dụng như chân nhang, chân ghế. Tuy nhiên, nhờ những chi tiết đó người đọc mới hiểu được một số tập tính hiện nay của các loài vật như “hai giống vật này khi ngủ đều giơ một cẳng lên trên không.” hay “các loài chim vẫn giữ thói quen chơi với ba lần để thử đặt chân trước khi đậu”. Đây chính là những tập tính trong hiện thực của các loài kể trên, nhờ câu chuyện này người đọc có thể tìm hiểu được nguyên nhân của nó. Những nhân vật như Ngọc Hoàng và các vị thiên thần trong truyện thể hiện sức mạnh của mình, là cách khéo léo để những người xưa thể hiện được ước mơ chinh phục và tôn sùng những sức mạnh mạnh mẽ ấy. Truyện có nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc, cốt truyện đơn giản đã giúp người đọc hiểu nhanh về chủ đề và nội dung tác giả muốn truyền đạt. Cuộc tu bổ lại các giống vật giúp chúng ta hiểu về nguồn gốc các loài vật và sự hình thành những tập tính của chúng.

Mẫu 4

Với mỗi vùng văn hóa khác nhau, dân gian lại có cách lý giải về nguồn gốc của muôn ngàn vạn vật khác nhau. Tuy nhiên, các sáng tạo ấy vẫn gặp nhau tại một điểm tương đồng nào đó. Nếu như bạn bắt gặp vị thần lơ đễnh, đãng trí Ê-pi-mê-tê trong "Prô-mê-tê và loài người" của thần thoại Hy Lạp thì khi đến với "Cuộc tu bổ lại các giống vật" của thần thoại Việt Nam, các bạn sẽ lại thấy sự hấp tấp, vội vã của Ngọc Hoàng. Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" được sưu tầm và in trong "Lược khảo về thần thoại Việt Nam" là truyện có chủ đề gần gũi với con người và hình thức nghệ thuật độc đáo.

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" kể về việc Ngọc Hoàng tạo ra các loài vật nhưng cơ thể chúng lại không hoàn chỉnh. Để khắc phục những thiếu sót ấy, ngài đã phái ba vị Thiên thần xuống trần gian để tu bổ lại các loài vật. Qua câu chuyện, ta thấy được cách lý giải sáng tạo của con người về những đặc tính, tập quán của loài vật. Quá trình tu bổ lại các giống vật của Ngọc Hoàng được diễn ra vào lúc sơ khai. Khi ấy, thế giới còn chưa được tạo lập nên Ngọc Hoàng luôn mong muốn "có một thế giới ngay" Trước khi sáng tạo ra con người, ngài đã nặn ra vạn vật nhưng do thiếu nguyên liệu và vội vàng muốn tạo ra thế giới ngay lập tức nên nhiều con vật không có đủ bộ phận trên cơ thể như ngày nay. Để có thể bù đắp những thiếu sót ấy, Ngọc Hoàng phái ba vị Thiên thần mang theo các nguyên liệu xuống núi để thực hiện công việc tu bổ, bù đắp cho những con vật có cơ thể chưa đầy đủ. Ba vị Thiên thần với những cố gắng đã giúp cho loài vật có được những bộ phận còn thiếu. Trong thời gian tu bổ ấy, vì vịt, chó và chim đến muộn nên ba vị Thiên thần có tấm lòng tốt bụng đã lấy chân ghế chắp cho vịt và chó, chân hương gắn cho chim. Thế là các con vật đều có đủ các bộ phận như chúng mong muốn. Tuy nhiên, câu chuyện không đơn thuần kể về quá trình bù đắp các khiếm khuyết mà còn là những quan sát tỉ mỉ về đặc điểm, tập tính của con vật. Con người thời cổ đã phát hiện ra những điều lí thú gắn với đặc điểm cơ thể mỗi loài nên mong muốn có một đáp án chính xác. Vì thế, bằng trí tưởng tượng của mình, họ sáng tạo nên câu chuyện gắn liền với chân sau của chó, chân còn thiếu của vịt và thói quen chới với ba lần để thử đặt chân trước khi đậu của các loài chim. Như vậy, chủ đề của tác phẩm đã trở nên gần gũi hơn với con người khi xoay quanh các sự vật gắn liền đời sống hàng ngày.

Mẫu 5

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" không chỉ là sự lý giải của con người về sự hình thành của các con vật mà truyện còn là bài học về sự hấp tấp vội, vội vàng và sự thích nghi với cuộc sống. Ngọc Hoàng vì vội vàng muốn tạo ra thế giới cho nên khi nặn ra các loài vật thì lại có những loài thiếu đi một bộ phận nào đó trên cơ thể. Cho nên, trong cuộc sống chúng ta cần phải suy nghĩ kĩ càng, lên kế hoạch, mục tiêu cụ thể trước khi hành động để tránh gặp phải những sai lầm không đáng có. Bên cạnh đó, việc làm của ba vị Thiên thần còn giúp chúng ta học được sự bao dung và vị tha cùng tấm lòng nhân hậu khi vịt, chó và chim đến muộn nhưng ba vị thần vẫn cố gắng hết mực để giúp đỡ chúng để chúng có một cuộc sống tốt hơn.

Một trong những điểm đặc sắc tạo nên sự thành công của truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" đó chính là ở cách xây dựng cốt truyện và vận dụng các yếu tố hư cấu, kì ảo vào trong truyện. Truyện có cốt truyện đơn giản, gần gũi với đời sống con người Việt Nam bởi nội dung xoay quanh các con vật thường thấy trong cuộc sống như vịt, chó,... Truyện đã lý giải các đặc tính, tập quán của các con vật này một cách thú vị và hấp dẫn qua các yếu tố kì ảo. Yếu tố hư cấu kì ảo cùng ngôn ngữ giản dị được thể hiện ở việc ba vị Thiên thần dùng chân ghế để chắp cho vịt và chó, chân hương để gắn cho chim khiến câu chuyện trở nên hài hước hơn. Đây là cách lý giải đầy hóm hỉnh, tạo tiếng cười cho người đọc. Bên cạnh đó, cách xây dựng nhân vật cũng tạo nên đặc sắc cho truyện và đóng góp thành công trong việc làm nổi bật chủ đề. Ngọc Hoàng - vị thần có sức mạnh siêu nhiên khi có thể tạo ra muôn loài nhưng lại có nét tính cách tương đồng với con người. Vì tính nóng vội khi "muốn có một thế giới ngay trong một sớm một chiều" nên các loài vật mà Ngọc Hoàng nặn ra đã bị thiếu một bộ phận nào đó trên cơ thể.

Mẫu 6

Truyện "Cuộc tu bổ lại các giống vật" mang đậm dấu ấn của truyện dân gian cùng với những yếu tố hư cấu, kì ảo, ngôn từ giản dị đã giải thích về các đặc điểm, tập tính của các con vật quen thuộc với chúng ta. Qua câu chuyện, chúng ta hiểu biết hơn về trí tuệ và trí tưởng tượng phong phú của dân gian xưa.

ất cả mọi sinh thể trên đời này từ khi sinh ra đã không hề được toàn thiện và hoàn mĩ , tất cả đều phải trải qua quá trình thích nghi với những điều kiện xung quanh để dần đạt đươc hình thái thích hợp nhất. Từ loài người, cho đến các loài vật, kể từ lúc xuất hiện trên mặt đất họ chưa thể có những đặc điểm về bề ngoài và lối tư duy hiện đại như vậy, con người thuở ban sơ chỉ là loài vượn cổ, các loài vật cũng như vậy, nó mang hình thái chưa được hoàn thiện của tổ tiên chúng, đó là theo cách hiểu của khoa học hiện đại. Vậy thì từ xa xưa, con người, loài có nền văn mình sớm nhất, họ cũng có những nhu cầu về vấn đề tìm hiểu chuyển biến của các loại sinh vật, của chính họ, những người Việt cổ đại quan niệm như thế nào về chuyện này ? Người Việt cổ đại sáng tạo ra những câu chuyện thần thoại li kì để giải thích cho nguồn gốc của các hiện tượng xung quanh mình, họ tin những gì có mặt trên đời này, cách thức hoạt động của nó ra sao đều dựa vào một tay của các vị thần tiên ở trên trời làm nên. Những câu chuyện về các vị thần ấy được lưu giữ bằng cách truyền miệng trong nhiều tác phẩm thần thoại kì ảo, nhưng nó vẫn có những điểm đáng suy nghĩ bởi có liên quan thực tế đến biểu hiện của các hiện tượng trong cuộc sống thực. Thần thoại liên quan đến những điều thật trong đời sống, chính vì vậy chiếm được lòng tin của người xưa, họ tin vào thần thánh, dần dần trở thành tín ngưỡng trong lòng. Thần thoại “Cuộc tu bổ lại các giống vật” là một trong những truyện kể về quá trình hoàn thiện của các loại sinh vật trong quá trình thích nghi với điều kiện sống, không chỉ đem lại những kiến thức thú vị mà nó còn giải thích những hiện tượng mà những thứ khác khó lòng mang được màu sắc ấy

Mẫu 7

Thần thoại là các câu chuyện kể về các vị thần, những công lao của họ trong quá trình sáng tạo nên thế giới, được con người tin tưởng và nhớ ơn, bởi vậy các vị thần ấy trở thành những điều thiêng liêng trong suy nghĩ của loài người. Thần thánh là những người có quyền năng, có sức mạnh phi thường tạo nên những điều không tưởng, được sinh ra từ những câu chuyện đời thường của con người, chính vì vậy họ tượng trưng cho lí tưởng và ước mơ của loài người. Việc tạo nên những tác phẩm thần thoại để giải thích cho các hiện tượng đời sống xuất phát từ sự ham học hỏi, tìm tòi và sáng tạo của người Việt cổ đại, họ muốn thấu hiểu và tường tận những điều đang xảy ra xung quanh mình, những kiến thức mà họ tạo ra đã một phần nào thể hiện được sự sáng tạo trong nếp nghĩ, làm cho nền văn minh của người xưa trở nên phong phú và đồ sộ hơn. Điều đặc biệt làm nên nét kì bí và lôi cuốn người đọc của thế loại này là mô tuýp nhân vật được thần thánh hoá, không gian và thời gian thuở xa xưa, cốt truyện biến hoá theo lối hoang đường kì ảo, và cuối cùng là những thông điệp được gửi gắm một cách dễ hiểu với thế giới này. Những vị thần trong truyện thần thoại không chỉ có sức mạnh kì diệu một tay tạo ra thế giới này mà còn là người đồng hành trong suốt chặng đường tiến hoá và tồn tại của các loài sinh vật, kể cả con người. Trong thần thoại “Cuộc tu bổ của các giống vật” các vị thần được lệnh của Ngọc Hoàng đã tiến hành bổ sung những bộ phận còn thiếu để hoàn thiện cho những loài vật ở trần gian. Truyện đã giải thích quá trình tu bổ lại các giống vật, bù đắp những phần cơ thể còn thiếu để chúng có hình dạng giống ngày nay. Qua câu chuyện hấp dẫn ấy là những bài học về sự công bằng và nét kì thú trong cuộc trò chuyện giữa thần và vật. 

                      Thuở xa xưa ấy trước khi loài người được tạo ra Ngọc Hoàng đã tạo ra các giống vật trước, nhưng vì nóng lòng muốn có một thế giới nên đã không cẩn thận, chính vì sự qua loa ấy của Ngọc Hoàng mà những loài vật do ông tạo ra có một số loài chưa được hoàn thiện về thân thể, có loài thì thiếu mất đi đôi cánh, có loài thì mất đi cả đôi chân,… Chính vì vậy vào một ngày nọ Ngọc Hoàng đã sai ba vị Thiên thần hạ phàm và đem theo các nguyên liệu để tiến hành bổ sung và hoàn thiện quá trình tạo ra các loài vật đang còn dang dở của Ngọc Hoàng. Khi biết tin như vậy tất cả các con vật đều đổ xô tới để xin được các vị thần giúp đỡ, ai ai cũng đều có phần. Các loài vật đã hoàn thành xong tâm nguyện cũng là lúc nguyên liệu vừa hết, lúc ấy chó và vịt đến để nài nỉ các vị thần ban thêm chó chúng một cái chân, dù đã hết nguyên liệu những các vị thần vẫn giúp chúng bằng cách bẻ một chân cái ghế chắp vào cho chúng, con chó từ ba chấn biến thành bốn chân, con vịt một chân nay hoá thành hai, bọn chúng mừng lắm. Nhưng thần dặn dò khi ngủ đừng để chân ấy xuống đất kẻo lâu ngày ngấm bùn nước bị mục ruỗng, thế là mãi cho đến ngày nay chó và vịt khi ngủ cả hai loài ấy đều có một chân giơ lên trời. Thật là lí thú phải không các bạn, câu chuyện trên đã đem đến cho ta một kiến thức dân gian vô cùng thú vị. Trong khi nhiều lĩnh vực ngày nay để đi tìm câu trả lời cho câu trả lời này, ai cũng đều có những lí lẽ riêng của mình, câu chuyện thần thoại trên cũng là một cách hiểu, mặc dầu theo hướng hoang đường những cũng khá hợp tình hợp lí theo cách tưởng tượng của người xưa. Dù không bám sát thực tế nhưng những lí lẽ ấy tượng trưng cho sự sáng tạo và tò mò trong nhận thức và cách học hỏi của người xưa, nó vẫn mang những giá trị tinh thần mà không phải một câu trả lời khoa học nào cũng có thể thay thế được.

 

Sau khi vịt và chó trở về, một đám chim lại kéo đến, có cả chiền chiện, đỏ nách , ốc cau,… bọn chúng cùng nhau kéo đến để xin các vị thần giúp đỡ. Vì quá vội vàng trong việc tạo ra các giống loài nên cả ba loài chim này đều thiếu đi cả hai cái chân. Dù vậy thần vẫn không chịu giúp đỡ vì đã hết nguyên liệu, bọn chúng lấy cớ nghe tin các vị thần hạ phàm trễ và vì không có chân nên đi đến đây rất lâu. Một trong só các vị thần cảm thấy thương tình nên bèn bẻ một nhúm tăm hương làm cho chúng cặp chân, nhưng lại bị bọn chúng chê yếu ớt, không làm được gì. Các vị thần khuyên chúng bao giờ muốn đậu ở đâu đó thì chịu khó thử đặt chân xuống xem có vững không rồi đầu. Thế là từ đó các loài chim ấy có tập tính chới với ba lần trước khi muốn đậu ở đâu đó. Cũng giống như mẫu chuyện của Vịt và chó, việc các vị thần ban cho chúng những bộ phận trên cơ thể để chúng có thể dùng trong cuộc sống của mình đã giải thích cho những tập tính của các loài trong cuộc sống đời thường. 

 

                     Qua những mẫu chuyện ấy, ta có thể ngầm hiểu được cách mà người xưa sáng tạo ra những câu chuyện hoang đường để giải thích các hiện tượng đời sống cho con cháu họ không chỉ mang những giá trị đơn thuần mà chứa đựng nhiều bài học bổ ích. Mỗi một loài vật đều được sửa sang lại cho phù hợp với điều kiện sống, ai ai cũng đều có phần, đó là bài học về sự công bằng trong cuộc sống này. Người xưa muốn cho con cháu họ biết công bằng là một điều tất yếu trong cuộc sống, con người hay loài vật, ai cũng có một giá trị riêng. Đã tồn tại trên thế giới này đều phải có trách nhiệm đối với nó. Những câu chuyện thần thoại luôn truyền tải các bài học bổ ích một cách dễ hiểu, không trừu tượng, để người đọc có thể tiếp thu trong quá trình thưởng thức.  Ta thấy Thần thoại không chỉ đơn thuần là những chuỗi các sự kiện hoang đường, mà nó còn chưa đựng nhiều thông điệp nhân văn cao cả. Chỉ những tác phẩm văn học mang giá trị nhân bản mới tồn tại và phát triển đến ngày nay.

 

                     Câu chuyện thần thoại về việc tu bổ lại các giống vật đã mở mang cho ta những thông tin lí thú để trả lời cho các tập tính của loài vật hiện nay, tại sao chó và vịt khi ngủ lại giơ một chân lên trời, tại sao các loài chim nước lại có cặp chân mảnh khảnh và chới với trước khi chạm đất. Bên cạnh nội dung truyền tài không thể thiếu những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm. Cốt truyện biến hoá kì ảo với những yếu tố siêu thực đã mở ra trong trí tưởng tượng người đọc một thế giới nhiệm màu, ở đó các con vật có thể nói chuyện, các vị thần tiên hạ phàm giúp đỡ mọi sinh vật, đó là những điểm thú vị thu hút người đọc. Những yếu tố không có thật ấy dù đi ngược lại với các quan điểm hiện đại nhưng nó vẫn có những giá trị nhất định trong nếp văn hoá người Việt ta, ởi dân gian là nơi bắt nguồn của mọi tri thức trên cõi đời này, dù đúng hoặc phi thực tế. Bên cạnh đó các nhân vật không có trên thực tế được thể hiện một các vô cùng sinh động, nào là Ngọc Hoàng, nào là các loài động vật có thể nói chuyện giống như on người, tất cả đã tạo nên một thế giới diệu kì, ở đó không có những mặt tiêu cực của xã hội mà chỉ chứa những điều tốt đẹp, nhân văn, và các bài học về lẽ sống quý giá. Các nhân vật ấy càng ngày càng gắn kết với đời sống tinh thần của con người hơn, xuất hiện trong các hoạt động văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, bổ sung sự đa dạng trong nền văn hoá xứ sở lâu đời. Đất Việt ta tồn tại với truyền thống tôn thờ thần linh, tin vào những việc mà họ tác động đến đời sống thực, chính vì vậy nững câu chuyện thần thoại như vậy chưa bao giờ bị phai nhoà, bởi những thứ quý giá mà nó mang lại đối với tinh hoa truyền thống Việt Nam. 

