Bài tập Tự đánh giá cuối học kì I có đáp án
18 câu hỏi
a) Đọc bài thơ sau, ghi vào vở chữ cái đầu phương án trả lời đúng của mỗi câu hỏi (từ 1 đến 5) và làm bài tập 6.

Bài thơ Thương vợ là lời của ai, nói về ai?
A. Vợ nhà thơ Trần Tế Xương nói về chồng
B. Vợ nhà thơ Trần Tế Xương tự nói về mình
C. Người chồng nói về người vợ của mình
D. Nhà thơ Trần Tế Xương tự nói về mình
Đáp án: C
Bài thơ nêu trên có đặc điểm như thế nào?
A. 8 câu, không có hình ảnh
B. 8 câu, mỗi câu 7 chữ
C. 8 câu, không có nhịp
D. 8 câu, không có vần
Đáp án: B
Câu thơ nào sau đây sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ?
A. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
B. Có chồng hờ hững cũng như không
C. Một duyên hai nợ âu đành phận
D. Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Đáp án: D
Câu thơ nào sau đây sử dụng thành ngữ?
A. Quanh năm buôn bán ở mom sông
B. Nuôi đủ năm con với một chồng
C. Năm nắng mười mưa dám quản công
D. Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Đáp án: C
Điểm giống nhau giữa bài thơ trên với các bài Tự tình (Bài 2) (Hồ Xuân Hương): Cảm xúc mùa thu (Đỗ Phủ); Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) là gì?
A. Viết về tình cảm với quê hương
B. Viết về đề tài người phụ nữ
C. Viết về thiên nhiên, mùa thu
D. Làm theo thể thơ Đường luật
Đáp án: D
Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên trong 4 – 5 dòng.
Thương vợ là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo. Bài thơ Thương vợ đã xây dựng thành công hình ảnh bà Tú - một người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh, đã gánh vác gia đình với những gánh nặng cơm áo gạo tiền đè lên đôi vai gầy.
Đọc đoạn trích sau và làm các bài tập ở dưới:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ quống mười tháng Ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác, Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi tưởng niệm vô cội nguồn dân tộc luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiệm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.
Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.
Từ xa xưa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị trí đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Bảng ngọc phải viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601, sao chép đóng dấu kiểm để lại Đến Hùng, nói rằng: “… Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đúc Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất, sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi...”.
(Theo Uyên Linh, baodautu.vn)
Câu hỏi:
Đoạn trích trên viết về đề tài gì? Tóm tắt trong khoảng 3 – 4 dòng.
Bài tóm tắt tham khảo
Đoạn trích trên viết về đề tài lễ hội Đền Hùng (hay còn gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương). Nơi tưởng niệm về cội nguồn của dân tộc luôn là biểu tượng tôn kính, linh ghiệm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam. Diễn ra vào mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm tại Đền Hùng.
Xác định phương thức biểu đạt chính và phương thức biểu đạt kết hợp của đoạn trích trên.
- Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, kết hợp với phương thức biểu đạt tự sự, nghị luận.
Đoạn trích trên được triển khai theo kiểu diễn dịch, quy nạp hay tống - phần - hợp?
- Đoạn trích trên được triển khai theo kiểu tổng - phân - hợp.
Phân tích ý nghĩa của một thông tin mà em tâm đắc nhất khi đọc đoạn trích (trình bày trong khoảng 6-8 dòng).
Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiệm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam
Từ xưa đến nay người dân Việt Nam luôn giữ gìn truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, để biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước. Chính vì vậy, cứ đến ngày mồng mười tháng ba âm lịch, mọi người trên khắp mọi miền đất nước đổ về đền Hùng, thắp nén nhang thơm để tỏ lòng thành kính đối với cội nguồn của mình. Đồng thời còn là dịp để quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm thức, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước. Là ngày dân tộc ta cùng nguyện một lòng khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phai cùng nhau giữ lấy nước”.
Phân tích một nhân vật mà em yêu thích trong các tác phẩm đã học ở sách Ngữ văn 10, tập một. (10 mẫu)
Mẫu 1
Nhân vật thần thoại mà em yêu thích đó là nhân vật Xi-ta trong truyện Ra-ma buộc tội trích thần thoại Ấn Độ nổi tiếng Ra-ma-ya-na. Nàng là biểu tượng cao quý nhất của người Ấn Độ xưa vừa xinh đẹp, thủy chung và nhân hậu. Như bao người phụ nữ khác, nàng yêu chồng của mình và dâng hiến cả cuộc đời mình cho chàng. Nhưng sự đời nào ai biết trước, nàng bị một bắt cóc và trở về bị chính chồng mình buộc tội không còn trinh tiết. Người phụ nữ ấy đã đấu tranh bằng sức lực của mình để được quay về, vậy mà kết quả đổi lại là sự đau đớn. Chồng nàng không hề tin tưởng nàng. Nàng đã quyết định lên giàn thiêu để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Nàng đã sống cuộc đời không có gì hổ thẹn và ngẩng cao đầu cho đến giây phút cuối cùng.
Mẫu 2
Trong vô số những nhân vật thần thoại Việt Nam, em yêu thích nhất là Sơn Tinh trong “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Nếu như Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh thiên nhiên hung bạo, dữ dội thì Sơn Tinh lại dũng mãnh như núi, đại diện sức mạnh của nhân dân, cộng đồng. Sơn Tinh lại là chúa vùng non cao có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Với việc xây dựng nhân vật Sơn Tinh nhân dân ta đã thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Để xây dựng nhân vật Sơn Tinh các tác giả đã vận dụng trí tưởng tượng tài hoa tạo nên xuất thân thần kì, những chiến công vĩ đại của nhân vật (thần núi Tản Viên, có nhiều phép lạ: bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi,…). Cùng với đó là việc xây dựng cốt truyện kịch tính, sự kiện sinh động đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
Mẫu 3
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, em ấn tượng nhất với nhân vật thần Trụ Trời. Thần Trụ Trời có thân hình vô cùng to lớn. Vào buổi sơ khai, khi trời đất chỉ là một đám hỗn độn, chưa có muôn vật và loài người, thần đã dùng đầu đội trời rồi lấy tay đào đất đắp thành cột to, cao chống trời. Khi trời đã cao vừa ý và khô cứng, thần lại phá cột, ném đất đá đi khắp nơi tạo thành nhiều bề mặt khác nhau như sông, hồ, núi, cao nguyên, đồi,.... Câu chuyện về thần Trụ Trời đã cho em hiểu thêm về cách người xưa lý giải về sự phân chia trời đất và quá trình hình thành các dạng bề mặt địa hình khác nhau.
Mẫu 4
Trong truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng", người anh hùng Hê-ra-clét mang hình dáng của con người nhưng sức mạnh tựa như đấng thần linh. Chàng có thể chiến đấu với cha con thần Chiến tranh, giết chết tên khổng lồ độc ác Ăng-tê, thậm chí giơ lưng chống đỡ bầu trời thay cho thần Át-lát để thần có thể đi lấy quả táo vàng. Sức mạnh của Hê-ra-clét là sức mạnh vô song, phi thường, chỉ có đấng thần linh mới có thể thực hiện.
Mẫu 5
Artemis là con của vị thần tối cao Zeus và nữ thần Leto thuộc dòng dõi Titan, là người chị sinh đôi với thần Apollo. Nữ thần Artemis có biểu tượng là vầng trăng khuyết và cây nguyệt quế, xuất hiện dưới hình ảnh một trinh nữ xinh đẹp mặc áo đi săn, mang cung bạc và đeo ống tên vàng. Nàng có một tấm thân thuần khiết, trong trắng vì nàng không bao giờ yêu... Sự lạnh lùng của nàng như là một mối nguy hiểm. Nàng bắn cung rất giỏi và là vị thần săn bắn, cứ mỗi đêm Artemis lại vào rừng săn bắn, luôn có một bầy các tiên nữ đi theo nàng và họ chẳng bao giờ trở về tay không.
Mẫu 6
Trong vô số những nhân vật thần thoại Việt Nam, em yêu thích nhất là Sơn Tinh trong “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Nếu như Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh thiên nhiên hung bạo, dữ dội thì Sơn Tinh lại dũng mãnh như núi, đại diện sức mạnh của nhân dân, cộng đồng. Sơn Tinh lại là chúa vùng non cao có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Với việc xây dựng nhân vật Sơn Tinh nhân dân ta đã thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Để xây dựng nhân vật Sơn Tinh các tác giả đã vận dụng trí tưởng tượng tài hoa tạo nên xuất thân thần kì, những chiến công vĩ đại của nhân vật (thần núi Tản Viên, có nhiều phép lạ: bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi,…). Cùng với đó là việc xây dựng cốt truyện kịch tính, sự kiện sinh động đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
Mẫu 7
Trong vô số những nhân vật thần thoại Việt Nam, em yêu thích nhất là Sơn Tinh trong “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Nếu như Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh thiên nhiên hung bạo, dữ dội thì Sơn Tinh lại dũng mãnh như núi, đại diện sức mạnh của nhân dân, cộng đồng. Sơn Tinh lại là chúa vùng non cao có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Với việc xây dựng nhân vật Sơn Tinh nhân dân ta đã thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Để xây dựng nhân vật Sơn Tinh các tác giả đã vận dụng trí tưởng tượng tài hoa tạo nên xuất thân thần kì, những chiến công vĩ đại của nhân vật (thần núi Tản Viên, có nhiều phép lạ: bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi,…). Cùng với đó là việc xây dựng cốt truyện kịch tính, sự kiện sinh động đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
Mẫu 8
Nữ Oa có hình dáng đầu người và thân con rắn, một ngày nọ, bà tưởng nhớ Bàn Cổ khai thiên tích địa, tạo ra những ngọn núi và hồ nước, động vật, thay đổi sự tỉnh lặng của thế giới. Tuy nhiên, Nữ Oa luôn luôn cảm thấy rằng thế giới này vẫn còn thiếu một cái gì đó, nhưng không thể nhớ những gì. Trong khi Nữ Oa suy niệm, nhìn xuống dưới nước Hoàng Hà, lúc đó, nước trong xanh, mặt nước tựa như gương, in bóng hình của bà. Khi đó đã ngộ ra thế giới thiếu một "người" như bà. Nữ Oa đã tham chiếu tướng mạo bản thân sử dụng bùn của Hoàng Hà tạo ra một thân hình con người sau đó sử dụng pháp thuật để cho bùn đất sét đó có sự sống thành con người thật thụ.
Mẫu 9
Bên cạnh sự bản lĩnh và sức mạnh phi thường tựa như đấng thần linh, Hê-ra-clét trong truyện"Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" còn chứa đựng trí tuệ sáng ngời. Chàng đã sử dụng trí thông minh của mình bằng cách lừa Ăng-tê rồi gồng mình nhấc bổng tên khổng lồ cho chân lìa khỏi mặt đất khiến Ăng-tê bỏ mạng. Tiếp đó là cuộc đấu trí với thần Át-lát để tiếp tục hành trình trở về Mi-xen dâng những quả táo cho Ơ-rit-xtê. Trí tuệ của Hê-ra-clét cũng chính là trí tuệ của người cổ đại Hy Lạp trong việc chinh phục thế giới tự nhiên.
Mẫu 10
Đối với con nghiện ''Thần thoại Hy Lạp'' như tôi, thì mĩ nữ đẹp nhất là Athena chứ không phải Aphrodite. Athena không những thông minh còn rất mạnh. Nàng là con gái của Zeus , kẻ cai quản thế nhân và là một trong những vị thần được tôn kính nhất Hy Lạp. Với làn tóc vàng thướt tha óng ả là bộ giáp kiên định khiến nàng trông uy lực biết bao. Nàng như đóa hoa hồng vàng thắm trên đỉnh Olympus vậy , thật hiếm có và khó có thể chạm vào . Hơn thế nữa nàng còn đánh bại được Poseidon vĩ đại , người cai quản biển cả có thể rung chuyển được cả trái đất này. Nàng được Zueus sinh ra từ trán vì mang trong mình dòng máu ấy nên nàng có đôi chút ngông cuồng nhưng rất sáng suốt trong suy nghĩ. Bởi vì nàng chính là người nắm giữ trí tuệ và nắm giữa tâm hồn tôi .
Mẫu 11
Nữ Oa mang vẻ đẹp sức mạnh và tí tuệ. Bà là người tạo ra loài người bằng cách lấy đất bùn màu vàng bên bờ đầm, trộn nhuyễn với nước, mô phỏng theo hình dáng của mình in bóng ra mặt nước nặn thành một đồ vật xinh xắn, đáng yêu, có sức sống, cất tiếng nói trong trẻo, nhảy múa, vui đùa. Không những thế bà dành hết tình yêu thương con người và tâm trí để vá trời giúp con ngườ tránh được tai họa và diệt trừ con ồng đen hung ác, dạy dân cách tránh được nạn lũ lụt.
Viết bài thuyết phục người bạn từ bỏ một thói quen xấu. (10 mẫu)
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 1
Bạn đã bao giờ đi học muộn chưa? Chưa ư? Hay là có mà không nhớ nổi? Tôi cá là trong suốt quãng đời học sinh cũng như sinh viên của mình bạn đã ít nhất một vài lần đi học muộn. Đi học muộn dường như là một đặc sản chỉ có ở hội sinh viên Việt Nam. Đây là một thói quen cực kỳ xấu và có thể gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến cá nhân mỗi người.
Quỹ thời gian của ai cũng cực kỳ quý giá và không phải lúc nào chúng ta cũng biết quản lý nó một cách hiệu quả, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Phần lớn thời gian trong ngày của những người trẻ là học tập, nghiên cứu, ăn, ngủ và có rất ít trong số đó phải làm việc. Thế nhưng nhiều người không hề biết trân trọng quỹ thời gian đó, sử dụng nó một cách vô cùng lãng phí. Điển hình trong số đó là tình trạng đi học muộn. Đáng nghẽ thời gian đó là để ngồi trên lớp, nghe thầy cô giáo giảng bài cùng các bạn thì chúng ta lại đang bận ngủ, bận ăn, bận chơi. Thật sự là chúng ta đang quá lãng phí thời gian của mình.
Đi học muộn tôi xin khẳng định đó là một thói quen xấu, trước hết nó khiến hình ảnh của bạn trở nên xấu xí trong mắt bạn bè. Chẳng ai yêu thương và tôn trọng với người thường xuyên đi học muộn, danh dự cũng như uy tín của bạn sẽ bị suy giảm trong mắt người khác. Việc đi học muộn trước hết gây ảnh hưởng đến kết quả học tập của chính bạn, vì bạn không tiếp thu được bài dạy của thầy cô do không đến lớp kịp, chẳng ai có thể giảng lại bài cho một mình bạn được. Sau đó nó cũng gián tiếp ảnh hưởng đến những người xung quanh, thầy cô đang giảng bài bị cắt đứt mạch suy nghĩ, các bạn trong lớp cũng bị ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu bài học… khiến người khác vô cùng khó chịu với bạn.