                      Chuyện Thần thoại về “Cuộc tu bổ lại các giống vật” đã mang đến cho bạn đọc nhiều kiến thức hay và hấp dẫn về những thói quen tập tính của các loaì vật bắt nguồn từ đâu. Những yếu tố siêu thực được gây dựng trong tác phẩm đã góp phần làm cho những ý nghĩa nhân văn bộc lộ ra một cách dễ hiểu, đó là sự công bằng trong cuộc sống. Người xưa không chỉ sáng tạo ra các tác phẩm thần thoại chỉ để ca ngợi các vị thần và giải thích các hiện tượng, mà qua đó còn thể hiện chức năng giáo dục của văn học nghệ thuật. Dù ở trong bất kì khoảng thời gian nào, đã được gọi là văn học nghệ thuật thì những sản phẩm ấy không chỉ hay về nội dung hình thức mà còn phải có những ý nghĩa sâu xa. Đó chính là điều cốt lõi để thể loại này được tồn tại và ngày càng đến gần với cuộc sống hiện đại hơn.

 

15. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Prô-mê-tê và loài người.

Xem đáp án

Dàn ý

1. Mở đoạn:

- Giới thiệu về truyện thần thoại.

2. Thân đoạn:

- Đặc sắc truyện thần thoại:

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

3. Kết đoạn:

- Khẳng định giá trị của truyện thần thoại đó.

Mẫu 1

Thần thoại Hy Lạp ra đời vào khoảng 2000 - 1100 năm trước công nguyên nhưng cho đến nay, thần thoại Hy Lạp vẫn còn nguyên giá trị và có sức hấp dẫn nhất định đối với con người thời đại mới. Câu chuyện "Prô-mê-tê và loài người" kể về việc: Ê-pi-mê-tê đảm nhận công việc tạo ra muôn loài còn để cho người anh Prô-mê-tê xem xét, sửa chữa. Sau khi Ê-pi-mê-tê đã hoàn tất và ban mọi "vũ khí" cần thiết cho các loài động vật thì lại quên không ban vũ khí nào cho con người. Prô-mê-tê đã thay em sửa chữa sai lầm của mình và giúp con người có được cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Câu chuyện diễn ra trong không gian vũ trụ nguyên thủy khi thế gian mới có các vị thần, mặt đất mênh mông, trống vắng. Thời gian của câu chuyện là thời gian quá khứ, không được xác định cụ thể. Không, thời gian trong chuyện gắn liền với buổi sơ khai của con người, phản ánh cách con người nguyên thủy tri giác về thế giới. Nhân vật trong truyện là các vị thần mang vẻ đẹp lớn lao, kì vĩ, có khả năng sáng tạo ra muôn loài. Cốt truyện đơn giản, gần gũi, hấp dẫn người đọc, người nghe. Bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, người Hy Lạp cổ đại đã đem đến cho người đọc hình dung về nguồn gốc hình thành của các loài vật, con người và cách muôn loài tồn tại, bảo vệ cuộc sống của mình thông qua những "vũ khí" mà các vị thần ban phát. Với những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, câu chuyện "Prô-mê-tê và loài người" vẫn được tái trình hiện trong những lời kể, các vở diễn trên sân khấu ngày nay. Điều đó, chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của thể loại thần thoại theo năm tháng.

Mẫu 2

Một câu hỏi được đặt ra trong suốt chiều dài lịch sử của con người là: Con người xuất hiện từ lúc nào? Ai là người đã tạo ra con người? Cho đến hiện tại, câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp và khiến cho nhiều nhà khoa học “đau đầu”. Vậy nên, thiên truyện “Thần Thoại Hy Lạp” đã ra đời, giải thích về nguồn gốc của loài người. Chúng ta được biết đến gần gũi nhất chính là truyện truyền thuyết ngắn “Prô-mê-tê và loài người”. Câu chuyện đã khéo léo lý giải được nguồn gốc của con người, nội dung được xây dựng vô cùng độc đáo.

Prô-mê-tê và loài người có nội dung kể về hai vị thần hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã tạo ra loài người và động vật bằng cách nặn ra hình hài của chúng. Mỗi loài sẽ được hai người ưu ái, ban tặng những đặc điểm vượt trội, những vũ khí riêng biệt. Đó là thứ muôn loài có thể tồn tại và phát triển trong thời kỳ thế gian hỗn loạn. Đây chính là nguồn gốc hình thành loài người và động vật theo tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại.

Hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê trong truyện chính là anh em. Ngày đó, trái đất được tạo thành, tuy nhiên vô cùng trống vắng, buồn tẻ. Yếu tố thuyền thuyết đã tạo nên một khoảng không rộng rãi, nơi mà các vị thần sinh sống. Nhưng cũng chỉ có thần là mang hơi thể của vật sống, vậy nên hai anh em đã xin phép đất mẹ - Gai ga để tạo nên những vật sống khác. Nhận được sự chấp thuận, hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã bắt tay ngay vào công việc. Quá trình tạo ra muôn loài được miêu tả rất đặc sắc. Họ ban cho mỗi loài một thứ vũ khí riêng biệt. Có loài lại "có nọc độc gớm ghê", có loài "có bộ lông dày", "con có sải cánh rộng", "con thì có đôi mắt xanh",... Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, người anh đã quên mất tạo ra vũ khí của “loài người”. Họ đã sửa chữa lỗi sai này bằng cách để con người có thể đứng thẳng và đi bằng hai chân. Đây cũng chính là hình thái đầu tiên của con người. Qua đoạn miêu tả này, ta cũng sẽ thấy được nhiều đặc điểm đặc trưng của cả con người và động vật. Chính nhờ khả năng đứng thẳng, con người được tôn vinh là kẻ cầm quyền, có thêm trí thông minh vượt trội so với các loài khác.

Hình ảnh ngọn lửa của Prô-mê-tê trong bài như hình ảnh của sự sống bắt đầu sinh sôi. Người xưa cũng quan niệm, lửa chính là thứ khởi nguồn của sự sống và sự tiến bộ. Ánh sáng từ ngọn mở lối để vạn vật thoát khỏi cảnh tăm tối bủa vây. Nó cũng làm cuộc sống con người tốt hơn, xây dựng một xã hội hiện đại.

"Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu
Giống loài người đã có ngọn lửa của Prô-mê-tê
Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề".

Mẫu 3

Truyện Prô-mê-tê và loài người đã sử dụng nhiều hình ảnh tuy “thần thoại hóa” nhưng lại vô cùng chân thực. Qua việc hiểu được nguồn gốc của loài người, những vị thần xa xưa còn được người Hy Lạp tôn sùng. Công lao to lướn và khả năng vượt trội ấy chính là cách lý giải sát thực tế của những người mang danh làm nên xã hội. Lời kể và cả cốt truyện giản dị, không có nhiều yếu tố siêu thực. Cũng chính vì vậy, hình ảnh những vị thần trở nên chân thực vô cùng. Bên cạnh đó, ngoài miêu tả sức mạnh vượt trội của hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê, tác giả cũng khiến họ trở nên gần gũi hơn bằng việc cho họ những khuyết điểm nhỏ. Đó chính là chi tiết thần Ê-pi-mê-tê quên không ban vũ khí cho con người. Nhờ đó, thiên truyện tưởng chừng kỳ ảo lại trở nên thân quen.

Mẫu 4

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã giúp người đọc có cái nhìn về một nguồn gốc hình thành loài người do người Hy Lạp xây dựng. Những câu chữ vô tình xây dựng một đế chế các vị thần quyền năng từng tồn tại trên Trái đất khiên nhiều người thích thú. Cuối cùng, không thể phủ định được giá trị văn học của các nước khác trên thế giới cũng vô cùng phong phú.

Mẫu 5

Tại sao trên Trái Đất lại có sự xuất hiện của con người và muôn vật? Đây vốn là câu hỏi khiến bất kì ai trong chúng ta cũng thắc mắc và cần tìm lời giải đáp. Để trả lời cho câu hỏi trên, truyện "Prô-mê-tê và loài người" trích trong "Thần thoại Hy Lạp" đã lí giải một cách sáng tạo về nguồn gốc thế giới loài vật và con người. Đặc biệt, truyền còn gây ấn tượng với người đọc bằng nội dung thú vị và nghệ thuật độc đáo.

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" kể về việc hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê nặn ra các loài vật và loài vật, đồng thời ban cho chúng một thứ vũ khí riêng biệt. Câu chuyện đã thể hiện cách lí giải nguồn gốc hình thành con người cùng thế giới các loài vật của người Hy Lạp xưa.

Truyện thần thoại là thể loại có yếu tố không gian vũ trụ và thời gian cổ xưa, không được xác định. Trong "Prô-mê-tê và loài người", hai yếu tố ấy cũng được thể hiện rõ nét qua khung cảnh buồn tẻ của thế gian khi "chỉ mới có các vị thần". Chính vì lẽ đó, hai anh em Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã xin phép U-ra-nôx và Gai-a tạo cho thế gian một cuộc sống đông vui hơn. Nhận được sự ưng thuận, hai vị thần đã quyết định tạo ra con người và muôn vật. Người em Ê-pi-mê-tê vô cùng vui mừng và hào hứng nên đã tranh lấy việc làm ra mọi giống loài với những vũ khí riêng biệt, có loài thì "chạy nhanh như gió", có loài lại "có nọc độc gớm ghê" rồi có loài thì "có bộ lông dày", "con có sải cánh rộng", "con thì có đôi mắt xanh", "con có thân hình khổng lồ", "con thì xuống nước không chìm", "con thì trèo leo thoăn thoắt". Tuy nhiên, trong quá trình nhào nặn, thần Ê-pi-mê-tê cũng không thể tránh khỏi những sai lầm. Vì sự đãng trí của mình, thần đã quên bạn phát vũ khí tự vệ cho loài người. Để có thể sửa sai cho em trai của mình, thần Prô-mê-tê đã tái tạo để con người có dáng đứng thẳng, đi bằng hai chân và lấy lửa làm thứ vũ khí đặc biệt để ban cho loài người. Kể từ đây, cuộc sống của con người ngày càng trở nên tốt đẹp, văn minh hơn. Ngọn lửa của Prô-mê-tê chính là ngọn lửa của sự sống, mang đến cho con người ánh sáng thoát khỏi cảnh u tối của màn đêm:

"Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu
Giống loài người đã có ngọn lửa của Prô-mê-tê
Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề".

Mẫu 6

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã khắc họa nổi bật chủ đề của truyện thần thoại - lí giải nguồn gốc của con người và thế giới muôn vật, đồng thời là những ngợi ca của người Hy Lạp xưa đối với công lao to lớn của mỗi vị thần. Qua câu chuyện , ta thấy cách lí giải nguồn gốc con người của người Hy Lạp xưa xuất phát từ mong muốn có một cuộc sống phong phú, văn minh và tươi sáng hơn.

Để làm sáng tỏ chủ đề của truyện, chúng ta phải kể đến những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Truyện "Prô-mê-tê và loài người" có cốt truyện đơn giản, gần gũi, xoay quanh việc các vị thần tạo ra muôn vật và con người. Bên cạnh đó, việc khắc họa nhân vật là các vị thần quen thuộc cũng tạo nên sự hấp dẫn cho cốt truyện. Hai nhân vật là Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê những vị thần, nắm giữ sức mạnh phi thường mà con người không thể có. Tuy nhiên, hai vị thần lại có nét tính cách gần gũi với con người. Đó là thần Ê-pi-mê-tê "đần độn", đãng trí khi quên ban phát vũ khí cho con người. Đó còn là thần Prô-mê-tê có tầm nhìn xa trông rộng trong việc sửa chữa các sai lầm của người em.

Truyện "Prô-mê-tê và loài người" được lưu truyền qua nhiều thế hệ và được mọi người đón nhận nồng nhiệt. Thế giới tâm linh vẫn luôn là thế giới bí ẩn mà con người sử dụng để giải thích cho những sự vật, hiện tượng không thể lí giải trong cuộc sống hằng ngày. Truyện "Prô-mê-tê và loài người" đã giúp chúng ta thấy được trí tưởng tượng cùng sáng tạo của người Hy Lạp xưa. Qua đây, chúng ta cần trân trọng những giá trị tốt đẹp của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.

Mẫu 7

Văn học được sinh ra trên cõi đời này từ thuở xa xưa nhất, khi mà con người đã có những tri thức ban đầu. Nó có mặt trên cuộc đời này để phục vụ đời sống và những giá trị tinh thần cho con người, không những vậy nó còn là một loại phương tiện để con người gửi gắm ước mơ và mong muốn của họ về thế giới này, nơi mà họ sinh sống, nơi mà con cháu họ sẽ phát triển và tồn tại. Chính vì vậy ngay từ thuở khai thiên lập địa, họ đã biết sáng tạo ra những tác phẩm văn học mang đậm tính văn hoá và giáo dục, mặc dù không được ghi chép rõ rành như ngày hôm nay nhưng thay vào đó là những lời truyền miệng, được bổ sung và tái tạo không ngừng qua các thế hệ để dần hoàn thiện hơn. Hàng loạt những câu chuyện được thêu dệt trong quá trình lao động sản xuất của họ, không chỉ là tạo ra những giá trị vật chất để nuôi sống cơ thể mà những giá trị tinh thần cũng không thể không có. Có vô vàn các thể loại văn học dân gian được lưu truyền qua hàng ngàn năm, nhưng không thể phủ nhận sức sống của các nhân vật trong các câu chuyện thần thoại, nó băng hoại với dòng chảy thời gian và luôn có một vị trí nào đó trong những giá trị văn hoá của con người xưa và nay. Nhắc đến các thể loại thần thoại không thể không nhắc đến nền văn minh Hy Lạp, cái nôi của những câu chuyện về các vị thần, những người đầy quyền năng kiến tạo nên nguồn sống cho người Hy Lạp theo lối suy nghĩ xưa. Một trong những giai thoại luôn giữ được những giá trị của mình khi giải thích về sự có mặt của loài người trên đời này là “Prô-mê-tê và loài người”, không chỉ cho ta những tri thức thuở xưa của người Hy Lạp cổ mà còn đưa ra nhiều thông điệp nhân sinh về thế giới quan.

Thần thoại trong nền văn hoá của người Hy Lạp là một thứ không thể thiếu, bởi từ xa xưa nó như là một phần trong các giá trị tinh thần nuôi dưỡng con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển. Thần thoại Hy Lạp bắt đầu hình thành từ khoảng 2000 – 1100 năm trước Công nguyên, những câu chuyện chủ yếu kể về các vị thần và công lao của họ trong việc kiến tạo nên thế giới và tạo ra loài người, là nguồn gốc, ý nghĩa của các tín ngưỡng, tôn giáo trên khắp thế giới, đó chính là lí do mà người ta vẫn gọi Hy Lạp là cái nôi của những câu chuyện về các vị thần, những người đã tạo nên sự sống trên thế giới này. Trải qua hàng ngàn triều đại và thịnh suy của đất nước, những câu chuyện thần thoại liên tục được bổ sung, tu bổ, được thêm bớt các chi tiết để phù hợp với thời cuộc, vậy nên dù mất đi những tính chất ban đầu của mình nhưng nó vẫn chứa đựng những chi tiết và bài học lí thú về con người và đời sống nhân loại. Các câu chuyện ấy mặc dù chủ yếu kể các vị thần có tài năng phi thường nhưng vẫn xoay quanh con người, xoay quanh thế giới mà họ đang sống, các vị thần không chỉ để tôn sùng mà còn là những nét văn hoá trong suy nghĩ của người Hy Lạp xưa, họ quan niệm không có các vị thần thì vũ trụ này mãi mãi chỉ là một mớ hỗn độn và con người mãi mãi chỉ là những hạt bụi lơ lửng. Những chuỗi sự kiện về các vị thần cho đến ngày được được chuyển thể ở những đề tài, lĩnh vực khác như Triết học, hội hoạ, nghệ thuật, … chính vì vậy những tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, không những thế mà còn được tiếp xúc gần với thế giới loài người hiện đại, những câu chuyện hàng ngàn năm tuổi mãi mãi không bao giờ cũ mà luôn hiện hữu trong đời sống thường nhật. Giai thoại về “Prô-mê-tê và loài người” đã tái hiện lại cách mà con người mà các loài vật được sinh ra trên vũ trụ này, mỗi một cá thể đều được các vị thần ban cho một loại sức mạnh riêng để có thể tự bảo vệ mình trước những tai hoạ xung quanh. Truyện đã nêu lên một thông điệp Con người là trung tâm của vũ trụ, là những kẻ có được sự tin yêu của thần linh và là thế lực được thần linh giao phó để cải tạo và xây dựng thế giới.  