Nguyên nhân do đâu khiến bạn đi học muộn, nếu vì một số lý do bất khả kháng như xe hỏng trên đường, xe buýt bị trễ giờ, trục trặc ở tuyến đường bạn đến trường thì sự cố đó có thể chấp nhận được. Nhưng nếu vì một số lý do khác như do bạn ngủ quên, do bạn lười, cố tình đi học muộn để không bị kiểm tra bài cũ, hoặc bạn nghĩ rằng đi học muộn là sở thích của mình thì điều đó cực kỳ đáng lên án.
Nói chung dù là lý do gì đi chăng nữa thì việc đi học muộn cũng đã vi phạm đến nội quy trường lớp. Bây giờ bạn có thói quen đi học muộn và sau này bạn cũng có thói quen đi làm, đi chơi hoặc đi bất kỳ đâu cũng muộn, gây ảnh hưởng đến tập thể. Thói quen xấu này bạn cần phải từ bỏ ngay bây giờ. Bằng cách nào?
Thứ nhất hãy luôn chủ động quản lý quỹ thời gian cho mình, trân trọng thời gian vì nó là vàng bạc, một khi đã đánh mất thời gian thì sẽ không bao giờ có thể lấy lại được. Thứ hai hãy luôn ngủ sớm, đặt báo thức đúng giờ để chủ động về thời gian, không đi học khi quá kíp giờ. Thứ ba kiểm tra xe cộ thường xuyên, ngay từ hôm trước để khắc phục những sự cố nếu có. Và quan trọng hơn cả nếu bạn là người luôn có ý thức, chủ động, tích cực thì dù gặp hoàn cảnh nào bạn cũng không bao giờ đi học muộn.
Thói quen đi học muộn rất xấu và gây ảnh hưởng không nhỏ đến bản thân bạn và những người xung quanh. Vậy thì bây giờ, ngay lúc này bạn hãy khắc phục và loại bỏ nó ngay nhé!
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 2
Lần gần nhất mà bạn phải ngồi chờ đợi một ai đó là bao lâu rồi? Có lẽ thói quen đi trễ đã không còn xa lạ gì với mọi người nữa, nó gần như trở thành thói quen của rất nhiều người trong xã hội, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi,…và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh có thói quen đi học muộn với đủ mọi lí do hết sức vô lí được đưa ra.
Quản lý thời gian là một giải pháp cần thiết để khắc phục được tình trạng trễ giờ, quên thời gian,… và cần phải bố trí đủ thời gian vào buổi sáng để sẵn sàng đi học, trì hoãn các công việc không cần thiết cũng như dự đoán được các vấn đề về giao thông. Rất nhiều người không có ý thức sắp xếp, phân bổ thời gian một cách hợp lý, làm việc gì cũng chậm chạp và họ coi việc đi học muộn trở thành một việc hết sức bình thường. Việc đi đúng giờ không chỉ thể hiện bạn là một người văn minh, hiện đại mà còn là một người biết tôn trọng người khác. Chẳng hạn việc bạn thường xuyên đi trễ sẽ làm mất đi uy tín của bạn, lời hứa không còn có trọng lượng và bị đánh giá là người không đáng tin cậy. Nếu bạn nghĩ rằng đi học muộn là việc của bạn và hậu quả ra sao mình bạn chịu thì nhầm rồi nhé. Khi bạn đến lớp muộn, nó không chỉ làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, mà còn ảnh hưởng đến sự tập trung của học sinh khác, cản trở việc học của tập thể và thường ăn mòn tinh thần lớp học. Thầy cô cũng vì thế mà cảm thấy bực mình và không muốn dạy một lớp học mà có nhiều bạn vô ý thức, vô kỉ luật như vậy.
Việc mọi người đi trễ có thể do một sự cố ngẫu nhiên như: ngủ quên, tắc đường, nhỡ xe, thời tiết,…. nhưng cũng có thể đó đã trở thành một thói quen ngấm vào máu. Có rất nhiều nguyên nhân khiến các bạn đến lớp muộn, có thể là nguyên nhân chủ quan với lí do làm bài tập ngủ muộn, sáng dậy muộn,… hay nguyên nhân khách quan như việc tắc đường, xe hỏng,…. Nhưng dù có là lý do gì đi nữa thì việc đi trễ vẫn là một thói quen không tốt để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc và chúng ta cần từ bỏ nó ngay từ bây giờ. Tác hại của việc đi trễ là vô cùng lớn. Nếu mỗi người trong xã hội đều không coi trọng việc đúng giờ thì xã hội sẽ không thể nào tiến bộ được. Để tránh tình trạng đi học muộn, các bạn hãy tự chọn cho mình một biện pháp khắc phục phù hợp với bản thân mình, giảm thiểu tối đa thời gian bị mất bởi những lí do không cần thiết.
Đi trễ không chỉ đơn thuần là một thói quen xấu mà còn là căn bệnh bám rễ vào tư tưởng mỗi người và có thể gây nên những hậu quả khó lường nếu không được khắc phục ngay từ bây giờ. Để khắc phục thói quen đi trễ của bản thân đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình. Thứ nhất, bạn phải biết cách lập kế hoạch phân bổ thời gian trong ngày một cách hợp lí. Nếu bạn là người chậm chạp, lề mề trong việc chuẩn bị trước khi ra khỏi nhà thì hãy nhớ cài đồng hồ hẹn trước một chút thời gian để không bị lỡ hẹn và đi học đúng giờ. Thứ hai, nếu bạn là người đãng trí hay quên thì hãy tự lập cho mình một thời gian biểu khoa học và nhớ thường xuyên theo dõi nó để chắc chắn rằng mình không bỏ quên hay đi trễ một cuộc hẹn hay một buổi học nào cả. Và bạn cũng nên dự trù thời gian để có thể hoàn thành công việc và những việc có khả năng phát sinh thêm, tránh để quỹ thời gian của bạn bị quá tải, trôi đi một cách lãng phí.
Cha ông ta có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” dù biết rằng việc thay đổi thói quen từ thường xuyên đi trễ thành một người luôn đúng giờ là một việc làm rất khó nhưng không phải là không làm được. Vì vậy bạn và tôi, chúng ta đừng để đi muộn trở thành thói quen không thể sửa mà hãy cùng nhau trở thành người có thói quen làm việc khoa học và hiệu quả hơn. Hãy biết quý trọng thời gian!
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 3
Đi học muộn đã trở thành thói quen thường gặp của các bạn học sinh, sinh viên trong thời điểm hiện tại. Thói quen này hình thành trong thời gian dài và để lại nhiều hậu quả đối với các bạn trẻ.
Có vô vàn lí do để các bạn biến mình thành kẻ đi học muộn thường xuyên. Một trong những lí do phổ biến nhất chính là thói quen và giờ giấc sinh hoạt không điều độ. Tôi biết có rất nhiều bạn thức khuya học bài nhưng một số khác lại dành thời gian để chơi game, lướt mạng xã hội thâu đêm suốt sáng. Điều này vô tình khiến các bạn không thể dậy đúng giờ để chuẩn bị quần áo, sách vở. Ngoài ra, sự chậm chạp, lề mề trong tác phong là nguyên nhân khiến chúng ta muộn giờ vào lớp. Có rất nhiều bạn, trong đó có tôi đã từng có suy nghĩ “hãy còn sớm” nên cứ ung dung, bình thản, chỉ đến khi sát giờ vào học mới vội vã đến trường.
Dù bất cứ lí do nào thì thói quen đi học muộn cũng là một thói quen xấu. Việc thường xuyên đi học muộn sẽ khiến bạn bỏ lỡ kiến thức mà thầy cô giáo giảng dạy, làm ảnh hưởng đến quá trình học của những bạn xung quanh. Thậm chí, trễ giờ còn khiến bạn đứng trước nguy cơ bị ghi vào sổ đầu bài, đình chỉ học nếu sự việc thường xuyên tái diễn. Mỗi lần đi học muộn, bạn đều tìm cho mình một lí do. Lâu dần, bạn sẽ trở thành kẻ nói dối, trở thành một người không đáng tin cậy trong mắt mọi người. Ngoài ra, tình trạng đi học muộn lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ khiến bạn có thói quen đến muộn trong phần lớn các trường hợp khác. Từ đó dẫn đến việc các bạn trực tiếp đánh mất đi cơ hội quan trọng của cuộc đời. Có rất nhiều bạn do đi muộn nên đã không thể tham dự kì thi Trung học phổ thông Quốc gia. Đó là một điều vô cùng đáng tiếc.
Có thể thấy, thói quen đi học muộn giống như vật cản ngáng trở bạn đi đến thành công. Chính vì vậy, các bạn cần từ bỏ thói quen đi học muộn ngay từ ngày hôm nay. Việc từ bỏ thói quen đi học muộn sẽ giúp bạn rèn luyện kĩ năng kiểm soát thời gian hiệu quả, hình thành cho bạn những thói quen tốt. Đi học đúng giờ giúp bạn có thêm thời gian để chuẩn bị bài vở chỉn chu trước giờ lên lớp, tạo được thiện cảm đối với thầy cô, bạn bè. Đồng thời, việc đi học đúng giờ sẽ giúp bạn bắt nhịp với bài học một cách dễ dàng, không bị lỡ dở kiến thức. Khi bạn từ bỏ được thói quen đi học muộn, bạn sẽ có phong thái tự tin, chủ động trong tất cả các tình huống.
Tôi biết để từ bỏ một thói quen đã in sâu vào tiềm thức không phải là điều dễ dàng. Chắc chắn mỗi chúng ta sẽ cảm thấy chán nản, khó khăn khi hình thành cho mình một chế độ sinh hoạt và lối sống mới. Nhưng tôi tin rằng, nếu các bạn nhận thức được đầy đủ hậu quả do thói quen đi học muộn gây ra và lợi ích của việc từ bỏ thói quen này thì chúng ta sẽ vượt lên được chính mình. Để làm được điều đó, tôi cho rằng, các bạn cần lập ra thời gian biểu khoa học, “giờ nào việc nấy”, tránh lãng phí vào những việc vô bổ không cần thiết. Hình thành thói quen đi ngủ sớm và thức dậy trước giờ học từ 30 phút đến 1 tiếng để có thể chuẩn bị cho mình phong thái tốt nhất. Đồng thời, các bạn cũng nên dự trù thêm thời gian để có thể hoàn thành những công việc dang dở hoặc các vấn đề có thể phát sinh như hỏng xe hay tắc đường.
Thói quen đi học muộn là một thói quen xấu. “Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân”, đừng để thói quen đi học muộn trở thành lí do ngăn cản chúng ta bước đến thành công. Hãy trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình!
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 4
Có lẽ thói quen đi trễ đã không còn xa lạ gì với mọi người nữa, nó gần như trở thành thói quen của rất nhiều người trong xã hội, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi,…và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh có thói quen đi học muộn với đủ mọi lí do hết sức vô lí được đưa ra.
Việc đi đúng giờ không chỉ thể hiện bạn là một người văn minh, hiện đại mà còn là một người biết tôn trọng người khác. Chẳng hạn việc bạn thường xuyên đi trễ sẽ làm mất đi uy tín của bạn, lời hứa không còn có trọng lượng và bị đánh giá là người không đáng tin cậy. Nếu bạn nghĩ rằng đi học muộn là việc của bạn và hậu quả ra sao mình bạn chịu thì nhầm rồi nhé.
Khi bạn đến lớp muộn, nó không chỉ làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, mà còn ảnh hưởng đến sự tập trung của học sinh khác, cản trở việc học của tập thể và thường ăn mòn tinh thần lớp học. Thầy cô cũng vì thế mà cảm thấy bực mình và không muốn dạy một lớp học mà có nhiều bạn vô ý thức, vô kỉ luật như vậy.
Dù có là lý do gì đi nữa thì việc đi trễ vẫn là một thói quen không tốt để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc và chúng ta cần từ bỏ nó ngay từ bây giờ. Tác hại của việc đi trễ là vô cùng lớn. Đi trễ không chỉ đơn thuần là một thói quen xấu mà còn là căn bệnh bám rễ vào tư tưởng mỗi người và có thể gây nên những hậu quả khó lường nếu không được khắc phục ngay từ bây giờ.
Để khắc phục thói quen đi trễ của bản thân đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình.
Cha ông ta có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” dù biết rằng việc thay đổi thói quen từ thường xuyên đi trễ thành một người luôn đúng giờ là một việc làm rất khó nhưng không phải là không làm được. Vì vậy bạn và tôi, chúng ta đừng để đi muộn trở thành thói quen không thể sửa mà hãy cùng nhau trở thành người có thói quen làm việc khoa học và hiệu quả hơn.
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 5
Học sinh là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. Việc học tập, rèn luyện đạo đức của chúng ta hôm nay sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh tổ quốc sau này. Hiểu được những ý nghĩa to lớn đó, mỗi người học sinh chúng ta cần sống có ước mơ, lý tưởng và bài trừ những thói quen xấu ra khỏi cuộc sống, đặc biệt là thói quen đi học muộn. Một thực trạng dễ dàng nhận thấy đó là trong các trường học khắp nơi, đầu mỗi buổi học không khó để bắt gặp tình trạng các bạn học sinh đi học muộn, tiếng trống báo hiệu vào lớp đã vang lên trước đó nhưng vẫn còn có nhiều bạn chưa đến trường, ở ngoài cổng trường hoặc bắt đầu vào trường. Nguyên nhân của hiện tượng này đầu tiên ta phải kể đến là do ý thức chủ quan của các bạn học sinh chưa tốt, chưa chủ động trong cuộc sống của chính mình cũng như chưa tôn trọng thời gian của mình.
Bên cạnh đó, một phần nguyên nhân cũng là do cha mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình, việc rèn luyện tầm quan trọng của việc tiết kiệm thời gian cho con em mình chưa thực sự đạt được hiệu quả. Ngoài ra, nhiều trường học chưa giám sát và xử lí nghiêm khắc những trường hợp đi học muộn, tái phạm việc đi học muộn nhiều lần. Hậu quả của hiện tượng này đầu tiên ảnh hưởng trực tiếp đến việc học của các em bị trì trệ, tâm lí hớt hải, việc chủ động trong học tập chưa thực sự tốt và hiệu quả học tập từ đó sẽ bị giảm sút. Bên cạnh đó, nó còn ảnh hưởng đến thầy cô, những bạn học sinh khác đã có mặt đúng giờ, ảnh hưởng đến sự thi đua, thành tích của cả lớp học. Hình ảnh đi học muộn của học sinh ngày càng phổ biến sẽ khiến cho môi trường học đường bị ảnh hưởng tiêu cực, sẽ ngày càng nhiều bạn học sinh vi phạm hơn.