  Thần thoại “Prô-mê-tê và loài người” kể về khoảng thời gian thuở xưa ấy, bất định, khi mà trời đất vừa phân chia làm đôi, chỉ có sự hiện diện của các vị thần, mặt đất vắng vẻ và tẻ nhạt. Hai anh em Thần Prô mê tê và Ê pi mê tê đã quyết định cầu xin các vị thánh đấng trên để tạo ra một thứ gì đó xoá tan đi bầu không khí ảm đạm này, vậy là họ bắt đầu công cuộc cải tạo thế giới này, là hành động khởi đầu mở ra một kỉ nguyên mới cho vũ trụ. Thần Ê-pi-mê-tê lấy đất và nước nặn thành hình thù của hàng ngàn loài vật, mỗi loài đều được ban cho một đặc ân của thần, “một vũ khí để có thể phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình”, Con thì được ban chạy nhanh như gió, con thì có đôi mắt sáng nhìn thấu đêm đen, con thì có thân hình khổng lồ mạnh khoẻ … Nhưng có một loài vẫn chưa có được vũ khí cho mình đó là con người. Bằng tấm lòng yêu thương của mình thần Prô mê tê nhận thấy vẻ trang nhã của các vị thần nên đã tái tạo cho con người một thân hình đẹp đẽ thanh tao hơn các con vật, giúp con người đứng thẳng, đi bằng hai chân, đôi tay thảnh thơi để làm việc khác, không chỉ vậy thần còn lén lên cổ xe của thần Mặt trời để ăn trộm ngọn lửa thiêng ban cho con người, và chính ngọn lửa ấy đã kiến tạo nên nền văn minh của nhân loại. Đó là vũ khí mạnh mẽ nhất mà không một con vật nào có thể có được, nó bảo vệ con người vượt qua hàng ngàn nguy hiểm của thế giới xung quanh. Từ đó họ có cuộc sống ấm no, hanh phúc hơn. Câu chuyện đã khắc hoạ nên quá trình hình thành của các sinh vật trên thế giới và thể hiện tấm lòng yêu thương cao cả mà các vị thần ban cho loài người, mỗi loài đều cần có những đặc ân riêng, “vũ khí” riêng, sức mạnh riêng để có thể phòng thân, hộ mệnh, tự lập, tự bảo vệ được cuộc sống của chính mình, con người được ưu ái hơn bởi họ mang một nhiệm vụ to lớn là kiến tạo nên thế giới để nó ngày càng phát triển và hạnh phúc. 

Con người chúng ta sinh ra với đầy đủ những giá trị thiết yếu cần có, chúng ta luôn có nhu cầu nhận biết và tìm hiểu những gì xoay quanh chúng ta hằng ngày, từ những thay đổi của ngoại cảnh cho đến chính bản thân mình. Ngày nay tất cả các lĩnh vực từ Khoa học cho đến Tâm linh đều luôn muốn trả lời cho câu hỏi Con người ta được tạo ra như thế nào, tại sao lại xuất hiện trên cõi đời này cùng tất cả các loài sinh vật khác. Nhu câu muốn tìm hiểu về nguồn gốc của chính mình luôn luôn tạo những hứng thú và sự tò mò. Không chỉ nguời hiện đại ngày nay mới có những lối tư duy đó mà những người cổ đại xưa có có những thắc mắc như vậy, đó chính là nguyên do về sự ra đời của những câu chuyện thần thoại đề cập đến sự tồn tại của loài người và hàng triệu loài sinh vật khác. Những câu chuyện viết về các vị thần của Hy Lạp gắn liền với nền văn minh Hy Lạp cổ, một trong những vương triều tồn tại lâu đời nhất và còn hiện diện cho đến ngày nay, chính vì lí do đó những sáng tác đi từ đời sống của Hy Lạp mang đậm dấu ấn lịch sử và những bước chuyển mình của thời đại. Việc họ sáng tạo ra Thần Prô mê tê đã tạo nên loài người và các giống sinh vật bằng cách nặng từ đất và nước, họ ban cho loài người những vũ khí mạnh mẽ để chống chọi lại với bao biến thiên tai hoạ khôn lường, bão tố, núi lửa, để chống lại các loài vật khác trở thành bá chủ muôn loài thể hiện loài người chính là sức mạnh của tạo hoá, là giống nòi đặc biệt có thể thay mặt các vị thần thực hiện những công việc giang dở .Việc tạo ra loài người bằng cách nặn từ đất và nước có thể bắt gặp trong thần thoại Nữ Oa của nên văn minh Trung Hoa cổ đại. Nữ Oa để tưởng nhớ công ơn Bàn Cổ đã khai thiên lập địa, bà muốn tạo ra một thứ gì đó để thức tỉnh sự im lặng của thế giới. Lúc ấy bà nhìn xuống sông Hoàng Hà, thấy bóng hình mình soi chiếu xuống đó, bà cảm thấy thế giới này thiếu đi một người như vậy. Thế là bà từ bùn Hoàng Hà mà nặn thành hình người, thổi âm khí thì biến thành đàn bà, thổi dương khí thì biến thành đàn ông, ban cho họ khả năng sinh sản để có thể lấp đầy những khoảng trống trên khắp thiên địa này. Ta có thể thấy Thần thoại tạo ra loài người ở bất kì đâu cũng có một lối tư duy riêng phù hợp với nét văn hoá truyền thống của mỗi vùng, nhưng tất cả đều có điểm chung là con người được tạo ra từ những điều kì bí, vô thực. Tuy nhiên không hề mất giá trị, nó vẫn có những giá trị nhất định đối với truyền thống văn hoá và tinh ngưỡng, tôn giáo của mỗi dân tộc. 

                                    “Và từ đó dẫu mong manh và bấy yếu

                                    Giống loài người đã có ngọn lửa của Pro te me

                                    Ngọn lửa thiêng dạy cho họ biết bao nghề”

Có thể nói ngọn lửa, thứ vũ khí táo bạo mà thần Prô mê tê đã ban cho loài người đã mở ra một nền văn minh mới, đưa con người từ cảnh sống tối tăm, bẩn thỉu, không quy cũ ở trong các hang động nay đã biết dùng lửa để nấu chín thức ăn, xoay chuyển toàn cục diện của xã hội nguyên thuỷ. Ngọn lửa là thức quà tặng quý báu của thần linh, chính vì vậy con người luôn xem trọng ngọn lửa trong cuộc sống, không chỉ có ích trong đời sống sinh hoạt của họ mà con là thứ để chống lại những mối nguy hại xung quanh, bởi “ nó hơn hẳn bộ lông dày, hàm răng sắc, cặp móng nhọn, thân hình đồ sộ,…”, đó là vốn quý để từ bước đà này con người có thể vươn tới những đỉnh cao khác trong suốt quá trình tiến hoá và hoàn thiện bên ngoài lẫn bên trong. 

Việc ban phát cho loài người những vũ khí mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất so với muôn loài xuất phát từ sự thông thái và biết cách quan sát, thấu hiểu của các vị thần. Mà các vị thần lại do chính loài người tạo nên, có thể thấy trong bất kì hoàn cảnh nào, trí khôn lanh và tiềm năng của loài người vẫn luôn là vốn để kiến tạo nên nhiều thứ khác. Họ biết sáng tạo ra những tác phẩm thần thoại để tìm về nguồn cội của mình, họ tôn sùng các vị thần ở từng nếp tư duy vì muốn có một trật tự nhất định trong suy nghĩ. Họ muốn rằng con người đừng bao giờ tự xem mình là thứ mạnh mẽ nhất, bởi còn rất nhiều rất nhiều điều lí thú mà họ chưa thể khám phá hết. Các vị thần chính là chỗ dựa tinh thần của họ, không vì là những nhân vật hư cấu mà những câu chuyện thần linh mang giá trị tầm thường, chỉ cần con người hết lòng tin tưởng thì bất kì điều gì cũng có thể xảy ra. Việc mỗi loài trong sinh giới đều có một thứ vũ khí riêng cũng là một bài học đến từ những giá trị nhân văn cao cả, đó là sự công bằng trong cuộc sống. Thế giới này sẽ ra sao nếu mất đi sự công bằng giữa người với người, hay giữa các loài vật với loài người, tất cả sẽ chỉ là một mớ hỗn độn bất trật tự, không có trên dưới. Sẽ không có những triều đại thay phiên nhau phát triển, thịnh rồi suy, cứ thế diễn ra liên tục cho đến khi thế giới này đạt đến một tầm vĩ mô, xa và xa hơn nữa. Đó cũng chính là mong ước của loài người về hậu thế sau này, bởi sức mạnh tiềm ẩn của con người không thể nào đong đếm được, có thể sau này họ sẽ có sức mạnh và thực hiện những việc phi thường như các vị thần của mình chăng?  

 Thần thoại về Prô mê tê tạo ra loài người không chỉ mang tính li kì hấp dẫn người đọc mà còn chứa đựng nhiều giá trị và ý nghĩa nhân văn trong đời sống. Như những tác phẩm thần thoại khác, yếu tố hoang đường kì ảo là điều cốt lõi để tạo nên sức thu hút và giá trị đích thực của tác phẩm, nó giúp người đọc dễ dàng tiếp thu những ý nghĩa được truyền tải dễ dàng mà không dài dòng, xa vời. Các nhân vật như thần Prô mê tê, Ê đi tê mê, thần Mặt trời, Đất mẹ Gaia,… họ là những vì thần tối cao trong văn hoá Hy Lạp, không chỉ mang những đặc trưng văn hoá mà đó còn là tín ngưỡng của họ. Tôn sùng các vị thần trong truyền thuyết từ lâu đã là một điểm đặc trưng của người Hy Lạp, nay các câu chuyện về thần thoại được lưu truyền, phát triển và xuất hiện nhiều trong thời hiện đại chính là một sự thành công. Cốt truyện của những câu chuyện ấy thường không phức tạp, chỉ xoay quanh công lao của họ trong thế giới ma thuật,  kể về những công lao của họ đối với việc tạo nên muôn loài, đó cũng là một điểm sáng để thể loại thần thoại được kết nối với thời hiện đại hơn, nơi mà kĩ thuật số trở nên vô cùng phổ biến. So với các câu chuyện thần thoại khác như Thần Trụ trời của văn hoá Việt Nam, sự hình dung về các vị thần trong văn hoá Hy Lạp mang nét gần gũi với đời sống con người hơn, chính vì thế mà sức sống của nó thực sự lâu bền, Hy Lạp được mệnh danh là suối nguồn của các vị thần linh.

Prô mê tê và loài người đã đem đến cho chúng ta những kiến thức thú vị về cách mà con người được sinh ra cùng với các loài sinh vật khác trên trái đất, tại sao lửa lại có mặt trên đời này. Thần thoại Prô mê tê không chỉ là những tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại mà cho đến mãi sau này nó vẫn mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc, những bài học nhân văn đích thực được truyền tải vô cùng lí thú và hấp dẫn. Nếu chúng ta cứ mãi chạy theo những ham thú mới mẻ mà quên đi những giá trị truyền thống thì sẽ đánh mất đi nét đẹp trong văn hoá dân tộc.

 

16. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Đi san mặt đất.

Xem đáp án

Dàn ý

a. Mở đoạn:

- Giới thiệu về truyện thần thoại.

b. Thân đoạn:

- Đặc sắc truyện thần thoại:

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

c. Kết đoạn:

- Khẳng định giá trị của truyện thần thoại đó.

Mẫu 1

Có lẽ, những bí ẩn về thiên nhiên vẫn là một câu hỏi lớn đối với con người thời cổ. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo nên các câu chuyện để trả lời cho những thắc mắc của bản thân. Đọc truyện "Thần Trụ trời", ta thấy được cách phân chia bầu trời và mặt đất. Đọc "Prô-mê-tê và loài người", ta được giải đáp về cách các vị thần tạo ra muôn vật và loài người. Không giống hai tác phẩm trên, truyện "Đi san mặt đất" lại là những lí giải đơn giản về quá trình loài người chung lòng, góp sức san phẳng mặt đất để làm ăn mà không có sự xuất hiện của các vị thần. Bên cạnh đó, truyện còn sử dụng biện pháp nhân hóa cùng với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Các con vật được nhân hóa có những cử chỉ giống con người đã giúp cho truyện trở nên sinh động hơn. Người Lô Lô xưa đã sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị giúp cho bạn đọc ở mọi lứa tuổi dễ dàng tiếp nhận truyện. "Đi san mặt đất" là một trong những truyện thần thoại đặc sắc của người Lô Lô. Truyện đã thể hiện những lí giải nguyên sơ của người xưa về vũ trụ, về thế giới qua thể thơ năm chữ kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Qua câu chuyện, ta càng thêm ấn tượng với trí tưởng tượng của người xưa trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa dân gian.

Mẫu 2

Có lẽ, những bí ẩn về thiên nhiên vẫn là một câu hỏi lớn đối với con người thời cổ. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo nên các câu chuyện để trả lời cho những thắc mắc của bản thân. Đọc truyện "Đi san mặt đất", ta thấy được cách phân chia bầu trời và mặt đất. Đọc "Prô-mê-tê và loài người", ta được giải đáp về cách các vị thần tạo ra muôn vật và loài người. Không giống hai tác phẩm trên, truyện "Đi san mặt đất" lại là những lí giải đơn giản về quá trình loài người chung lòng, góp sức san phẳng mặt đất để làm ăn mà không có sự xuất hiện của các vị thần. Truyện gây ấn tượng bởi những đặc sắc trong chủ đề và hình thức nghệ thuật.

Mẫu 3

Truyện "Đi san mặt đất" có chủ đề viết về quá trình khai hoang và cải tạo tự nhiên của người Lô lô xưa, quá trình này cần có sự giúp sức của tất cả mọi người lúc bấy giờ. Người Lô Lô xưa đã có những nhận thức khá nguyên sơ, đơn giả về thế giới vũ trụ, đồng thời họ cũng có ý thức trong việc cải tạo thế giới sống quanh mình Khi Trái Đất vẫn còn hoang sơ thì người xưa đã cùng nhau đi trình khai hoang và cải tạo tự nhiên. Đó là thời gian không thể xác định, mà người cổ xưa chỉ biết là:

"Ngày xưa, từ rất xưa...
Người già không nhớ nổi
Mấy năm mấy nghìn đời
Ngày xưa từ rất xưa...
Người trẻ không biết tới
Mấy nghìn, mấy vạn năm"

Mốc thời gian không cụ thể khiến chúng ta không thể biết chính xác đó là thời điểm nào. Khoảng thời gian ấy xưa đến mức người già cũng không thể nhớ nổi, người trẻ thì lại chẳng thể biết tới. Và cuộc sống con người lúc bấy lại thật đơn giản. Trước khi đi san mặt đất, con người vẫn sống chung, ở chung và ăn chung với nhau. Người Lô Lô xưa đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên để trồng bắp, lấy nước uống từ "bụng đá" "Trồng bắp trên núi cao/ Uống nước từ bụng đá". Tuy nhiên, sống trong không gian hoang sơ, thiếu thốn khi "Bầu trời nhìn chưa phẳng/ Mặt đất còn nhấp nhô" nên con người thời cổ đã khẩn trương cùng nhau đi tái tạo thế giới.

Để có thể san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời thì người Lô Lô đã biết tận dụng sức mạnh của các loài vật xung quanh lúc bấy giờ:

"Kiếm con trâu sừng cong
Chọn con trâu sừng dài"

Họ kiếm những con trâu sừng phải cong, phải dài vì đây là những con trâu khỏe, trâu tốt. Chúng đi cày bừa san đất mà không quản gì mệt nhọc. Có sức giúp đỡ của chúng thì công cuộc cải tạo mặt đất của người Lô Lô xưa chẳng mấy chốc mà thành. Thế nhưng công việc san phẳng mặt đất, san phẳng bầu trời là công việc chung của muôn loài nên con người đã đi chuột chũi cóc, ếch. Đáp lại lời kêu gọi của người Lô Lô xưa, các con vật đều tìm cớ trốn tránh, thoái thác. Không thể trông cậy vào chúng, con người đã tập hợp sức mạnh của nhau để cải tạo thiên nhiên "Giống nào cũng không đi/ Người gọi nhau làm lấy". Truyện "Đi san mặt đất" của người Lô Lô không chỉ đơn thuần là lời lí giải về sự bằng phẳng của mặt đất và bầu trời mà còn phản ánh nhận thức của người Lô Lô xưa về quá trình tạo lập thế giới. Theo cách lí giải của họ, để có được mặt đất, bầu trời bằng phẳng như ngày nay thì người Lô Lô xưa đã phải đi san mặt đất. Con người đã tự biết tập hợp sức mạnh của cộng đồng để chung tay thực hiện công việc. Và qua đây, ta thấy được con người trong buổi sơ khai đã có ý thức trong việc cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của chính mình.

Không chỉ độc đáo ở chủ đề, truyện "Đi san mặt đất" còn có những đặc sắc ở khía cạnh nghệ thuật. Người Lô Lô xưa đã sáng tạo truyện thần thoại bằng hình thức thơ ca với giọng điệu vui tươi, nhí nhảnh tạo cảm giác thích thú cho người đọc.

Bên canh đó, truyện còn sử dụng biện pháp nhân hóa cùng với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh. Các con vật được nhân hóa có những cử chỉ giống con người đã giúp cho truyện trở nên sinh động hơn. Người Lô Lô xưa đã sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị giúp cho bạn đọc ở mọi lứa tuổi dễ dàng tiếp nhận truyện.

"Đi san mặt đất" là một trong những truyện thần thoại đặc sắc của người Lô Lô. Truyện đã thể hiện những lí giải nguyên sơ của người xưa về vũ trụ, về thế giới qua thể thơ năm chữ kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Qua câu chuyện, ta càng thêm ấn tượng với trí tưởng tượng của người xưa trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa dân gian.