Để khắc phục tình trạng này, đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình; phải lên kế hoạch làm việc và đến chỗ hẹn đúng giờ, lập cho mình một thời gian biểu khoa học và thường xuyên theo dõi nó để chắc rằng mình không bỏ quên các cuộc hẹn. Nhà trường cũng cần giám sát và kỉ luật nghiêm khắc hơn nữa những học sinh có tình trạng đi học muộn nhiều lần. Nhà trường, học sinh và phụ huynh cùng chung tay vì một môi trường không còn học sinh đi học muộn và hình ảnh trường học tốt hơn trong mắt mọi người cũng như giúp các em học sinh phát triển toàn diện, tốt hơn.
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 6
Quản lý thời gian là một giải pháp để khắc phục tình trạng trễ và bao gồm đi ngủ sớm, bố trí đủ thời gian vào buổi sáng để sẵn sàng đi học, trì hoãn các công việc không cần thiết và dự đoán được các vấn đề về giao thông. Học sinh có thể ép mình di chuyển và hành động nhanh hơn bằng cách đặt đồng hồ của họ về phía trước, làm cho họ nghĩ rằng chúng đã hết thời gian.
Giáo viên cũng có thể giúp học sinh của họ trở nên đúng giờ. Họ có thể giải thích tầm quan trọng đa dạng của tính đúng giờ và khuyến khích hành vi tốt thông qua một hệ thống khen thưởng. Họ cũng có thể thêm ý nghĩa vào đầu lớp bằng cách đưa ra các câu đố sớm và thảo luận các tài liệu quan trọng ngay lập tức. Giáo viên phải là những mô hình hành vi tốt. Học sinh tôn trọng và tuân theo các giáo viên đến đúng giờ, dự án chuyên nghiệp và thẩm quyền, lập kế hoạch các bài học có giá trị và sa thải các lớp theo đúng tiến độ.
Học sinh thường đến muộn có thể phải chịu hậu quả. Họ có thể bị giam giữ hoặc làm công việc mà giáo viên yêu cầu. Họ cũng có thể bỏ lỡ các kỳ thi hoặc khiến học sinh khác thất bại trong các hoạt động nhóm đòi hỏi sự có mặt của mọi thành viên. Một số học sinh cũng có thể không hội đủ điều kiện cho một số hoạt động ngoại khóa nhất định vào ngày hôm đó. Có những học sinh mặc trên mình áo đồng phục đẹp nhưng chưa ý thức được những nguyên tắc cơ bản mình phải làm
Trong khi đa số sinh viên có trách nhiệm và trưởng thành, họ có thể làm tất cả mọi việc để không bao giờ có tình trạng đi học muộn như đặt một đồng hồ báo thức, cho phép đủ thời gian để sẵn sàng vào buổi sáng, lịch trình xe buýt để đến lớp đúng thời gian. Họ cũng không nhận ra trách nhiệm của mình khi giao tiếp với các giảng viên khi họ không thể thực hiện nghĩa vụ của mình
Khi học sinh đến lớp muộn, nó có thể làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, làm phân tâm học sinh khác, cản trở việc học, và thường ăn mòn tinh thần lớp học. Hơn nữa, nếu không kiểm soát, sự chậm trễ có thể trở thành mãn tính và lan rộng khắp lớp. Vì có nhiều lý do khiến học sinh đến lớp muộn, xem xét nguyên nhân nào gây ra vấn đề này có thể giúp hướng dẫn người hướng dẫn phản ứng và chiến lược phù hợp. Hiểu được lý do, tuy nhiên, không đòi hỏi phải chịu đựng hành vi.
Khi học sinh đến lớp muộn, nó có thể làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, làm phân tâm học sinh khác, cản trở việc học, và thường ảnh hưởng tinh thần lớp học. Hơn nữa, nếu không kiểm soát, sự chậm trễ có thể trở thành mãn tính và lan rộng khắp lớp. Vì có nhiều lý do khiến học sinh đến lớp muộn, xem xét nguyên nhân nào gây ra vấn đề này có thể giúp hướng dẫn người hướng dẫn phản ứng và biện pháp phù hợp để không ảnh hưởng đến việc học của các bạn trên lớp.
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 7
Lần gần nhất mà bạn phải ngồi chờ đợi một ai đó là bao lâu rồi? Chắc cũng mới gần đây thôi nhỉ. Dường như thói quen đi việc đi trễ đã trở thành thói quen của rất nhiều người trong xã hội, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi,… Nhiều người còn có quan điểm tiêu cực là việc đi đúng giờ đã trở nên lỗi thời. Chúng ta có thể lỡ một cuộc hẹn đi chơi, đi làm hay thậm chí là các sự kiện lớn, những thời khắc quan trọng của bản thân cũng như của người khác hay đơn giản chỉ là thói quen sinh hoạt hàng ngày. Nhiều trường hợp bạn đi trễ có thể không sao, không gây ảnh hưởng gì nghiêm trọng song việc đi trễ vẫn luôn để lại những hậu quả mà nhiều khi không cách gì giải quyết được. Ngay từ khi còn nhỏ, khi đứng trên ghế nhà trường chúng ta đã được rèn luyện thói quen đi học đúng giờ bằng cách, nếu đi học muộn sẽ bị… cờ đỏ ghi tên, phạt trực nhật,… Song càng lớn hơn, trưởng thành hơn thì dễ dàng nhận thấy căn bệnh đi trễ ngày càng phổ biến. Dễ thấy nhất trong cuộc sống là việc cán bộ công chức đi làm trễ; học sinh, sinh viên đi học muộn,…
Có rất nhiều nguyên nhân khiến đi trễ đã trở thành một thói quen xấu của nhiều người trong xã hội. Nhiều bạn trẻ hiện nay quan niệm rằng việc hay đi trễ đã trở thành “đặc trưng” của dân mình rồi, “Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải người Việt Nam”. Việc đi trễ còn có tác động như một hội chứng “dây chuyền – domino”, việc một người đi trễ có thể gây ảnh hưởng và tác động đến nhiều người khác. Đối với một số người khi căn bệnh trễ giờ đã ngấm vào máu rồi thì một số khác lại bị “nhiễm bệnh” từ những người xung quanh. Một số người bình thường luôn đúng giờ trong mọi công việc, sinh hoạt song nhiều khi phải chịu cảnh chờ đợi dài cổ người khác mới bắt đầu được công việc khiến họ cảm thấy “bất mãn”, nên trả thù mọi người bằng cách đi trễ, dần dần trở thành thói quen. Bạn đi trễ có thể do một sự cố ngẫu nhiên như: ngủ quên, tắc đường, nhỡ xe, thời tiết,…. nhưng cũng có thể đó đã trở thành một thói quen ngấm vào máu. Bạn là người thích được người khác chờ đợi, không quan tâm đến việc chính xác trong giờ giấc, giữ đúng lời hứa và cảm thấy tự hào khi được chờ đợi; hay bạn muốn tỏ ra mình là người quan trọng, người khác phải chờ đợi bạn, nhờ vả, cầu cạnh bạn…
Dù có là lý do gì đi nữa thì việc đi trễ vẫn là một thói quen không tốt để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc. Việc đi đúng giờ không chỉ thể hiện bạn là một người văn minh, hiện đại mà còn là một người biết tôn trọng người khác. Chẳng hạn việc bạn thường xuyên đi làm trễ bạn sẽ tự làm mất đi uy tín của ban và có thể bị đánh giá là người không đáng tin cậy. Học sinh, sinh viên thường xuyên đi học trễ dẫn đến việc các bạn có thể bị hổng nhiều kiến thức, thậm chí bị kỷ luật, không cho vào lớp,… Việc bạn thường xuyên trễ hẹn dẫn đến việc uy tín của bạn dần mất đi, lời hứa không còn có trọng lượng và còn có thể gây nhiều hệ lụy xấu đến nhiều người và xã hội. Thử nghĩ xem nếu bạn là một người nắm giữ trọng trách quan trọng đối với một tập thể thì việc bạn lãng phí một chút thời gian của mình bằng việc đi trễ tức là bạn đã gián tiếp làm lãng phí thời gian của cả một tập thể. Tác hại của việc đi trễ là vô cùng lớn. Nếu mỗi người trong xã hội đều không coi trọng việc đúng giờ thì xã hội sẽ không thể nào tiến bộ được.