Mẫu 4

Quá trình phát triển của con người rất dài, không thể kể ra trong thời gian ngắn được. Nó gồm rất nhiều thời kì, mỗi thời kì lại đều chứa đựng sự tiến hóa của con người. Từ những ngày ăn lông ở lỗ, đến thời kì cả kinh tế và xã hội đều phát triển như hiện tại. Con người vận dụng trí tưởng tượng để kể lại câu chuyện khai phá đất đai qua các câu truyện truyền thuyết. Đi san mặt đất có những luận điểm đơn giản, kể về cuộc sống của lớp người quá khứ. 

Truyện Đi san mặt đất kể về quá trình khai khẩn đất hoang của con người lúc bấy giờ. Mọi người khi đó vẫn cùng cùng lao động, cùng chung sức để khám phá những miền đất mới. Người Lô Lô có những nhận định đơn sơ về quá trình tiến hóa ấy. Theo họ, khi trái đất vẫn còn là hình thái sơ khai, con người chỉ cần hợp sức đi khai hoang và cải tạo lại để sống. Họ cũng không thể xác định thời gian chính xác quá trình bắt bắt đầu từ khi nào, chỉ biết rằng “từ rất xưa”.

"Ngày xưa, từ rất xưa...

Người già không nhớ nổi

Mấy năm mấy nghìn đời

Ngày xưa từ rất xưa...

Người trẻ không biết tới

Mấy nghìn, mấy vạn năm"

Những cụm từ “ngày xưa, rất xưa, mấy nghìn năm, nghìn đời” khiến cho người đọc liên hệ về một khoảng thời gian xa xôi mù mịt. Tuy nhiên, ngày ấy con người lại có sự đoàn kết và tình người mà bây giờ chúng ta phải ngưỡng mộ. Họ ăn chung, sống chung, cùng nhau làm việc để khiến cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Người Lô Lô xưa đã biết cách trồng trọt trên nùi cao, uống nước từ bụng đá. Không bỏ cuộc trước hành trình đầy những khó khăn, họ đã từ những “chưa bằng phẳng, nhấp nhô” tạo nên một thiên sử mới.

Theo thời gian, họ cũng biết cách mượn sức của loài vật để thay thế sức lao động của con người. Cũng từ đó, người xưa đã đúc kết được những kinh nghiệm sống và lao động quý giá. Hình ảnh những loài vật khác ở đây cũng được nhắc tới. Đúng như lịch sử, những loài động vật như chuột, ếch không tham gia vào quá trình phát triển của thế giới, vậy nên nền văn minh loài người mới phát triển vượt bậc như hiện tại. Tuy nhiên, hình ảnh đó cũng đã cho thấy người xưa đã biết cách kêu gọi sự trợ giúp từ thiên nhiên.

Người Lô Lô đã dựa vào sức người, không có trợ giúp từ máy móc hoặc loài vật mà có thể san bằng mặt đất. Ta thấy được sức mạnh và tiềm lực vô hạn của con người. Đây chính là một trong những nét đặc sắc của truyện. Về mặt nghệ thuật, truyện khá thú vị và mới lạ khi truyền thuyết không được kể dưới dạng văn xuôi, mà là thơ. Điều này khiến cho người đọc thấy hứng thú và mới lạ hơn. 

Giọng điệu được người Lô Lô sử dụng rất vui tươi, không hề mang nhiều đặc điểm của những ngày lao động vất vả bấy giờ. Có lẽ đối với họ, công việc này là công cuộc chinh phục tự nhiên đầy thành tựu. Với nghệ thuật điệp từ một cách khéo léo, câu chuyện cũng đưa người đọc trở về khoảng thời gian xa xôi, trong khoảng không ấy hình ảnh những người Lô Lô đầy phi thường. Phép nhân hóa những loài vật cũng khiến câu truyện trở nên gần gũi, bình dị hơn. Bởi ngôn từ đơn giản và lại nhiều màu sắc, câu chuyện có thể dễ dàng tiếp cận nhiều lứa tuổi người đọc khác nhau.

Mẫu 5

Trong khi Prô-mê-tê và loài người nói về nguồn gốc tạo nên con người, truyện Đi san mặt đất lại là hành trình con người mở rộng đất đai để phát triển cuộc sống. Nhờ những biện pháp nghệ thuật, người đọc dễ dàng hình dung được quá trình khó khăn ấy. Đến bây giờ khi đọc lại, ta cũng phải thốt lên lời khen ngợi với những người xưa, không chỉ về sức mạnh mà còn về những nét văn hóa nghệ thuật vô cùng đặc sắc.

Mẫu 6

Kho tàng văn học sẽ thật sự thiếu sót nếu vắng đi những câu chuyện thần thoại kì ảo và đầy tính lí thú. Trải qua hàng triệu năm thịnh suy của thế gian, những đồn thổi về thần trụ trời vẫn luôn là nhiều bí ẩn và bất kì ai cũng muốn tường tận về vị thần có công khai mở trời đất này. Từ thuở trời đất hoà làm một, vũ trụ chỉ là một cái hố đen ngòm và hỗn độn, vạn vật chưa sinh sôi nãy nở, xung quanh chỉ là một màu đen kịt. Lúc ấy có một vị thần cao to, đầu đội trời, chân đạp đất, bước một bước có thể đi từ vùng này đến vùng khác, người ta vẫn tương truyền ông là thần trụ trời. Ông có công xây cột chống trời, đến khi trời khô, cái cột ấy được phá đi, những mãnh vỡ văng ra tạo thành núi, gò đồi, … Mặt đất vuông vắn, trời như cái bát úp, nơi giao nhau là đường chân trời. Đó chỉ là những lời lưu truyền về vị thần này, nhưng những kiến thức đó lại mang dấu ấn về sự hiểu biết của người cổ đại về sự hành thành thế giới xung quanh, về lịch sử hình thành đất trời, là những kiến thức ban đầu để tạo nên các tư tưởng trong hành trình đi về cội nguồn  của loài người.

 

17. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Sự tích Hồ Gươm. (10 mẫu)

Xem đáp án

Mẫu 1

Ai đã một lần đặt chân đến Hà Nội đều không thể không đến thăm Hồ Gươm. Hồ Gươm như một lẵng hoa xinh đẹp nằm giữa lòng thành phố. Sự tích cái tên Hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với gần ngàn năm lịch sử của đất Thăng Long.

 

Sự tích Hồ Gươm là một thiên truyện vô cùng đẹp đẽ trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam. Trong việc được gươm và trả gươm của Lê Lợi, yếu tố hiện thực và kì ảo hòa quyện với nhau tạo nên sức hấp dẫn kì lạ. Bằng những hình tượng cực kì đẹp đẽ như Rùa Vàng, gươm thần, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống giặc Minh xâm lược. Truyện cũng nhằm giải thích nguồn gốc tên gọi của hồ và ca ngợi truyền thống đánh giặc giữ nước oai hùng, bất khuất của dân tộc ta.

 

Bố cục của truyện gồm hai phần: Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm thần đánh giặc và sau khi đất nước sạch bóng quân thù, Long Vương đòi lại gươm. Bối cảnh của truyện là thế kỉ XV, giặc Minh sang xâm chiếm nước ta. Chúng coi dân ta như cỏ rác và làm nhiều điều bạo ngược khiến thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Tội ác của chúng quả là trời không dung, đất không tha.

 

Bấy giờ, ở vùng Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa, nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa nhưng vì thế lực còn non yếu nên thua trận liên tiếp. Thấy vậy, Long Quân quyết định cho họ mượn thanh gươm thần để giết giặc. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được tổ tiên, thần linh giúp đỡ và nhân dân nhiệt tình hưởng ứng.

 

Lê Lợi và Lê Thận nhận được gươm thần không phải từ một thế giới xa lạ nào mà ở ngay chính trên quê hương họ. Lê Thận đi kéo lưới ở bến sông, ba lần kéo lên đều chi được một thanh sắt. Lần thứ ba, ông nhìn kĩ thì là một lưỡi gươm. Con số 3 theo quan niệm dân gian tượng trưng cho số nhiều, có ý nghĩa khẳng định và ý nghĩa tạo tình huống, tăng sức hấp dẫn cho truyện. Lê Thận đem lưỡi gươm ấy về cất ở xó nhà rồi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và sau này trở thành người tâm phúc của Lê Lợi. Nhân một hôm đến nhà Lê Thận, chủ tướng Lê Lợi nhìn thấy lười gươm rực lên hai chữ Thuận Thiên (thuận theo ý trời) bèn cầm lên xem nhưng chưa biết đó là gươm thần.

 

Một lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in.

 

Không phải tình cờ người xưa để cho Lê Thận bắt được lưỡi gươm từ dưới đáy sông và Lê Lợi bắt được chuôi gươm từ trong rừng thẳm. Hai chi tiết đó có dụng ý nhấn mạnh gươm thiêng là do linh khí của sông núi hun đúc mà thành. Lưỡi gươm dưới nước tượng trưng cho hình ảnh miền xuôi, chuôi gươm trên rừng tượng trưng cho hình ảnh miền núi. Hai hình ảnh ấy kết hợp lại, ý nói ở khắp nơi trên đất Việt, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng sông nước tới vùng núi non hiểm trở, mọi người đều một lòng yêu nước và sẵn sàng đứng lên cứu nước, giết giặc ngoại xâm.

 

Tuy lưỡi gươm ở nơi này, chuôi gươm ở nơi khác nhưng khi đem lắp vào nhau thì vừa như in. Điều đó thể hiện nghĩa quân trên dưới một lòng và các dân tộc đồng tâm nhất trí cao độ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm. Gươm thiêng phải được trao vào tay người hiền tài, có lòng yêu nước nhiệt thành, có ý chí cứu nước. Cho nên mới có chi tiết thú vị: Ba lần Thận kéo lưới lên đều chi được một thanh sắt (lưỡi gươm); trong đám người chạy giặc vào rừng sâu, chỉ một mình Lê Lợi nhìn thấy ánh sáng lạ phát ra từ ngọn cây cao, nơi có treo chuôi gươm báu. Và một hôm, khi chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Ánh sáng của thanh gươm và hai chữ Thuận Thiên khắc trên gươm như một lời khuyến khích, động viên của thần linh, của tổ tiên đối với Lê Lợi. Thuận Thiên là hợp ý trời. Hãy hành động cứu nước vì hành động đó hợp với lẽ trời. Mà đã hợp lẽ trời thì tất yếu sẽ hợp với lòng người và tin chắc sẽ thành công.

 

Đằng sau hình ảnh có vẻ hoang đường ấy chính là ý chí của muôn dân. Ý dân là ý trời. Trời trao mệnh lớn cho Lê Lợi cũng có nghĩa là nhân dân tin tưởng, trao ngọn cờ khởi nghĩa vào tay người anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Gươm chọn người và người đã nhận thanh gươm, tức là nhận trách nhiệm trước đất nước, dân tộc. Lời nói của Lê Thận khi dâng gươm báu cho Lê Lợi đã phản ánh rất rõ điều đó. Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền tổ quốc.

 

Như vậy là gươm báu đã trao đúng vào tay người hiền tài, cho nên đã phát huy hết sức mạnh lợi hại của nó. Từ khi có gươm thiêng, nhuệ khi của nghĩa quân Lam Sơn ngày một tăng, đánh đâu thắng đấy, bao phen làm cho quân giặc bạt vía kinh hồn. Sức mạnh đoàn kết của con người kết hợp với sức mạnh của vũ khí thần kì đã làm nên chiến thắng vẻ vang. Chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước.

 

Lúc ở nhà Lê Thận, lưỡi gươm tỏa sáng trong góc nhà tối giống như cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã được nhen nhóm từ trong nhân dân. Ánh sáng thanh gươm thúc giục mọi người lên đường. Ánh sáng phát ra lấp lánh từ gươm thiêng phải chăng là ánh sáng của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập muôn đời. Thanh gươm tỏa sáng có sức tập hợp mọi người. Gươm thần tung hoành ngang dọc, mở đường cho nghĩa quân đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng dáng một tên giặc Minh nào trên đất nước ta.

 

Đánh tan quân xâm lược, non sông trở lại thanh bình. Lê Lợi lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ, vua Lê cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp này, Long Quân sai Rùa Vàng đòi lại gươm thần và Lê Lợi hiểu ý thần linh, đã trao gươm cho Rùa Vàng. Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần để đánh giặc, nay đất nước đã yên bình thì đồi gươm lại.

 

Rùa Vàng há miệng đón lấy gươm thần và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Đấy là ánh sáng của hào quang chiến thắng vẻ vang, ánh sáng của quyết tâm giết giặc bảo vệ tổ quốc. Những hình ảnh thần kì trên đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bao người. Chi tiết này có ý nghĩa lớn lao: Khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc, thần linh, tổ tiên trao gươm báu cho con cháu giữ gìn giang sơn, bờ cõi. Nay đất nước độc lập, bắt đầu giai đoạn xây dựng trong hòa bình thì gươm báu – hùng khí của tổ tiên lại trở về cõi thiêng liêng.

 

Hình ảnh Lê Lợi trả gươm đã nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, không thích chiến tranh nhưng kẻ nào xâm phạm đến chủ quyền độc lập, tự do của đất nước này đều sẽ được một bài học nhớ đời. Việc cho mượn gươm và đòi lại gươm của Long Quân như một lời răn dạy chí tình của ông cha ta đối với vị vua mới Lê Lợi: trừng trị kẻ thù thì phải dùng bạo lực, còn cai trị nhân dân thì nên dùng ân đức.

 

Lê Lợi nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả gươm tại hồ Tả Vọng ở Thăng Long, Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết này bị giới hạn bởi vì lúc này, Lê Lợi đã là vua và kinh thành Thăng Long là thủ đô, tượng trưng cho cả nước. Việc trả gươm diễn ra ở đây mới thể hiện hết được tư tưởng yêu hòa bình và tinh thần cảnh giác của toàn dân tộc.

 

Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta. Cái tên Hồ Gươm gắn liền với huyền thoại lịch sử ấy sẽ mãi mãi tồn tại với thời gian, với sự ngưỡng mộ của bao thế hệ Việt Nam yêu nước.

Mẫu 2

Có những tác phẩm nói về lịch sử khiến chúng ta yêu mến và hứng thú nhưng góp phần để tạo ra những hứng thú ấy phải kể đến những sự tích, huyền thoại trong tác phẩm ấy. Có thể nói nó rất quan trọng và mang lại sự hấp dẫn cho những tác phẩm văn học mà nói về lịch sử của nhân dân ta thời bấy giờ.

 

Sự tích Hồ Gươm là một thiên truyện vô cùng đẹp đẽ trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam. Trong việc được gươm và trả gươm của Lê Lợi, yếu tố hiện thực và kì ảo hòa quyện với nhau tạo nên sức hấp dẫn kì lạ. Bằng những hình tượng cực kì đẹp đẽ như Rùa Vàng, gươm thần, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống giặc Minh xâm lược. Truyện cũng nhằm giải thích nguồn gốc tên gọi của hồ và ca ngợi truyền thống đánh giặc giữ nước oai hùng, bất khuất của dân tộc ta.

 

Bài này được chia bố cục thành hai phần đó là phần Long Vương cho Lê Lợi mượn gươm thần và đoạn hai là sau khi đất nước sạch bóng quân thù thì long vương đòi lại gươm thần ấy. Thứ nhất là khi Long Vương cho mượn gươm thần. Bối cảnh của truyện là thế kỉ XV, giặc Minh sang xâm chiếm nước ta. Chúng coi dân ta như cỏ rác và làm nhiều điều bạo ngược khiến thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Tội ác của chúng quả là trời không dung, đất không tha. Chính vì thế mà nhân dân ta căm phẫn lòng chúng ta giận không nguôi nhưng thế lực chúng ta còn yếu. Thấy được điều đó Long Vương đã cho vua Lê Lợi mượn chiếc gươm thần để đánh bay kẻ thù.

 

Đó là ba lần thả lưới mới thấy được thanh gươm ấy. Có thể nói rằng cách cho mượn của Long Vương thật khéo, không đưa trực tiếp mà diễn ra dưới tình huống kéo lưới. Trên thanh gươm có khắc hai chữ "thuận thiên" là ý trời. Một lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in. Hai hình ảnh đó một ở nước một ở rừng cho thấy linh khí của sông núi hun đúc thành. Thế rồi nhờ thanh gươm ấy mà vua Lê Lợi đã chiến thắng quét sạch những tên xâm lược khốn nạn.

 

Đến khi quét sạch bóng quân thù trong một lần đi tản mạn trên dòng sông ấy, đến giữa dòng thì thấy một con rùa vàng nổi lên nói là đòi lại thanh kiếm báu. Đó chính là thần Kim Quy ngày nay mà chúng ta vẫn hay gọi. Lê Lợi hoàn lại thanh kiếm và từ đó nơi đây có tên gọi là Hồ Gươm hay là Hồ Hoàn Kiếm.

 

Như vậy ta thấy chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước.

 

Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta.

Mẫu 3

Về với Hà Nội yêu dấu, ai cũng một lần muốn ghé thăm Hồ Gươm xinh đẹp, nơi từng đã trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, cảnh vật huy hoàng đều đã nhuốm màu của thời gian. Nhưng mặt hồ vẫn trong xanh, như một tấm gương ngọc, yên bình nằm giữa vòng tay của thủ đô, in sâu trong ký ức người dân nơi đây với câu chuyện Sự tích Hồ Gươm.

 

Bằng những lời văn ly kỳ, hấp dẫn Sự tích Hồ Gươm đã khái quát một cách ngắn gọn về công cuộc chống quân Minh xâm lược, qua đó ca ngợi sự anh hùng, tinh thần chiến đấu anh dũng, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc của quân dân ta thuở bấy giờ. Chi tiết tặng gươm là biểu trưng cho tư tưởng tuân mệnh trời đã có từ hàng ngàn năm nay, trời cao có mắt, vốn rất sáng suốt, hễ là việc chính nghĩa thì thần phật sẽ giúp đỡ, phù hộ bằng một cách nào đó, và người làm việc chính nghĩa luôn chiến thắng mặc dù có phải gặp nhiều khó khăn vất vả. Đây cũng là mô típ và kết cấu thường thấy trong văn học phương Đông, rất đặc sắc, những kiến thức lịch sử dễ dàng đi sâu lòng người đọc người nghe và để lại ấn tượng sâu sắc, cho ta những bài học đạo đức đầy tính nhân văn.

 

Thuở ấy, giặc Minh nhân lúc nhà Hồ trong cơn nhiễu loạn, mượn cớ sang nước ta với âm mưu xâm lược, đồng hóa biến nước ta thành thuộc địa của chúng, dưới sự đàn áp, bóc lột tàn nhẫn của quân giặc đời sống nhân dân vô cùng khốn đốn, khổ cực, nghĩ mà đau xót. Nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ, đứng đầu là chủ tướng Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa, tuy nhiên trong những năm đầu, nghĩa quân gặp rât nhiều khó khăn. Lực lượng còn non yếu, chưa có người tài ra giúp sức, thiếu quân lương, vũ khí, luôn phải lẩn trốn, tránh bị quân Minh phát hiện để chờ kế lâu dài.

 

Biết được tình cảnh ấy, lại khâm phục lòng yêu nước, anh hùng của nghĩa quân mà tiêu biểu là Lê Lợi, Long Quân bèn cho mượn gươm thần để giúp nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh. Tuy nhiên, ở đời muốn có được thành tựu thì cần phải chịu chút thử thách, Long Quân không chọn cách đưa gươm trực tiếp cho Lê Lợi, mà lại khéo léo thông qua Lê Thận, vốn là một người chài cá, quanh năm lam lũ, qua ba lần vớt được gươm, chàng trai này đã nhận ra có điểm diệu kỳ bèn giữ lại sau ắt có chỗ dùng tới, quả là nhìn xa trông rộng. Không biết sự kiện vớt gươm có ảnh hưởng gì đến chí hướng của Lê Thận hay không nhưng không lâu sau anh đã gia nhập nghĩa quân và trở thành tướng tài dưới trướng của Lê Lợi, lập rất nhiều công lao, cuộc chiến cũng thuận lợi hơn vì có những người tài giúp sức.

 

Trong một lần ghé nhà Lê Thận, Lê Lợi bỗng phát hiện lưỡi gươm phát sáng ở một góc nhà, trên đó còn có chữ “Thuận Thiên”, dịch ra là thuận theo ý trời, muốn nói rằng gươm này là được trời ban tặng, để giúp làm việc chính nghĩa. Giữa không gian tăm tối ấy, gươm bỗng phát sáng rực rỡ, có lẽ đã nhận ra vị minh quân Lê Lợi, vầng sáng ấy là sự cổ vũ từ thần linh, tổ tiên, tỏ rõ con đường chống quân xâm lược vốn đang khó khăn ngặt nghèo. Chi tiết ly kỳ này có thể xem là điềm báo đầu tiên cho sự thành công vang dội của công cuộc chống quân Minh xâm lược. Tuy có điểm thần kỳ nhưng vì chưa có chuôi nên gươm vẫn phải nằm chờ, chờ một thời cơ chín muồi hơn.

 

Ít lâu sau, trong một trận đánh quân ta thất thế phải rút lui, trên đường tháo chạy Lê Lợi vô tình thấy trên ngọn cây có một chuôi gươm nạm ngọc đang phát sáng trong rừng, bằng đầu óc nhanh nhạy và trí nhớ của một vị minh quân Lê Lợi lập tức nghĩ đến lưỡi gươm có chữ “Thuận Thiên” ngày đó ở nhà Lê Thận. Từ đó gươm đã có chuôi, phát huy được sức mạnh cường đại, đưa nghĩa quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, khiến quân Minh nhiều phen kinh hồn bạt vía, cuối cùng bại trận thảm hại mà trở về nước. Gươm là biểu trưng cho sức mạnh “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, trên thuận trời cao, dưới hợp ý dân, việc Lê Thận vớt được lưỡi gươm ở dưới sông, Lê Lợi lại nhận được chuôi ngọc ở trên rừng là ẩn ý sâu xa về sự dung hòa hai yếu tố sông và núi là biểu trưng cho “địa lợi” đồng thời là sự hòa hợp giữa nhân dân và nghĩa quân. Chi tiết gươm và chuôi vừa khít mang ý nghĩa của sự đoàn kết, tương trợ, gắn bó không rời giữa quân và dân ta, cả nước một lòng dẹp tan giặc Minh.

 

Con đường nhận gươm cũng trải qua nhiều gian nan giống với việc chinh chiến chống quân Minh xâm lược, có câu “dục tốc bất đạt”, chuyện gì cũng cần có một con đường và kế sách vẹn toàn, cái gì có một cách dễ dàng thì khó bền lâu, bởi ta thường không xem trọng. Đây cũng có thể xem là bài học mà Long Quân muốn gửi gắm cùng với việc ban gươm thần để giúp nghĩa quân chiến thắng kẻ thù, đem về hòa bình và độc lập cho Đại Việt.

 

Dẹp tan quân xâm lược, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, một năm sau khi đất nước đã ổn định, Long Quân sai Rùa thần lên đòi Lê Lợi trả lại gươm, ý muốn nói phúc trạch tổ tiên, thần linh đã giúp đỡ giữ nước, về sau công cuộc cai trị chỉ còn trông cậy vào sự nỗ lực của bậc minh quân như Lê Lợi và các trung thần cùng nhau gánh vác. Ánh sáng le lói nằm sâu dưới lòng hồ, sau khi rùa ngậm gươm biến mất như là ánh hào quang của chiến tích huy hoàng, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, mãi mãi vẫn còn in sâu trong tâm trí nhân dân Đại Việt ta.

 

Lê Lợi trả gươm đại diện cho lòng yêu mến hòa bình, ý muốn sống trong thanh bình, an cư lạc nghiệp của nhân dân ta, gươm đã về với nơi linh thiêng, hy vọng tổ tiên sẽ mãi phù hộ cho đất nước, cho dân tộc được thịnh vượng, không phải sống trong cảnh lầm than, đổ máu.Sự tích Hồ Gươm là một truyện mang nhiều yếu tố kỳ ảo, gắn liền với lịch sử dân tộc trong cuộc kháng chiến với quân Minh xâm lược của Lê Lợi.

 

Truyện là niềm tự hào, đồng thời ca ngợi tinh thần anh dũng trong công cuộc chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta, tấm lòng kiên cường ấy đã cảm động đến tổ tiên, thần linh, được thần linh phù hộ giúp đỡ vượt qua khó khăn. Hồ Tả Vọng đổi tên thành Hồ Gươm, như nhắc nhở con dân ta tuyệt đối không thể quên những trang sử hào hùng của dân tộc, đồng thời phản ánh khát vọng hòa bình, cùng tinh thần cảnh giác cao độ với những thế lực đang nhòm ngó nước ta.

Mẫu 4

Nhắc tới Hà Nội là nhắc tới vùng đất chứa đựng nhiều sự tích văn hóa và lịch sử lâu đời. Hà Nội đang vươn mình đón chào những thành tự mới trong cả văn hóa, kinh tế lẫn chính trị xã hội. Ai đã một lần đặt chân đến Hà Nội thì địa điểm đầu tiên không đâu khác ngoài Hồ Gươm hay 36 phố phường. Vậy là người Việt Nam bạn biết Hồ Gươm có một sự tích mà nó gắn ngay trong chính cái tên gọi của nó Hồ gươm hay là Hồ Hoàn Kiếm.

 

Nói về kho tàng văn học dân gian của nước ta, nếu không nhắc tới sự tích Hồ Gươm thì thật là thiếu sót. Sử dụng yếu tố hoang đường, kỳ ảo để làm tăng thêm phần kịch tính và hấp dẫn cho thiên truyện này, nhất là qua hai lần nhận gươm và trả gươm của Lê Lợi. Hình ảnh chiếc gươm thần dùng để giết giặc, con rùa vàng để ngầm cho chúng ta hiểu đây là cuộc chiến chính nghĩa, ai dám xâm phạm nước Nam thì đều phải nhận lấy hậu quả bại trận như thế này. Truyện như một bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược cũng như viết lên một thiên truyện đẹp về nguồn gốc của Hồ gươm.

 

Lấy bối cảnh đất nước dưới thời vua Lê Lợi trị vì, khi bọn giặc Minh tìm đủ mọi cách để thau tóm nước ta. Truyện được thành 2 phần rõ rệt: lúc vua nhận lấy gươm thần và khi trả gươm về cho Long Quân. Long Quân là nhân vật trong tượng tưởng của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa là cuộc chiến chính nghĩa vì nước vì dân nên được tổ tiên giúp đỡ và phù hộ. Trong một lần, sau khi bị quân địch đánh bại vua đành phải lùi vào rừng để bảo vệ tính mạng rồi tiếp tục chiến đấu thì vô tình nhặt được lưỡi chuôi gươm nạm ngọc khi thấy ánh sáng kỳ lạ phát ra từ cây, nhớ ra chiếc gươm mà Lệ Thận vớt được dưới biển liên mang cho Lê Lợi, như dự đoán của Lê Lợi, chúng vừa vặn và đồng nhất với nhau.

 

Hai chi tiết trục vớt được gươm và Lê Lợi nhặt được chuôi gươm không hề đơn giản chỉ là sự ngẫu nhiên mà qua đó thể hiện được sự dung hòa của đất trời, lòng vua và lòng yêu nước của cả toàn dân tộc được cả trời đất chứng giám và thấu tận trời xanh. Con người trong cùng dân tộc thì luôn hướng về nhau. Chuôi gươm tượng trưng cho nhân dân ở miền ngược, còn lưỡi gươm tượng trưng cho nhân dân miền xuôi, dù có khó khăn như thế nào cũng luôn đồng lòng, cùng vua giữ bờ sông một cõi.

 

Cái gì cũng cần cho trao cho người có tài và đủ hiền đức mới có thể dựng nên nghiệp lớn. Gươm thần trao cho Lê Lợi là đúng chủ ý của cả toàn dân tộc Việt Nam, sứ mệnh giữ nước, đánh giặc, đưa non sông thu về một mối của Lê Lợi là đúng với lòng dân, luôn được nhân dân tin tưởng. khi đất nước rơi vào tình trạng lâm nguy thì chỉ có trên dưới đồng lòng, nhất trí thì mới hoàn thành được sứ mệnh.

 

Việc long quân bảo rùa vàng đi lấy lại gươm thần chính là lời nhắc nhở cho vị vua mới Lê Lợi của chúng ta: việc đánh giặc nên dùng bạo lực thì mới có thể giải quyết được, nhưng khi trì vị đất nước yêu chuộng hòa bình, không thích chiến tranh thì hãy nên dùng hồng đức của mình để cai trị thì dân mới phục được. Tuy Lệ Thận nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả ở trên sông Tả Vọng, Hà Nội,điều này một lần nữa nhắc về sự ra đời của tên gọi hồ Gươm và hồ Hoàn Kiếm, nếu trả ngay trên đất xứ Thanh thì bị giới hạn về mặt không gian.

 

Tên gọi Hồ Hoàn Kiếm như là lời cảnh báo cho những kẻ tham lam luôn tìm mọi cách chống phá và thâu tóm nước ta. Nước Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, đấu tranh giữ nước và dựng nước là truyền thống quý báu của ta cần được gìn giữ và phát huy.

Mẫu 5

Trong hệ thống truyền thuyết của nước ta, có lẽ Sự tích Hồ Gươm là truyền thuyết ít mang tính chất tưởng tượng, kì ảo nhất. Đọc tác phẩm ta như được sống lại những năm tháng chiến đấu hào hùng, oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Và càng thêm kính yêu hơn nữa vị anh hùng Lê Lợi đã đem lại độc lập, tự do cho dân tộc.

 

Giặc Minh lấy cớ phù Trần diệt Hồ mà thực chất là sang xâm chiếm, đô hộ nước ta. Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực, bị quân Minh chèn ép, bức hại. Trước tình cảnh lầm than của nhân dân, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Nhưng buổi ban đầu nghĩa quân còn yếu, nhiều lần bị đánh lui. Thấy vậy, Long Quân bèn cho Lê Lợi mượn gươm thần. Nhưng cách Long Quân cho mượn gươm cũng hết sức đặc biệt, ngài không đưa tận tay cho Lê Lợi mà phải trải qua một quá trình gian nan.

 

Long Quân cho gươm mắc vào lưới đánh cá của Lê Thận ba lần, Lê Thận lần nào cũng gỡ lấy gươm rồi vứt trở lại sông, qua khúc sông khác thả lưới lại vẫn vớt được lưỡi gươm ấy. Thấy sự lạ, Lê Thận bèn mang gươm trở về. Còn chuôi gươm lại là do vị chủ tướng Lê Lợi lấy được trên cây đa. Cách cho mượn gươm của Long Vương cho thấy rằng đây là thanh gươm thần, bởi vậy không thể trao theo một cách thức dễ dàng mà phải vượt qua thử thách mới có được nó. Không chỉ vậy, hình ảnh lưỡi gươm và chuôi gươm được tìm thấy ở hai địa điểm khác nhau (dưới nước, trên rừng) cũng cho thấy muốn đánh lại kẻ thù thì toàn dân ta phải đoàn kết, hợp nhất, chỉ có như vậy mới tạo nên sức mạnh to lớn đánh đuổi kẻ thù.

 

Chi tiết này giúp chúng ta nhớ lại truyền thuyết Con rồng cháu Tiên khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia năm mươi con lên rừng, năm mươi con xuống biển cai quản các phương, khi có việc thì đoàn kết giúp đỡ nhau. Như vậy, điều tất yếu ở đây lưỡi gươm phải tìm được ở dưới nước, chuôi gươm phải tìm thấy trên rừng, khi khớp vào nhau thì “vừa như in” thể hiện sự đồng lòng, nhất trí của toàn bộ nhân dân miền ngược và miền xuôi. Ngoài ra chi tiết Lê Lợi nhìn thấy lưỡi gươm và bắt được chuôi gươm còn cho thấy để cuộc đấu tranh đi đến thành công còn cần đến sự anh minh, sáng suốt của người lãnh đạo và người đó chính là vị anh hùng Lê Lợi.

 

Có được gươm thần, sức mạnh của nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, chẳng mấy chốc đã đánh lui được quân địch, khiến chúng phải rút lui về nước. Sức mạnh của thanh kiếm cũng là minh chứng cho ta thấy sức mạnh của tinh thần đoàn kết. Dưới sự lãnh đạo anh minh, sáng suốt của Lê Lợi, sự đồng lòng nhất chí của toàn dân thử thách nào cũng có thể vượt qua, kẻ thù nào cũng có thể đánh thắng.

 

Quân Minh thảm bại, trở về nước, nhân dân ta được hưởng cuộc sống ấm no, yên bình. Một năm sau, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại gươm thần. Không phải lấy lại ngay lúc quân ta giành chiến thắng mà phải một năm sau, bởi lúc này nước nhà mới ổn định, kinh tế quân sự đã được phục hồi và ngày càng vững mạnh. Hình ảnh rùa vàng hiện lên giữa hồ đớp lấy thanh kiếm rồi lặn xuống hồ sâu, mặt hồ vẫn le lói những ánh sáng. Đây là một chi tiết kì ảo mang tính thiêng liêng, huyền bí. Đồng thời chi tiết này cũng để giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm (hồ trả gươm). Hồ Hoàn Kiếm gắn liền với chi tiết mang tính huyền bí đã góp phần thiêng liêng hóa một địa danh lịch sử.

 

Sự tích Hồ Gươm không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn rất phong phú về nghệ thuật. Trong truyền thuyết này có hai câu chuyện vừa lồng ghép vừa tách bạch với nhau: câu chuyện mượn gươm và câu chuyện trả gươm. Chúng có nội dung riêng nhưng đồng thời bổ sung ý nghĩa cho nhau. Không chỉ vậy văn bản là sự kết hợp giữa yếu tố thực và yếu tố tưởng tượng, kì ảo một cách hài hòa, hợp lí.

 

Với sự kết hợp hài hòa các yếu tố li kì, huyền bí với các yếu tố lịch sử, Sự tích Hồ Gươm không chỉ giải thích nguồn gốc ra đời của tên gọi Hồ Gươm. Mà qua câu chuyện này còn nhằm ca ngợi, tôn vinh tính chất chính nghĩa, tính chất nhân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tên hồ Hoàn Kiếm đồng thời cũng dùng để đánh dấu chiến thắng của dân tộc, thể hiện ước mơ, khát vọng hòa bình của nhân dân.