Đi trễ không chỉ đơn thuần là một thói quen xấu mà còn là căn bệnh bám rễ vào tư tưởng mỗi người và có thể gây nên những hậu quả khó lường nếu không được khắc phục. Để khắc phục thói quen đi trễ của bản thân đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình. Nếu bạn không muốn phải chờ đợi người khác thì chắc chắn không ai thấy dễ chịu khi phải chờ đợi bạn. Vì vậy ngay lúc này đây hãy đặt ra những quy tắc cho bản thân để cùng nhau tẩy chay căn bệnh này:
Thứ nhất, Phải lên kế hoạch làm việc và đến chỗ hẹn đúng giờ. Nếu bạn là người hay lề mề hay cực kỳ chỉn chu trước khi ra khỏi nhà thì hãy cài đồng hồ hẹn trước một chút thời gian để chuẩn bị chu đáo. Hoặc nếu có việc bận đột xuất không đi được thì nên nhắn tin, gọi điện thông báo trước 10-15 phút để mọi người không phải chờ đợi mình.
Thứ hai, Nếu bạn là người đãng trí hay quên thì hãy lập cho mình một thời gian biểu khoa học và thường xuyên theo dõi nó để chắc rằng mình không bỏ quên các cuộc hẹn. Và bạn cũng nên dự trù thời gian để có thể hoàn thành công việc và những việc phát sinh thêm, tránh để quỹ thời gian của bạn bị quá tải.
Thứ ba, Hãy lập ra một số quy tắc nhóm để răn đe, xử phạt bằng một hình thức nào đó đối với những người đi muộn. Cách làm này vừa có thể nhắc nhở bạn ý thức đúng giờ hơn vừa có thể giúp cho những người bạn của mình từ bỏ được thói quen đi trễ đó.
“Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” vẫn biết việc thay đổi thói quen từ thường xuyên đi trễ thành một người luôn đúng giờ là một bài toán khó song không phải có lời giải. Việc luôn đúng giờ giúp bạn trở thành một người có thói quen làm việc khoa học và hiệu quả hơn. Hãy biết quý trọng thời gian!
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 8
Không khó để bắt gặp cảnh tượng học sinh đi muộn phải đứng bên ngoài cổng trường, báo danh họ tên và lớp học. Đây là minh chứng rõ nét cho thói quen xấu – đi học muộn ở người học hiện nay.
Thỉnh thoảng, bởi một vài sự cố xảy ra nên chúng ta có thể tới trường lớp trễ. Nhưng, để việc đi học muộn trở thành thói quen thì mỗi người cần tự xem lại bản thân mình. Thay vì nghỉ ngơi sớm, rất nhiều bạn dành thì giờ để lướt mạng, xem phim, nhắn tin hay chơi game thâu đêm suốt sáng. Những bạn học sinh này thường có suy nghĩ “cố chơi nốt ván này”, “cố xem hết tập này”, “cố đọc hết chương này”… Cứ cố mãi mà không để ý thời gian, dẫn đến trời gần sáng mới bắt đầu chợp mắt đi ngủ. Và dĩ nhiên, sáng hôm sau, đồng hồ báo thức cũng chẳng thể gọi dậy. Ngoài ra, vài cá nhân khác lại có tác phong lề mề, chậm chạp. Họ cho rằng vẫn còn sớm nên không cần vội, đủng đỉnh ở nhà nghịch điện thoại, gần sát giờ mới bắt đầu tới trường.
Thói quen đi học muộn để lại rất nhiều tác hại cho các bạn học sinh. Đầu tiên, nếu thói quen này tiếp diễn thường xuyên, với tần suất dày, người học dễ bỏ lỡ các kiến thức. Giáo viên không thể vì một cá nhân mà giảng lại kiến thức trước đó. Không chỉ vậy, đi học muộn còn biến bản thân thành kẻ dối trá. Chúng ta thường bịa ra vô vàn lí do nhằm thuyết phục người khác thông cảm, đồng tình cho mình. Bên cạnh đó, không ít trường hợp xảy ra sự cố vì vội vã tới trường. Đi học muộn còn đồng nghĩa với vi phạm nội quy nhà trường. Từ đây, nền nếp, kỉ luật của lớp sẽ là đánh giá rất thấp.
Việc từ bỏ một thói quen xấu sẽ giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Đi học đúng giờ, chúng ta không bị bỏ lỡ kiến thức bài học. Cũng chẳng có cảnh tượng tiết học diễn ra được một nửa thì học sinh mới xuất hiện ở của lớp. Đi học đúng giờ giúp mỗi người thêm chủ động, tự tin trong mọi tình huống. Đến lớp sớm, chúng ta sẽ có thời gian chuẩn bị bài hoặc trò chuyện, giao lưu với bạn bè.
Chắc hẳn, các bạn đã đọc rất nhiều bài viết, tin tức nói về việc thí sinh không được thi THPTQG vì đến trễ đúng không? Vậy nên, từ bỏ thói quen đi học muộn là cần thiết hơn bao giờ hết. Để làm được điều này, mỗi người hãy tự sắp xếp thời gian biểu một cách linh hoạt, hợp lí. Chúng ta nên giải trí vừa đủ, đừng sa đà quá mà ngủ muộn. Chúng ta cũng cần rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, cẩn thận. Thay vì ngủ nướng buổi sáng, các bạn thử dậy sớm khoảng 30 phút, luyện tập thể thao để tinh thần, cơ thể thêm sảng khoái. Đồng thời, chúng ta không nên sát giờ mới bắt đầu tới trường, hãy dự bị một chút thời gian, đề phòng các tình huống bất ngờ.
Có thể nói, đi học muộn mang lại rất nhiều tác hại cho người học. Như vậy, mỗi người cần có cái nhìn đúng đắn về thói quen đi học muộn. Hãy nhanh chóng thay đổi và hành động để loại bỏ thói quen xấu này, bạn nhé!
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 9
Đi học muộn là một thói quen khá phổ biến của các bạn học sinh, sinh viên hiện nay. Thói quen này đã hình thành trong thời gian dài và để lại nhiều hệ lụy đối với các bạn trẻ.
Có rất nhiều lý do khiến các bạn đi học muộn. Nguyên nhân chủ quan bắt đầu từ chính thói quen và giờ giấc sinh hoạt của mỗi người. Ngủ dậy muộn chính là lý do phổ biến nhất dùng để bao biện cho mỗi lần trễ học. Tôi biết có rất nhiều bạn đi ngủ muộn do thức khuya học bài nhưng cũng có một số bạn thức thâu đêm suốt sáng chỉ để dành thời gian chơi game, lướt mạng xã hội. Việc sinh hoạt không điều độ là lý do đầu tiên khiến các bạn không thể thức dậy kịp giờ đi học. Tôi cũng như các bạn, đã từng đi học muộn vì tắt chuông báo thức rồi nấn ná ngủ thêm để thỏa mãn cơn buồn ngủ của chính mình. Đôi khi không phải do thức khuya học bài, hay ngủ dậy muộn mà thói quen lề mề cũng là nguyên nhân khiến chúng ta muộn giờ vào lớp. Có rất nhiều bạn, trong đó có tôi đã từng có suy nghĩ “hãy còn sớm” nên cứ ung dung, bình thản. Chỉ đến khi sát giờ vào học mới vội vã đến trường.