Mẫu 6

Có lẽ, khi nhắc đến Hà Nội mọi người đều nghĩ ngay đến Lăng Bác, Chùa Một Cột…. hay là Hồ Gươm còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Cái tên Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm đã không quá xa lạ đối với mỗi người dân Việt. Truyện cổ tích “ Sự tích Hồ Gươm” là một thiên truyện đặc sắc trong kho tàng văn học Việt Nam, giải thích rõ nguồn gốc của cái tên Hồ Hoàn Kiếm thông qua những chi tiết và nhân vật gắn liền với lịch sử xây dựng đất nước.

 

Câu chuyện xoay quanh việc nhận được gươm và trả gươm của Lê Lơi, những chi tiết kỳ ảo và hiện thực xen lẫn nhau, đẩy cho cốt truyện lên cao trào, tạo cho người đọc cảm giác chờ đợi kết quả. Với những hình tượng đẹp đẽ như Gươm thần, Rùa vàng…. truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, nhân đạo và chiến thắng vẻ vang của nhân dân ta khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi lãnh thổ đất nước dưới sự chỉ đạo của Lê Lợi.

 

Bố cục của câu chuyện được chia làm hai phần rõ ràng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Phần thứ nhất là Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm thần để đánh giặc, phần thứ là người cho Rùa Vàng đến để đòi lại gươm khi đã đánh đuổi được giặc Minh, đất nước trở lại yên bình.

 

Bấy giờ ở Lam Sơn, Thanh Hóa, quân Minh kéo người sang xâm lược nước ta, nghĩa quân ta dựng cờ khởi nghĩa để chống lại quân địch, vì lực lượng còn non yếu nên đã nhiều lần thất bại. Như chúng ta đã biết, giặc Minh là một lũ khốn nạn, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, quyết tâm tiêu diệt quân ta, tội ác của chúng không thể nào tha thứ được.

 

Nhận thấy được nghĩa quân ta thất bại liên tục trước kẻ thù, Long Quân đã quyết định cho nghĩa quân ta mượn gươm thần giết giặc, mang lại sự yên bình cho quần chúng nhân dân. Được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân cùng với sự giúp sức của thần linh, nghĩa quân đã nhanh chóng tiêu diệt địch, cướp kho lương thực của địch. Từ đó nhân dân ta được ăn no mặc ấm.

 

Gươm thần xuất hiện bằng cách nào? Trong một lần đánh bắt cá ở sông, Lê Thận cả ba lần đều vớt lên được một thanh sắt. Lấy làm kì lạ, ông nung nó dưới lửa và thấy phát sáng từ đó phát hiện ra lưỡi gươm. Còn Lê Lợi trong một lần trốn chạy quân địch, ông đã phát hiện ra chuôi gươm ở trên ngọn cây và ông nhớ đến có một lưỡi gươm ở nhà Lê Thận. Kỳ lạ thay, chuôi gươm và lưỡi gươm trùng khít vào nhau. Từ đó, nhờ sự giúp sức của gươm thần mà nghĩa quân đi đến đâu, giặc chết đến đấy.

 

Chi tiết lưỡi gươm xuất hiện dưới nước, chuôi gươm xuất hiện trên rừng, đó như là một lời nhắc nhở chúng ta, cho dù bất cứ ở nơi đâu đi chăng nữa, dân tộc Việt Nam là một, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng cho tới vùng nước non hiểm trở, chỉ cần có lòng yêu nước và tinh thần không chịu khuất phục trước kẻ thù thì ai cũng có thể đứng lên cứu nước. Nếu có sự đồng lòng và tinh thần đoàn kết thì không có bất kì đất nước nào có thể xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lanh thổ Tổ quốc. Ngoài ra, qua chi tiết lưỡi gươm và chuôi gươm ở hai nơi khác nhau nhưng khi ghép lại thì vừa khít chứng tỏ nghĩa quân ta trên dưới một lòng, chỉ cần như vậy là đã đánh thắng được kẻ thù.

 

Sau khi đánh đuổi được giặc Minh, đất nước trở lại yên bình, dân có cơm ăn áo mặc thì Long Quân sai Rùa Vàng đến đòi lại gươm. Sau việc trả gươm, hồ Tả Vọng được đổi tên thành Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Với những chi tiết kỳ ảo, không có thật, tác giả dân gian đã dệt nên một câu chuyện thú vị, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc, để lại cho con cháu chúng ta nhiều bài học vô cùng quý báu.

 

Qua truyện “ Sự tích Hồ Gươm”, chúng ta như hiểu thêm về thời kì dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Các thế hệ sau phải biết tiếp nối truyền thống cha ông, đoàn kết một lòng bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Mẫu 7

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có rất nhiều truyện cổ tích hay và ý nghĩa, chúng ta không thể không kể đến “Sự tích Hồ Gươm”.

 

Nước ta lúc bấy giờ đang bị giặc Minh đô hộ, Lê Lợi cùng quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa nhưng do ban đầu mới thành lập, đội quân còn yếu thế nên thường bị thua. Chính vì vậy mà Đức Long Quân đã quyết định cho đội quân mượn thanh gươm để giết giặc. Có một người đánh cá tên là Lê Thận, thả lưới ba lần và kéo lên đều là một thanh sắt nhưng nhìn kĩ thì đó là một lưỡi gươm. It lâu sau đó, Lê Lợi bị giặc đuổi vào rừng, trong lúc đêm tối, Lê Lợi thấy có ánh sáng lạ trên ngọn cây. Ông lấy xuống xem thử thì đó là chuôi gươm nạm ngọc.

 

Ông nhớ đến lưỡi gươm của Lê Thận, mang ra ướm thì vừa như đúc. Hai chi tiết nhặt được lưỡi gươm ở dưới nước và chuôi gươm ở trên rừng có ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng, nó là sự kết hợp sức mạnh của trời đất, rừng biển tạo nên, đó còn là sức mạnh của người dân miền xuôi và miền ngược hợp thành chống giặc ngoại xâm. Tuy lưỡi gươm và chuôi gươm ở hai nơi khác nhau nhưng khi ướm lại thì vừa như đúc, điều đó thể hiện tinh thần đồng lòng, đồng tâm hiệp lực sẵn sàng đứng lên cứu nước.

 

Lê Lợi là người tài, giàu lòng yêu nước và thông minh nên được Đức Long Quân trao cho thánh gươm. Ánh sáng của hai chữ Thuận Thiên phát sáng cả khu rừng thể hiện sự hợp tình, hợp lí, hợp với ý trời. Hành động cứu nước đúng đắn, được trời ủng hộ, khích lệ, đó là sự động viên tinh thần cho Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa và chắc chắn sẽ giành thắng lợi. Phía sau chi tiết kì ảo thì đó là ý nguyện của nhân dân. Đó là trách nhiệm cũng như trọng trách cao quý mà nhân dân trao cho người có tài,có chí cho đấng anh minh là việc lớn, đồng thời nó còn thể hiện sự tin tưởng, một lòng của nhân dân theo bước chân Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa.

 

Gươm thần trao đúng người tài, vì vậy mà mọi cuộc càn quét của quân giặc đều thất bại dưới thanh gươm của ta, đánh đâu thắng đấy, quân giặc chết hàng loạt, làm cho bọn chúng bao phen điêu đứng làm nên sức mạnh vẻ vang. Thanh gươm thể hiện tinh thần đoàn kết của dân tộc, ý chí quật cường của dân ta, mang đến cho dân ta nền độc lập tự chủ.

 

Khi đã hoàn thành sứ mệnh, Lê Lợi trả lại thanh gươm. Đánh tan bọn giặc, Lê Lợi lên ngôi vua và đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ Lê Lợi du thuyền rồng ở hồ Tả Vọng. Nhân dịp này, Đức Long Quân sai Rùa Vàng đến đòi lại gươm thần. Lê Lợi hiểu ý, khi Rùa Vàng ngoi lên, Lê Lợi thả thanh gươm xuống, rùa há miệng đón lấy và lặn xuống nước. Hình ảnh Lê Lợi trả lại thanh gươm cho Rùa sau khi đất nước yên bình, không còn bóng kẻ thù thể hiện ý chí, khát vọng của nhân dân ta không thích phải cầm đao kiếm, không thích chiến tranh và sự chết chóc, mong muốn được hòa bình.

 

Lê Lợi trả gươm ở hồ Tả Vọng, chính vì vậy mà sau này hồ này được lấy tên là hồ Hoàn Kiếm, tức là hoàn trả lại gươm, nhắc nhở mọi người cần đề phòng, có tinh thần cảnh giác đối với thế lực thù địch có tham vọng thâu tóm nước ta. Hồ Hoàn Kiếm là nơi đánh dấu và khẳng định chiến thắng vẻ vang của khởi nghĩa Lam Sơn cũng như tài năng lãnh đạo của Lê Lợi.

Mẫu 8

Truyện cổ tích nằm trong kho tàng truyện cổ dân gian của nước ta. Nó nói lê ước mơ, tâm tư tình cảm của người dân Việt Nam từ thời kỳ xưa truyền cho đời nay. Là những bài học bổ ích để thế hệ con cháu có thể rút ra kinh nghiệm cho riêng mình.

 

Sự tích Hồ Gươm là một câu chuyện vô cùng nổi tiếng trong kho tàng truyện cổ của nước ta. Câu truyện cổ tích này kể về việc vua Lê Lợi được rùa vàng cho mượn kiếm thần đánh tan giặc ngoại xâm. Chính yếu tôi hư cấu, kỳ ảo đã làm nên sức hấp dẫn của truyện cho tới thế hệ hôm nay mọi người vẫn còn yêu thích truyện này. Bối cảnh truyện viết về những năm thế kỷ XV khi quân Minh sang xâm lăng nước ta, chúng reo cái chết lên những người dân vô tội, coi dân ta như nô lệ của mình, coi nước ta như cỏ rác.

 

Câu chuyện kể rằng cho một người làm nghề kéo lưới một đêm nọ anh chàng Thuận đi kéo lưới thấy nặng tay anh ta tưởng là đánh được mẻ cá lớn nên mừng lắm. Nhưng kéo lên chỉ là một thanh sắt. Anh lại quăng xuống sông. Nhưng ba lần liên tiếp anh chàng Thuận đều kéo được thanh sát lấy làm lạ nên anh Thuận mới lấy lửa soi kỹ thì nhận ra đó là thanh gươm.

 

Chiến tranh xảy ra, Thuận gia nhập quân Tây Sơn của Lê Lợi đánh giặc, nhưng do binh mỏng, lực yếu nên quân ta phải chạy thoát thân trong lúc nguy cấp thì Thuận đã dâng hiến thanh gươm của mình cho Lê Lợi.

 

Lê Lợi cầm lấy và khắc lên thanh gươm hai chữ “Thuận Thiên” có nghĩa là ý trời. Khi Lê Lợi cầm thanh gươm lên tay ngay lập tức thanh gươm phát sáng, sắc nhọn không còn là một thanh sắt han rỉ nữa. Gươm vung tới đâu thì đầu giặc rơi tới đó, khiến cho quân giặc vô cùng khiếp sợ uy danh của Lê Lợi tháo chạy về nước. Quân ta thoát cảnh xâm lăng.

 

Một hôm nhân cảnh đất nước thái bình, Lê Lê đi thuyền rồng trên sông ngắm cảnh nhân dân thái bình, thịnh vượng khi ông đang đi thì bỗng có một chú Rùa nổi lên xin lại thanh gươm hôm nào. Lê Lợi liền rút thanh gươm đang mang trên mình trao trả cho Rùa thần. Rùa thần ngậm gươm rồi lặn xuống đáy sông để lại một ánh sáng xanh. Từ đó, người ta gọi hồ đó là Hồ Gươm, hay chính là Hồ Hoàn Kiếm, nơi Lê Lợi đã trao trả thanh gươm quý báu cho rùa thần.

 

Câu chuyện này nó lên tinh thần yêu nước cũng như việc chúng ta đánh giặc ngoại xâm đến cả Long Vương cũng thương tình giúp đỡ thể hiện tinh thần chính nghĩa thuộc về ta. Còn giặc Minh là lũ cướp nước gây ra chiến tranh phi nghĩa, nên bị trời trừng phạt.

Mẫu 9

Tìm hiểu, suy ngẫm về chùm truyền thuyết cổ xưa xuất hiện trong thời đại các vua Hùng dựng nước như Con Rồng cháu Tiên; Thánh Gióng; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh… chúng ta thấy các nhân vật và sự kiện lịch sử đã được nhào nặn, kì ảo hoá, lí tưởng hoá khiến cho chất thực mờ đi, chất mộng mơ, lãng mạn, tưởng tượng hiện rõ. Tiếp sau các truyén thuyết đẫm chất mộng, chất thơ ấy, tổ tiên chúng ta sáng tác nhiều truyền thuyết tiêu biểu mang nhiều yếu tố sự thật lịch sử hơn. Một trong những tác phẩm tiêu biểu có cốt lõi lịch sử nổi bật là truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm.

 

Đây là loại truyền thuyết vừa giải thích nguồn gốc một địa danh vừa tôn vinh những danh nhân, những anh hùng nổi bật trong lịch sử có công với dân, với nước. Sự tích Hồ Gươm là một trong hàng trăm sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn ở thế kỷ XV. Tuy tác phẩm mang cốt lõi lịch sử nổi bật, nhưng vẫn có những chi tiết kì ảo, tưởng tượng đặc sắc, toát và nhiều ý nghĩa. Đọng lại trong suy ngẫm và cảm xúc của người kể, người nghe truyền thuyết này là hình ảnh thanh kiếm "Thuận Thiên". Nói khác đi, đây là câu chuyện "Trời trao gươm báu, việc lớn ắt thành công".

 

1. Vì sao đức Long Quân cho mượn gươm?

Qua truyền thuyết, chúng ta hiểu rằng: Lúc bấy giờ giặc Minh đô hộ nước ta, làm nhiều điều bạo ngược, nhân dân ta : trời đất và lòng người – căm giận chúng đến tận xương tuỷ. Ở vùng Lam Sơn, Lê Lợi đã tạp hợp những người dân có nghĩa khí nổi dậy chống giặc. Những ngày đầu, nghĩa quân lực yếu, lương thảo ít, thanh thế chưa cao, nhiều lần bị thua trận. Đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc. Như vậy, trời đã thấu hiểu việc đời, lòng dân. Việc làm của nghĩa quân Lam Sơn hợp ý trời, được tổ tiên, thần linh ủng hộ, giúp đỡ. Nhưng cách ủng hộ, giúp đỡ ấy không đơn giản, dễ dàng mà nhiều thử thách, đòi hỏi con người phải thông minh, phải giàu bản lĩnh và có quyết tâm cao.

 

2. Cách Long Quân cho mượn gươm, Lê Lợi nhận gươm và tổ chức chiến đấu như thế nào?

a) Từ trong lòng nước, lưỡi gươm đến tay người dân. Chàng Lê Thận đánh cá, ba lần quăng chài thả lưới, kéo lưới vẫn chỉ thấy thanh sắt lạ "chui vào lưới mình". Đưa thanh sắt cạnh mồi lửa, chàng nhận ra một lưỡi gươm. Vậy là, người dân bình thường ấy đã được sông nước tặng vũ khí, thôi thúc chàng lên đường tham gia nghĩa quân. Nhưng "lưỡi gươm" kia vẫn ngủ im. Kể cả lúc chủ tướng Lê Lợi cầm lên xem, thấy hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi gươm, mọi người vẫn không biết đó là báu vật. "Thuận Thiên" nghĩa là "hợp lòng trời, thuận với ý trời". Có thể Lê Lợi hiểu nghĩa của hai chữ đó, nhưng chưa thấu tỏ được ý thiêng, thâm thuý của thần linh. Đây cũng là một câu đố, một thứ thách, đòi hỏi trí thông minh, sự sáng tạo của con người.

 

Trong các truyền thuyết trước, đã xuất hiện những "bài toán", câu đố. Đến truyện này, câu đố hiện lên ở một vật thiêng bằng chữ thánh hiền khiến cho cả nhân vật trong truyện và người đọc chúng ta băn khoăn, hồi hộp. Câu đố tiếp tục xuất hiện, thần linh tiếp tục thử thách. Lần này sự thử thách không đến với dân mà hiện ra trước mắt người chủ tướng. Trên đường lui quân, Lê Lợi bỗng thấy "có ánh sáng lạ trên ngọn cây đa… trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận…". Ít ngày sau "khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in".

 

Như vậy là trải qua một quá trình thử thách, thần linh đã phát hiện được người đủ tài đủ đức, có trí sáng, lòng thành để trao gươm báu. Ta thử ví dụ, sau khi vớt được thanh sắt – lưỡi gươm, chàng ngư dân Lê Thận không gia nhập nghĩa quân, không chiến đấu dũng cảm để được Lê Lợi quý mến, gần gũi và chủ tướng Lê Lợi khi nhìn thấy cái chuôi gươm nạm ngọc không nhớ tới lưỡi gươm nhà Lê Thận… thì sự việc sẽ ra sao ? Có thể nói, từ trong lòng nước, lưỡi gươm vào tay người dân rồi từ trên rừng sâu, núi cao, chuôi gươm thôi thúc chủ tướng để hoàn thiện một thanh gươm, để hoà hợp ý trời và lòng dân, dũng khí của quân và trí sáng của tướng, hoà hợp lực lượng miền xuôi, sông nước và lực lượng người dân miền núi, rừng già. Điều này gợi nhớ lời dặn xưa của bố Rồng, mẹ Tiên "kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn…".