Dù là lý do gì thì thói quen đi học muộn cũng là một thói quen xấu, để lại nhiều hậu quả và hệ lụy đáng tiếc cho mỗi bạn học sinh, sinh viên. Việc đi học muộn lâu dần sẽ khiến bạn trở thành một người không đáng tin cậy, nói dối, đổ lỗi để thoát tội và bao biện cho hành vi sai trái của mình. Có thể có nhiều lý do khiến bạn đi học muộn như tắc đường, hỏng xe,… nhưng đó chỉ là những tình huống bất ngờ và không phải lúc nào bạn cũng sẽ gặp phải. Nếu bạn hình thành cho mình được sự kỉ luật trong cuộc sống thì chắc chắn bạn sẽ hạn chế tối đa được những rủi ro có thể xảy đến. Khi bạn đến lớp muộn không chỉ ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy, học tập của thầy cô, bạn bè mà còn khiến bạn đứng trước nguy cơ bị khiển trách, ghi vào sổ đầu bài thậm chí bị kỉ luật và đình chỉ học nếu việc đi học muộn thường xuyên tái diễn. Ngoài ra, tình trạng đi học muộn lặp đi, lặp lại nhiều lần sẽ khiến bạn có thói quen đến muộn trong hầu hết các trường hợp khác. Từ đó dẫn đến hậu quả là đánh mất đi những cơ hội quan trọng của cuộc đời. Có rất nhiều bạn do đi muộn đã không kịp tham dự kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông Quốc gia. Đó là một điều vô cùng đáng tiếc.
Việc từ bỏ thói quen đi học muộn sẽ giúp bạn rèn luyện cho mình những thói quen tốt, thể hiện tính chuyên nghiệp của bản thân. Đi học đúng giờ giúp bạn có thêm thời gian để chuẩn bị bài vở ở trạng thái sẵn sàng trước giờ lên lớp, tạo được thiện cảm đối với thầy cô, bạn bè. Đồng thời, việc đi học đúng giờ sẽ giúp bạn có thể cải thiện và nâng cao năng lực học tập, không bị lỡ dở kiến thức cũng như hòa nhập vào mạch bài giảng một cách dễ dàng. Khi bạn từ bỏ được thói quen đi học muộn, bạn sẽ thể hiện được năng lực tổ chức và quản lý thời gian hiệu quả của mình.
Tôi biết rằng, việc từ bỏ một thói quen đã in sâu vào tiềm thức của chúng ta không hề dễ dàng. Tôi viết bài viết này để chia sẻ với bạn những suy nghĩ, tâm tư, mong sao tất cả chúng ta có thể chọn được lối sống phù hợp. Từ bỏ một thói quen không phải là chuyện ngày một, ngày hai. Nhưng tôi tin rằng, nếu các bạn nhận thức được đầy đủ những tác hại do thói quen đi học muộn gây ra và lợi ích của việc từ bỏ thói quen này thì chắc chắn chúng ta có thể trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Để làm được điều đó, tôi cho rằng, các bạn cần lập ra thời gian biểu rõ ràng, hình thành cho mình thói quen đi ngủ sớm và thức dậy trước giờ học từ 30 phút đến 1 tiếng để có thể chuẩn bị cho mình phong thái tốt nhất. Đồng thời, các bạn cũng nên dự trù thêm thời gian để có thể hoàn thành những công việc dang dở hoặc những vấn đề có thể phát sinh thêm như hỏng xe hay tắc đường, trách để thời gian của mình bị trôi đi vô bổ, lãng phí.
Thói quen đi học muộn là một thói quen xấu. Dẫu biết thay đổi không dễ dàng nhưng bản thân mỗi chúng ta phải làm chủ được hành vi của chính mình. “Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân”, đừng để thói quen đi học muộn trở thành lý do ngăn cản chúng ta đi đến thành công và trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đi học muộn – Mẫu 10
Đã từ lâu, đi học muộn đã trở thành căn bệnh kinh niên của nhiều teen. Rất nhiều teen đổ lỗi cho việc đi học muộn bằng nhiều lý do khác nhau, thậm chí có cả những lý do vô lý, khó có thể tin.Ngủ dậy muộn
Đây có thể coi là lý do phổ biến nhất cho việc đi học muộn của nhiều teen. Thức đêm học bài muộn nên sáng hôm sau không dậy được, ngủ nướng, quên không đặt chuông…
Minh Phương (Lớp 12, THPT Đống Đa, Hà Nội) từng khóc dở mếu dở khi chỉ trong một tuần mà bị ghi đi muộn tới 3 lần. Vì là năm cuối cấp nên một ngày học của Phương khép lại khi đồng hồ đã điểm 1 giờ sáng. Liên tiếp như vậy trong vòng vài tháng dẫn tình trạng thiếu ngủ trầm trọng. Dậy đi học đúng giờ quả là khó đối với Phương. Mặc dù đã đặt chuông 3, 4 lần nhưng cơn buồn ngủ cứ đeo bám khiến Phương không thể dậy được. Hậu quả là đi muộn rất nhiều lần.
Thói quen ngủ nướng cũng khiến nhiều bạn phải trả giá bằng việc bị ghi tên vào sổ đầu bài. T.Hằng, cô bạn chuyên bị đi học muộn do ngủ nướng chia sẻ: “Với mình, dậy đi học vào buổi sáng mùa đông thật khó. Thời tiết dạo gần đây lạnh lạnh nên ngủ rất ngon, khó mà chui ra khỏi chăn được. Cứ nấn ná ngủ thêm 5, 10 phút nên bị đi muộn thường xuyên”.
Tắc đường
Giao thông vào buổi sáng trên một số con đường thường xảy ra tắc nghẽn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc đi học của teen. Nhiều bạn đi học bằng xe bus nên khó có thể kiểm soát được vấn đề này.
M.Tuấn (THPT Lê Quý Đôn, Hà Nội) nói: “Thỉnh thoảng mình cũng bị đi muộn vì lý do tắc đường. Mặc dù đã khắc phục bằng cách đi sớm hơn rồi nhưng đôi khi vẫn không tránh khỏi được.”
Nhiều teen có thể là do tắc đường thật nên mới bị đi muộn nhưng cũng có không ít bạn mượn lý do chính đáng này để bao biện cho lý do đi muộn thực sự của mình.
Q.Thắng một teen chuyên gia đi muộn chia sẻ bí quyết thoát nạn “tra khảo” lý do của thầy cô bằng cách đổ lỗi cho việc tắc đường. Lý do này được Thắng áp dụng khá nhiều lần.
Trường hợp teen đi muộn do hỏng xe khá hi hữu, ít khi xảy ra nhưng lại rất hay được các bạn nêu ra nhằm chạy tội thay cho lý do thực sự là ngủ dậy muộn.
Nhiều bạn cũng không ngại bịa chuyện rằng mình bị ngã xe trên đường, xe hỏng nên không thể đến kịp giờ. Thầy cô có thể biết bạn đang nói dối nhưng rất khó để kiểm chứng điều này mà chỉ có thể nhắc nhở bạn lần sau nên đi cẩn thận và không lặp lại việc đi muộn thêm một lần nào nữa.