 

Các chi tiết xung quanh việc cho mượn gươm, việc nhận gươm và hai chữ "Thuận Thiên" khắc trên gươm lung linh màu sắc kì ảo, toả sáng biết bao ý nghĩa sâu xa. Tất cả đã đọng lại rồi ngân lên trong câu nói của Lê Thận khi dâng gươm cho Lê -Lợi: "Đây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh eươm thần này để báo đền Tổ quốc !". Sáng tạo câu chuyện trao gươm "Thuận Thiên" như thế, nhân dân ta khẳng định tính chất chính nghĩa và tôn vinh vai trò, uy tín, tài năng phẩm chất người chủ tướng, vị minh công, người anh hùng Lê Lợi trong công cuộc kháng chiến chống giặc Minh lúc bấy giờ.

 

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng chí khắc phục gian nan.

 

Sau này, trong bản hùng văn Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thâu tóm sự việc trời trao gươm, dân gửi niềm tin và ý chí, quyết tâm đánh giặc của Lê Lợi bằng hai câu văn đặc sắc như thế. Không rõ truyền thuyết Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm có trước, hay bài hùng văn của Nguvễn Trãi có trước ? Điều chắc chắn rằng, đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nói chung, cá nhân Lê Lợi nói riêng, nhân dân ta dã tôn vinh bằng những hình ảnh, chi tiết, sự việc, lời văn đẹp nhất.

 

b) Sau khi nhận được gươm thần, nhận sứ mệnh thiêng liêng của Trời Đất và muôn dân, Lê Lợi cùng nghĩa quân đã bừng lên một sức sống mới. "Nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng…, thanh gươm thần tung hoành khấp các trận địa… Uy thế của nghĩa quân vang khắp nơi… Họ… xông xáo đi tìm giặc… Gươm thần mở đường cho họ đánh… cho đến lúc không còn bóng một tên giặc nào trên đất nước". Đoạn truyện ở cuối phần một của áng truyền thuyết không có sự việc nào nổi bật mà chỉ là mấy lời trần thuật ngắn gọn. Nhưng lời văn đi liền một mạch, tốc độ lời kể, giọng kể chuyển dộng mỗi lúc một nhanh, dồn dập, sôi nổi… nghe thật hào hùng, sảng khoái. Âm hưởng áng văn chương truyền miệng dân gian như đồng vọng với âm hưởng tác phẩm văn học viết của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi lúc bấy giờ:

 

Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ…

(Bình Ngô đại cáo)

Đúng là "Trời trao gươm báu, việc lớn ắt thành công"!

 

3. Việc lớn thành công rồi, gươm thần trả lại Long Quân như thế nào? Việc ấy có ý nghĩa gì?

Hoàn cảnh diễn ra việc trả gươm khá đặc biệt. Đất nước thanh bình, nhân dân sống yên vui, vua và quần thần được tạm nghi ngơi, dạo mát, ngắm cảnh trên mặt hồ, cái lẵng hoa xanh mát, con mắt ngọc long lanh giữa kinh thành. Hồ có tên là Tả Vọng, có lẽ vì hồ nằm ở phía trái cung vua, nhìn về cung điện. Một cái tên bình thường không có gì đặc sắc. Điều đặc sắc là "Khi thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước". Trong khi đó lưỡi gươm thần đeo bên người đức vua "tự nhiên động đậy…". Và Rùa nói được tiếng người : "Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân! Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng… Rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước…", việc trả gươm diễn ra mau chóng, toàn là những chi tiết kì ảo, vừa như có thật, lại vừa như không thật, vừa là chuyện con người lại vừa là chuyện của thần thánh. Nghe chuyện và tưởng tượng, chúng ta không khỏi bàng hoàng, suy ngẫm.

 

Vậy việc trả gươm trên hồ Tầ Vọng, sau được đổi thành Hồ Gươm, hồ Hoàn Kiếm có ý nghĩa gì? Trước hết việc ấy phản ánh tư tưởng, tình cảm yêu hoà bình của dân tộc ta. Khi có giặc ngoại xâm, cả thần lẫn người, tổ tiên và con cháu hợp sức vung gươm đánh giặc, khi đất nước thanh bình, chúng ta "treo gươm", "cất gươm", "trả gươm" về chốn cũ. Việc ấy cũng có nghĩa là: chúng ta "trả gươm" cho thần thánh, nhờ giữ hộ để "gươm" tạm nghỉ ngơi hoá thân vào khí thiêng non nước. Bọn giặc hãy coi chừng! Hồ Tả Vọng, bên cạnh hoàng cung, nay có tên là "Hoàn Kiếm" sẽ lưu giữ thanh gươm "Thuận Thiên" giữa lòng Tổ quốc, mãi mãi lưu giữ chiến công của nghĩa quân Lam Sơn, thường xuyên nhắc nhở nhân dân nhớ ơn người xưa và cảnh giác trước kẻ thù xâm lược. Tên hồ và "ánh sáng le lói dưới mặt hồ xanh" như trong truyền thuyết kể muôn đời toả sáng các ý nghĩa đó.

 

Vậy đấy, truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm là câu chuyện Trời trao gươm báu, việc lớn của muôn dân ắt sẽ thành công. Bằng những chi tiết tưởng tượng, kì ảo (như gươm thần, Rùa Vàng) kết hợp những sự việc khá hấp dẫn của một áng văn tự sự dân gian, tác phẩm ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV. Truyện cũng nhằm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của dân tộc ta. Bạn ơi ! Nếu ở Hà Nội, hay ở bất cứ nơi nào trên Tổ quốc ta, ở đâu trên thế giới, có dịp tới thăm Hồ Gươm, hồ Hoàn Kiếm, hãy lắng nghe, hãy kể cho nhau nghe câu chuyện thần thánh cho mượn gươm, rồi đòi trả lại gươm… bạn nhé!

Mẫu 10

Truyền thuyết dân gian vốn là món ăn tinh thần vô cùng phong phú của dân tộc ta, được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Thuở ấu thơ ta lớn lên nhờ những câu chuyện kể của bà, của mẹ, lúc trưởng thành ta lại ru con ngủ bằng chính những câu chuyện hấp dẫn ấy. Có rất nhiều câu chuyện đã trở nên quen thuộc trong lòng mỗi người ví như Tấm Cám, Sọ Dừa, Sơn Tinh Thủy Tinh hay Thánh Gióng,... Tựu chung lại những truyền thuyết, những câu chuyện cổ ấy đều phản ánh chân thực khát khao của nhân dân ta về một cuộc sống tốt đẹp, lương thiện, về việc chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm với một niềm tin tích cực. Sự tích Hồ Gươm cũng chính là một truyền thuyết như vậy.

 

Bối cảnh của truyền thuyết diễn ra trong lúc giặc Minh đô hộ nước ta, tuy đã có nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa chống giặc, nhưng buổi đầu thế lự còn non yếu, nên vẫn thường thua trận. Long Quân thấy nghĩa quân anh dũng, xả thân vì nước nên quyết định cho mượn gươm thần. Tuy nhiên, việc cho mượn gươm Long Quân cũng thiết kế một cách rất tinh tế, như là một thử thách cho Lê Lợi, bởi cái gì dễ có được người ta thường không trân trọng. Hơn thế nữa việc cho mượn gươm có phần thử thách ấy còn giúp Lê Lợi thu nạp được thêm một vị tướng tài là Lê Thận.

 

Lê Thận ban đầu vốn làm nghề đánh cá, có lẽ Long Quân đã thấy được khí chất anh hùng và tiềm năng của chàng trai miền biển này nên đã cố tình gửi gắm lưỡi gươm cho Lê Thận. Sau ba lần thả lưới ở ba khúc sông khác nhau mà vẫn vớt được cùng một lưỡi gươm kỳ lạ, đen thui, giống một thanh sắt không hơn không kém, Lê Thận đã quyết định đem về dựng ở xó nhà, vì linh cảm của một người thông minh thì gươm này ắt có điều bí ẩn, sau này có thể dùng được. Theo dòng chảy định mệnh, Lê Thận tham gia nghĩa quân Lam Sơn, trở thành phụ tá đắc lực, lập nhiều công lớn, chiến đấu anh dũng, thế nên có lần Lê Lợi đã ghé nhà Lê Thận chơi. Dương như đã nhận ra chủ tướng Lê Lợi, nên lưỡi gươm đen sì, vốn vẫn gác xó nhà lại sáng rực lên bất thường. Lê Lợi cầm lên xem thì thấy hai chữ "Thuận Thiên", như báo trước cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo là hợp ý trời, được trời cao ủng hộ. Tuy nhiên đến đây những con người trần mắt thịt vẫn chưa thể nào liên hệ đến sự thần kỳ của lưỡi gươm kỳ lạ ấy.

 

Chỉ đến một lần, nghĩa quân thất thế, Lê Lợi phải chạy một mình vào rừng tránh sự truy lùng của giặc, lúc này đây vô tình phát hiện ra ánh sáng kỳ lạ ở một ngọn cây trong rừng, Lê Lợi tò mò trèo lên xem thì phát hiện một chuôi gươm nạm ngọc cực đẹp. Là người nhanh nhạy Lê Lợi lập tức liên tưởng đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, ông liền đem chuôi gươm ấy về. Qủa đúng như vậy, khi lắp lưỡi gươm vào chuôi gươm thì vừa in, sau nhiều lần thử thách cuối cùng chuôi và lưỡi gươm cũng tìm được nhau, ý trời đã phó thác cho Lê Lợi làm việc lớn.

 

Ngoài ra sự tương hợp của chuôi và lưỡi gươm còn thể hiện một lời nhắc nhở rất hay của Long Quân, rằng muốn làm việc lớn trước hết cần sự đoàn kết, nếu chỉ có chuôi gươm đẹp đẽ thì cũng chẳng thể chém đầu tên địch nào, còn nếu chỉ có lưỡi gươm thì cũng chẳng thể dùng bởi thiếu mất chuôi. Hình ảnh chuôi gươm cũng đại diện cho vị chủ tướng là Lê Lợi người lãnh đạo nghĩa quân, lúc nào cũng phải sáng suốt và mạnh mẽ. Hình ảnh lưỡi gươm là đại diện cho quân đội của ta, tiêu biểu là những vị tướng dưới trướng như Lê Thận, người sẽ giúp Lê Lợi chém đầu từng tên giặc cướp nước. Như vậy sự vừa vặn của chuôi và lưỡi gươm chính là biểu hiện của sự phối hợp ăn ý giữa chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân dưới trướng, đó là sức mạnh tổng hòa làm nên chiến thắng của nhân dân ta.

 

Từ khi có sự trợ giúp của thanh gươm thần, nghĩa quân ta liên tục thắng trận, quân giặc bị đánh đuổi không còn một mảnh giáp, phải đầu hàng và rút quân về nước trong sự nhục nhã. Có được chiến thắng ấy, một phần là nhờ sự thần kỳ của gươm thần mà Long Quân cho mượn, đồng thời gươm ấy đã mang lại niềm tin và nhuệ khí cho nghĩa quân ta, giúp sức mạnh nghĩa quân tăng gấp bội.

 

Chuyện sau khi Lê lợi đã lên làm vua, trong một lần du thuyền trên hồ Tả Vọng (hồ Gươm bây giờ), thì có rùa Thần lên đòi gươm về cho Long Quân có nhiều ý nghĩa. Đầu tiên là lý lẽ có mượn có trả, Lê Lợi đã chiến thắng quân Minh, đất nước ta đã yên bình, thanh gươm cũng không còn phận sự gì nữa thì nên được trả về cho chủ cũ. Thứ hai là Long Quân muốn gửi gắm một điều rằng, sự trợ giúp của thần linh âu cũng chỉ là một phần nhỏ, còn nếu muốn vận nước hưng thịnh lâu dài thì phải dựa vào tài trị quốc của Lê Lợi, đừng nên ỷ vào việc có gươm thần mà lơ là cảnh giác, bài học của An Dương Vương vẫn còn sáng mãi cho đến tận bây giờ. Dù bất kỳ lý do nào, Long Quân đòi lại gươm cũng thật xác đáng. Câu chuyện trả Gươm cũng giải thích lý do hồ Tả Vọng còn có tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

 

Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm là một truyền thuyết có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện lòng tin và khát vọng mạnh mẽ của nhân dân ta về sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bởi cuộc chiến của nhân dân ta là cuộc chiến vì chính nghĩa, có sự trợ giúp của thần linh, là thuận theo ý trời, những kẻ hung tàn bạo ngược ắt phải thất bại. Sự tích ấy còn là lời lý giải lý thú về những cái tên khác của hồ Gươm.

 

Sự tích Hồ Gươm là truyền thuyết ca ngợi công lao chống giặc ngoại xâm của chủ tướng Lê Lợi đồng thời lí giải nguồn gốc của một địa danh nổi tiếng của Việt Nam- Hồ Gươm. Cùng với bài Phân tích truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm, các em có thể tìm đọc các bài: Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc truyện Sự tích Hồ Gươm, Em hãy đóng vai Lê Thận kể lại chuyện sự tích Hồ Gươm, Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sự tích Hồ Gươm, Trong vai Rùa Vàng, hãy kể lại câu chuyện Sự tích Hồ Gươm.

 

18. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Thần Mưa.

Xem đáp án

Dàn ý

a. Mở bài

Trong văn hóa thần thoại việt nam, luôn lưu truyền nhiều thần thoại về vác vị thần khai phá ra vũ trụ như giải thích vì sao có Thần Trụ Trời và tiếp theo đó là ác vị thần gió, vị thần sáng tạo ra muôn loài. Nhưng qua đó cũng không thể thiếu vị Thần Mưa, cung cấp nguồn nước để duy trì sự sống cho muôn loài dưới trần thế.

  b. Thân Bài

* Hình dáng và công việc của Thần Mưa

- Thần có hình Rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước làm mưa.

- Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi.

- Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày.

- Công việc nặng nhọc, Thần Mưa làm không xuể.

* Cuộc thi tuyển chọn Thủy loài hóa Rồng và Cá chép vượt Vũ Môn

- Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần Trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành rồng hút nước phun mưa giúp sức thần Mưa.

- Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng.

- Trong một tháng trời, bao nhiêu loài Thủy tộc. đến thi đều bị loại cả.

- Cá rô nhảy qua được một đợt song thì rơi; tôm nhảy được hai đợt ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu. Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước.

  - Cá chép vào thi qua cả ba đợt thành công qua cửa Vũ Môn hóa Rồng cùng Thần Mưa phun nước làm mưa.

c. Kết bài

Tổng kết lại giá trị của truyện Thần Thoại cũng như tác phẩm Thần Mưa muốn truyền đạt.

Mẫu 1

Trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, từ bao đời nay, ông cha ta luôn lưu truyền những câu chuyện thần thoại kỳ ảo huyền bí để có thể giải thích cho sự hình thành quê hương đất tổ. giải thích được cho con cháu đời sau về sự hình thành của trời đất, của nước non hùng vĩ. Trong hệ thống thần thoại đó, ông cha ta đã giải thích về việc sáng lập vũ trụ. Và tác phẩm Thần Trụ Trời là mở đầu, tiếp theo là một loại các thần thoại khác như Thần Mưa, Thần Biển, Thần Mặt Trời, Mặt Trăng lần lượt ra đời. Tiếp chân của những thần thoại khai phá ra vũ trụ kia là các thần thoại về các vị thần sáng tạo ra muôn loài….

Qua tác phẩm Thần Trụ Trời, ta có thể biết được để tách biệt trời đất như ngày nay. Thần trụ trời đã phải đào đất, khiêng đá đắp thành cột để chóng trời, từ đó mới hình thành ra các vị thần khác cùng thần trụ trời cai quản. và một trong các vị thần cùng cai quản và nối tiếp cho khoảng vũ trụ được hình thành đó có sự sống thì phải kể đến vị Thần Mưa - vị thần tạo ra sự sinh thái cân bằng cho trời đất, là tiền đề duy trì sự sống cho muôn loài do các vị thần sáng tạo ra muôn loài tạo lên.

Đầu tác phẩm, tác giả đã giải thích vị Thần Mưa có hình rồng, thường bay lượn xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời để tạo ra mưa. Qua lời giải thích đó, ta có thể biết được vị thần có hình dáng là một con rồng, được Trời giao phó là hút nước dưới trần thế để tạo ra mưa cho loài người cày cấy, sinh hoạt. Cho cây cỏ sinh sôi và phát triển, muôn thú có nước để duy trì hệ sinh thái của mình. Đây là một công việc vô cùng quan trọng, ấy nhưng vị thần này lại có tính hay quên, có vùng đất cả năm không ghé mặt để phân phát nước khiến nhiều vùng bị hạn hán nghiêm trọng. Muôn thú, cỏ cây khó có thể duy trì sự sống. Điều đó được tác giả nói rõ “Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày”. Qua đó ta có thể thấy rõ vị Thần này đãng trí đến nỗi khiến Muôn loài ở các vùng đất hạn hán đó bất mãn đến mức nào, khiến họ phải kiện đến cả trời xanh. Điều này được thể hiện khá rõ tại tác phẩm “cóc kiện Trời”, bởi sự trễ nải này mà khiến cỏ cây héo úa, muôn thú khát khô cả cổ chỉ vì sự văng mặt lâu ngày của Thần Mưa.

  Nhưng tiếp đó, tác phẩm cũng đã giải thích một phần lí do sự trễ nải này của thần Mưa “Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết”. Một phần vì tính hay quên của Thần, một phần vì trời đất bao la rộng lớn quá, công việc nặng nhọc này cũng chỉ có mỗi Thần đảm nhiệm nên nhất thời lo không xuể. Chính vì lo không hết khiến công việc quá tải, muôn loài oán than. Vì để giảm bớt gánh nặng cho Thần Mưa, cũng như xoa dịu được sự nóng giận của muôn loài dưới hạ dưới, nên Trời đã mở cuộc thi chọn loài giúp sức cho công việc của Thần Mưa qua việc mở cuộc thi chọn giống loài thủy tộc có tài năng để giúp Rồng hút nước tạo mưa. Cuộc thi được Nhà Trời chọn đại điểm là ở cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay để có thể lên Thần hóa rồng trợ giúp Nhà Trời và Thần Mưa tạo mưa cho muôn loài.

Mồng ba cá đi ăn thề,

Mồng bốn cá về cá vượt Vũ Môn

Qua hai câu thơ trên, cho thấy Nhà Trời rất coi trọng cuộc thi này, vì trước kia khi mới sáng lập ra trời và đất, công việc tạo mưa là do đích than Trời làm để cho muôn loài, cỏ cây phía dưới tồn tại sinh sống và làm ăn. Sau đó vì đất trời tạo ra bao la quá, công việc khó nhọc không thể đảm nhiệm được nữa nên mới sai rồng lấy nước để làm ra mưa. Nhưng trong chính tác phẩm cũng đã nêu rõ vì số lượng rồng trên trời quá ít không thể đảm nhiệm nổi công việc nên Trời đã ban lệnh Xuống cho Thủy Phủ để kén chọn loài có thể cùng rồng làm công việc điều hòa sự sống cho muôn loài.

Mẫu 2

Qua lời bộc bạch của tác giả qua từng câu chữ trong tác phẩm, ta có thể thấy được yếu tố kỳ ảo của tác phẩm, sự sinh động từng câu chữ khiến cho tác phẩm thật sinh động hiện ra trước mắt để có thể đi sâu vào tâm hồn người đọc.

Tác phẩm thể hiện rõ yếu tố truyền kỳ qua từng câu chữ qua việc vua Thủy Tể loan tin để cho muôn loài dưới Thủy cung ganh đua mà dự thi. Cuộc thi được phân chia làm ba kỳ, mỗi kỳ lại nâng một độ khó khác nhau mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng” có thể thấy tính chất của cuộc thi nghe thì dễ nhưng mà thực hiện thì khó qua việc phải vượt qua cả ba đợt song mới lấy làm đỗ để có thể hóa rồng. Cả một đoạn của tác phẩm đã thể hiện cản tượng tranh tài của bao loài Thủy sinh dưới nước thể hiện hết sức mình nhưng đều bị loại cả vì không thể vượt qua đợt sống. Từ “sống” được đặt ở cuối câu như vậy để thể hiện tính chất của cuộc thi thật khắc nghiệt, để có thể vượt qua cuộc sát hạnh này, với mong muốn được hóa rồng mà có thể nhiều loài đã từ bỏ mạng sống của mình. Có loài cá rô nhảy qua được một đợt nên chỉ được một điểm, điều này khiến cá rô nhà ta mất đi cơ hội hóa rồng đành phải về yên vị ở đồng như trước. Tiếp đến, có con tôm nhảy qua được hai đợt hóa được một nửa rồng rồi, điều đó được tác giả nêu rõ “Có con tôm nhẩy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu.” Qua câu từ như vậy, ta cũng có thể hiểu được lí do tại sao tôm lại bơi giật lùi, thân cong và chất thải lại bị lộn lên đầu như vậy. Qua lời kể trên, ta đã học hiểu được nhiều điều qua lời kể đầy xúc tích, dễ hiểu đến như vậy qua việc diễn tả tôm, cá rô, cá chép vượt qua như thế nào. Điều đó ngầm ý muốn cho khung cảnh cuộc thi trở lên sinh động trước mắt người đọc.

  Sau nhiều đợt tuyển chọn, tưởng chừng chẳng có con vật nào có thể qua được. Đến lượt cá chép vào thi thì thì vô cùng thuận lợi. Tác giả đã dung từ “ào ào” đề diễn tả sự thiên tàng địa lợi của cá chép, cá chép nhờ đó mà vượt cả ba phần sát hạch và vào được cửa Vũ Môn. Qua lời miêu tả của tác phẩm, cá chép đỗ, đuôi, râu, sừng tự nhiên đầy đủ như rồng. Một hình dáng oai nghi, cùng với Thần mưa đảm nhiệm công việc ban phát mưa xuống trần thế.

Việt Nam ta hình thành qua bao nhiêu đời nay luôn gắn liền với một kho tàng thần thoại khổng lồ gắn liền với sự hình thành của Đất Việt - sự trường tồn, phồn vinh và lưu truyền muôn đời để thế hệ mai sau có thể biết được sự thiêng liêng của Đất Nước, trong các tác phẩm đó thì Thần Mưa cũng là một trong những thần thoại to lớn luôn trường tồn với thời gian. Nó vẫn luôn tồn tại những giá trị tinh thần mà người xưa muốn gửi gắm lại cho đời sau những giá trị nhân văn của dân tộc, nói lên ước mơ khát vọng vượt qua khó khăn để đạt được danh vọng qua nhân vật Cá chép. Qua đó, mong thế hệ mai sau tiếp nối, giữ gìn và thực hiện.

Mẫu 3

Có thể thấy trong nền văn hóa của dân tộc ta, ông cha luôn truyền tai nhau những câu chuyện thần thoại mang nhiều yếu tố kì ảo huyền bí để giải thích cho con cháu sau này về những hiện tượng đời sống quanh ta. Trong những câu chuyện thần thoại được lưu truyền đó có các câu chuyện kể về sự hình thành lên vũ trụ. Đó là các tác phẩm Thần Trụ Trời, Thần Biển, Thần Mưa, Thần Mặt Trời, Mặt Trăng lần lượt ra đời. Qua tác phẩm thần Thần Trụ Trời có nhắc đến Thần Mưa.

Thần Mưa có hình rồng, ông tạo ra mưa bằng cách bay lượn xuống hạ giới uống nước biển, nước sông rồi bay quay lại bầu trời để tạo mưa cho nhân loại. Thần Mưa tạo nên sự cân bằng sinh thái cho hệ thống sinh thái trên Trái Đất., đây cũng là vị thần duy trì sự sống cho toàn nhân loại được các vị thần khác tạo lên. Thần Mưa tạo mưa giúp cho các hoạt động sinh hoạt, nuôi trồng của người dân được thuận lợi hơn. Thần Mưa là vị thần đảm nhiệm công việc vô cùng quan trọng nhưng lại có tính hay quên. Những lúc như vậy, vùng đất không được ông ghé qua sẽ bị hạn hán vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của muôn thú hay cây cỏ ở đó. 

Tác phẩm còn giải thích lí do tại sao lại có sự việc như trên là do trần đất quá bao la, rộng lớn mà một một thần Mưa không thể đảm nhiệm được hết. Nhưng lòng dân không hiểu, luôn trách móc, oán than nên Trời đã phải mở một cuộc thi để tìm ra một loài thủy tộc có khả năng hút nước và tạo mưa để giúp Thần Mưa trong công việc. Cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc tỉnh Hà Tĩnh chính là địa điểm được chọn làm điểm thi. Nhà Trời rất coi trọng cuộc thi này, vì đó sẽ giúp cuộc sống của muôn loài, sinh vật được sinh sống trên Trái Đất được thuận lợi và bớt khó khăn hơn. Sau nhiều đợt tuyển chọn, cá chép là nhân vật duy nhất có thể thuận lợi vượt qua được cửa Vũ Môn. Tác giả miêu tả ngoại hình của cá chép có đầy đủ yếu tố như rồng - hình dáng toát lên vẻ oai nghi, oai phong. Vì vậy, cá chép đã được đảm nhiệm vai trò ban phát mưa xuống trần thế cùng với Thần Mưa. Các yếu tố kì ảo mà tác giả viết lên khiến cho tác phẩm trở nên sinh động, để lại dấu ấn trong lòng người đọc. Cũng là để lí giải hiện tượng gây mưa trên toàn nhân gian này.

Mẫu 4

Kho tàng truyện thần thoại Việt Nam được gắn liền với quá trình hình thành đất nước, với sự phát triển, phồn vinh và sẽ được lưu truyền mãi đến cho các thế hệ sau này. Nó mang giá trị tinh thần lớn, đó cũng có thể là món quà mà người xưa muốn gửi gắm đến cho thế hệ sau này. Đó là những giá trị nhân văn của cả dân tộc, nói lên được sự khát vọng, ước mơ và kiên cường, mạnh mẽ của cá chép mà vượt qua được tất cả khó khăn trước mắt. Đấy chính là tinh thần, sức mạnh của người con Đất Việt và mong các thế hệ mai sau sẽ luôn tiếp nối những truyền thống tốt đẹp đó.

Mỗi câu chuyện thần thoại đều mang đến cho chúng ta hiểu biết về một vị thần nào đó. Câu chuyện " Thần mưa" sẽ làm cho chúng ta hiểu rõ về nó và lý giải được về hiện tượng mưa.

Đặc điểm nổi bật của truyện thần thoại là luôn luôn nhân vật chính là một vị thần. Thần mưa có ngoại hình mang hình rồng. Công việc của thần Mưa là bay xuống hạ giới hút hết nước biển, nước sống rồi bay lên trời phun xuống để tưới cho cây cối, muôn loài Nhưng một đặc điểm của thần mưa đó là hay quên. Việc này cũng đã phần nào lý giải được hiện tượng lũ lụt và hạn hán. Có nơi thần mưa quên mà cả vùng đó cả năm không có mưa, đất khi khô cằn, hạn hán. Có vùng lại phun quá nhiều khiến lũ lụt. 

Chúng ta đã lý giải được nhiều hiện tượng của thiên nhiên như lũ lụt và hạn hán ở dưới hạ giới. Đó cũng là những kiến thức hữu ích cho cuộc sống của mỗi chúng ta.

Mẫu 5

Mỗi câu chuyện thần thoại đều mang đến cho chúng ta hiểu biết về một vị thần nào đó. Câu chuyện " Thần mưa" sẽ làm cho chúng ta hiểu rõ về nó và lý giải được về hiện tượng mưa.

Đặc điểm nổi bật của truyện thần thoại là luôn luôn nhân vật chính là một vị thần. Thần mưa có ngoại hình mang hình rồng. Công việc của thần Mưa là bay xuống hạ giới hút hết nước biển, nước sống rồi bay lên trời phun xuống để tưới cho cây cối, muôn loài Nhưng một đặc điểm của thần mưa đó là hay quên. Việc này cũng đã phần nào lý giải được hiện tượng lũ lụt và hạn hán. Có nơi thần mưa quên mà cả vùng đó cả năm không có mưa, đất khi khô cằn, hạn hán. Có vùng lại phun quá nhiều khiến lũ lụt. 

Chúng ta đã lý giải được nhiều hiện tượng của thiên nhiên như lũ lụt và hạn hán ở dưới hạ giới. Đó cũng là những kiến thức hữu ích cho cuộc sống của mỗi chúng ta.

 

19. Tự luận
1 điểm

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện Con cáo và chùm nho.

Xem đáp án

Nhắc đến những câu chuyện ngụ ngôn nước ngoài, ta không thể bỏ qua truyện Con cáo và chùm nho của nhà văn nổi tiếng Hy Lạp Aesop (Aisōpos, khoảng năm 620-564 trước CN). Đây được xem là một trong những tác phẩm truyện ngụ ngôn nước ngoài hay và đặc sắc về chủ đề cùng những hình thức nghệ thuật xuất sắc.

     Truyện kể về con cáo vào một hôm xuống triền núi và thấy phía trước là một vườn nho căng tròn mọng nước khiến anh ta thèm thuồng tới mức nước bọt cứ trào ra. Vì thế, cáo đã tìm mọi cách để có thể chén được no nê những chùm nho đó. Nhưng thật không may mắn, từ cây cao đến cây thấp, cáo vẫn không thể nhảy đến chùm nho. Thậm chí, chùm thấp nhất khiến Cáo tự đắc rằng không gì có thể làm khó được nó cũng thất bại. Sau một hồi cố gắng, Cáo đành thở dài và cho rằng những chùm nho vỏ xanh kia chắc là chưa chín, vừa chua vừa chát, không ăn được. Cốt truyện tuy rất đơn giản, ngắn gọn nhưng chất chứa trong đó những bài học về cuộc sống vô cùng sâu sắc và thấm thía.


     Đọc Con cáo và chùm nho của nhà văn Hy Lạp Aesop, ta có thể dễ dàng nhìn ra rằng giá trị của truyện trước hết thể hiện qua chủ đề và bài học cuộc sống mà nó gửi gắm. Hình ảnh con cáo đã được tác giả hình tượng hóa để đề cập đến vấn đề về sự biện hộ và tự cao của cá nhân. Điều mà câu chuyện muốn cảnh tỉnh là đừng quá đề cao bản thân, mình phải tự biết khả năng của mình đang nằm ở vị trí hay con số nào; khi sai lầm hoặc thất bại, hãy tự biết nhận lỗi, rút ra bài học cho bản thân và đừng bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Bản chất là một truyện ngụ ngôn, Con cáo và chùm nho đã mượn câu chuyện về con vật để ám chỉ về lối sống của con người. Chủ đề của truyện mang tính chất khái quát bởi không chỉ đúng trong đất nước hay con người Hy Lạp – nơi nó được sinh ra, mà đó là lời nhắn nhủ, cảnh tỉnh dành cho tất cả mọi người. Chúng ta đừng như con cáo kia, đừng cho mình là nhất bởi ngoài kia còn rất nhiều người giỏi hơn và khi thất bại cũng đừng đổ lỗi cho bất kì ai, bất kì điều gì; hãy phát huy điểm mạnh bạn đang có, khắc phục điểm yếu, từ thất bại rút ra những bài học kinh nghiệm để vươn tới thành công.


     Góp phần tạo nên thành công cho câu chuyện, ngoài giá trị của chủ đề và bài học sâu sắc trong Con cáo và chùm nho thì không thể quên sự đóng góp của các hình thức nghệ thuật. Chính những hình thức nghệ thuật đặc sắc ấy đã giúp cho chủ đề và bài học trong truyện trở nên sâu sắc, thấm thía hơn và hấp dẫn độc giả hơn.

     Yếu tố nghệ thuật đầu tiên cần kể đến đó là nghệ thuật tạo tình huống. Thông thường, khi muốn thể hiện lối ứng xử, tính cách của nhân vật, tác giả truyện ngụ ngôn sẽ đặt nhân vật của mình vào những tình huống nhất định. Con cáo và chùm nho cũng không ngoại lệ, Aesop đã xây dựng tình huống về cuộc gặp gỡ giữa con cáo với những chùm nho căng mọng nước trong vườn và cách xử lí của nó để có được một bữa ăn no nê. Tình huống tuy khá đơn giản nhưng qua đó người đọc thấy được cách ứng xử của con cáo khi gặp khó khăn và chủ đề mà người kể chuyện muốn nói đến ở đầu truyện càng được làm sáng rõ.


     Xây dựng nhân vật giàu tính biểu trưng là một thủ pháp nghệ thuật khá quan trọng trong thể loại truyện ngụ ngôn. Cáo là biểu trưng cho những người luôn cho mình là nhất, mình luôn đúng trong mọi chuyện, nếu sai thì cũng chỉ do hoàn cảnh tác động, không dám chấp nhận sự thật về sự thất bại của bản thân. Chùm nho tượng trưng cho những yếu tố ngoại cảnh. Trong truyện, con cáo không với tới chùm nho nên đã tự nhủ nho còn xanh, chua và chát để biện hộ cho việc không hái được nho của mình, tức là do tác động của ngoại cảnh chứ không phải mình vô dụng.

     Nét đặc sắc cuối cùng em muốn nói đến trong bài viết là cách khắc họa tính cách nhân vật thông qua lời thoại. Trong Con cáo và chùm nho, tác giả đã để nhân vật tự độc thoại với chính mình và tính cách sẽ được bộc lộ qua từng câu chữ, lời nói đó. Khi thấy những chùm nho khác thấp hơn, Cáo đã tự đắc không có gì làm khó được mình nhưng kết quả vẫn là sự thất bại. Sau nhiều lần cố gắng, Cáo đã buông xuôi và nói: “Làm sao mình lại cứ phải ăn mấy chùm nho như này nhỉ? Vỏ thì xanh thế, chắc chắn là chưa chín rồi. Không biết chừng còn vừa chua vừa chát, không nuốt được”. Từ đó ta thấy được Cáo là  một người luôn tự đắc và chỉ biết đổ lỗi cho hoàn cảnh. Chính những lời độc thoại đó càng làm nổi bật nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu của nhân vật.


     Những phân tích ở trên đây cho thấy Con cáo và chùm nho là một truyện ngụ ngôn tiêu biểu trong kho tàng các sáng tác truyện của Aesop. Về chủ đề, truyện chính là lời cảnh tỉnh, phê phán đến những người có lối sống thắng lợi tinh thần. Về hình thức nghệ thuật, tác giả đã kết hợp hài hòa các yếu tố về tình huống truyện, ngôn ngữ, lời thoại để nhân vật bộc lộ rõ nhất tính cách của mình để qua đó các bài học nhân sinh được lột tả.

     Đọc câu chuyện này, dường như em cảm thấy có đôi lúc em cũng giống như con cáo kia và bây giờ mình cần phải thay đổi để xóa bỏ tính cách không tốt đó.