Ngoài những lý do nêu trên, nhiều teen còn có những lý do đi muộn khó có thể biết là thật hay giả. X.Tùng nói: “Là lớp trưởng, hằng ngày mình phải nhận không biết bao nhiêu lý do đi muộn của các bạn trong lớp. Người thì tắc đường, người thì hỏng xe, người lại bảo đau đầu, ốm nên bị muộn, có bạn còn bảo mẹ ốm, đi bệnh viện nên phải vào thăm. Mình cũng chẳng biết ai thật ai giả nữa.”
Hậu quả đi học muộn
Đi học muộn tưởng chừng chỉ là việc vào lớp trễ 5, 10 phút nhưng có rất nhiều hậu quả phía sau mà có thể bạn không để ý.
Tâm lý đi học muộn sợ bị đánh dấu khiến nhiều bạn phải đi trong tình trạng lo lắng, phóng nhanh. Chưa kể nhiều bạn còn phải chạy thục mạng vào trường cho kịp. Bước vào tới lớp cũng là lúc thở không ra hơi, không còn sức để học.
Đi học muộn thường xuyên cũng khiến các thầy cô chú ý tới bạn. Ban đầu có thể chỉ là những lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng nếu tình trạng ấy lặp đi lặp lại thì rất có thể bạn sẽ bị đánh dấu vào sổ đen và phải mời phụ huynh tới gặp thầy cô đó nha.
Nhiều thầy cô giám thị dễ tính có thể cho phép bạn vào lớp ngay nhưng ngược lại, các thầy cô có thể bắt bạn phải viết xong bản kiểm điểm mới được vào. Thời gian ngồi viết bản kiểm điểm có thể khiến bạn mất đi một lượng kiến thức mà thầy cô đang giảng trên lớp.
Cuối cùng, nếu bạn nghĩ rằng đi học muộn là việc của bạn và hậu quả ra sao mình bạn chịu thì nhầm rồi nhé. Việc bạn vào muộn có thể làm ảnh hưởng tới việc học của cả lớp và khiến mọi người xung quanh cảm thấy khó chịu. Thầy cô vì thế cũng cảm thấy bực mình và không muốn dạy một lớp học mà có nhiều bạn vô ý thức, vô kỉ luật như vậy đâu.
Để tránh tình trạng đi học muộn, các bạn hãy tự chọn cho mình một biện pháp khắc phục phù hợp như đặt chuông dậy sớm hơn, đi học trước thời gian bình thường 5, 10 phút để tránh tắc đường… Đừng để đi muộn trở thành thói quen không thể sửa của bạn. Vừa khiến bạn gặp nhiều phiền phức vừa để lại ấn tượng không ít trong lòng thầy cô và bè bạn.
Phân tích nhân vật Hê-ra-clét trong đoạn trích Hê-ra-clét đi tìm táo vàng (Thần thoại Hy Lạp).
Dàn ý phân tích Hê-ra-clét
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác phẩm: "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng".
II. Thân bài:
1. Đặc sắc về nội dung:
* Nội dung chính của truyện: kể về hành trình đi tìm táo vàng để mang về cho nhà vua Ơ-ri-xtê.
* Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp của người anh hùng.
* Hình tượng người anh hùng Hê-ra-Clét:
- Sức mạnh phi thường: Cuộc chiến đấu anh hùng của Hê-ra-clét với Ăng-tê trong hành trình đi tìm quả táo vàng:
Ăng-tê là con của thần Đất cho nên Ăng-tê luôn được thần Đất tiếp sức mạnh.
Hê-ra-clét ba lần quật Ăng-tê xuống đất tưởng gã khổng lồ chết hẳn nhưng hắn lại vùng dậy dưới sự giúp sức của Nữ thần Đất mẹ Gai-a.
Hê-ra-clét đã nhanh trí tìm ra điểm mạnh và điểm yếu của Ăng-tê nên đã giành được chiến thắng.
- Lòng nhân ái: Cuộc giải cứu thần Prô-mê-tê bằng tấm lòng nhân hậu của Hê-ra-clét trong hành trình đi tìm quả táo vàng:
Prô-mê-tê là vị thần đã trao cho con người một thứ vũ khí đặc biệt mà không có bất cứ loài vật nào dám xâm phạm nhưng lại bị thần Dớt trừng phạt bằng cực hình trong nhiều thế kỉ mà không hề kêu than.
Khi thấy cảnh tượng bất công như vậy, Hê-ra-clét đã ra tay giải cứu thần Prô-mê-tê và được thần đền ơn bằng cách chỉ đường cho Hê-ra-clét đi lấy được táo vàng.
- Trí tuệ thông minh: Cuộc đấu trí với thần Át-lát trong hành trình đi tìm quả táo vàng:
Do thần Át-lát đứng về phía các Ti-tăng chống lại thần Dớt nên bị thần Dớt trừng phạt bằng cách "khom lưng giơ vai chống đội bầu trời".
Hê-ra-clét đã nhận lời chống đỡ bầu trời giúp cho thần Át-lát để thần Át-lát đi lấy táo vàng nhưng khi trở về, thần Át-lát lại dở trò đen tối muốn Hê-ra-clét chịu cực hình thay cho mình. Tuy nhiên, đã bị Hê-ra-clét nắm được mưu đồ.
Sau khi trải qua rất nhiều biến cố, Hê-ra-clét đã đem được táo vàng về cho nhà vua.
2. Những nét đặc sắc về nghệ thuật:
- Cốt truyện hấp dẫn.
- Yếu tố kì ảo, hoang đường:
Có sự xuất hiện của các vị thần như thần Đất, thần Biển, thần Át-lát, thần Prô-mê-tê,...
Ăng-tê mỗi lần ngã xuống đất đều được tiếp thêm sức mạnh từ thần Gai-a, gan của thần Prô-mê-tê bị đại bàng mỏ quắm mổ bụng ăn gan nhưng ban đêm nó lại mọc lại nguyên vẹn.
Thần Át-lát và Hê-ra-clét đều có thể chống đỡ bầu trời.
III. Kết bài:
- Khẳng định giá trị, ý nghĩa của tác phẩm.
Mẫu 1
Nhân vật chính là linh hồn của mỗi tác phẩm văn học. Qua nhân vật, tác giả gửi gắm những quan niệm, suy tư về con người và cuộc đời, mang đến những bài học thông điệp ý nghĩa, sâu sắc. Đọc truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" trích trong thần thoại Hy Lạp, ta luôn bị ấn tượng và cuốn hút bởi nhân vật Hê-ra-clét. Hê-ra-clét tuy là người phàm nhưng có sức mạnh "sánh tựa thần linh".
Hê-ra-clét là con riêng của thần Dớt cho nên luôn bị vợ của thần Dớt tức nữ thần Hê-ra thù ghét và tìm cách tiêu diệt. Từ khi mới mười tháng tuổi, nữ thần Hê-ra đã cho hai con rắn trườn vào đề cắn chết cậu bé nhưng kì lạ thay Hê-ra-clét đã bóp chết chúng. Hê-ra-clét tuy là người phàm nhưng lại mang sức mạnh tựa thần thánh. Hê-ra-clét tài giỏi, lập được nhiều chiến công lớn được nhà vua gả công chúa cho nhưng lại bị nữ thần Hê-ra dùng phép thuật khiến cho Hê-ra-clét phát điên giết hết vợ con. Chính vì vậy, Hê-ra-clét lại phải chịu sự trừng phạt của thần Dớt do nữ thần Hê-ra yêu cầu. Thần Dớt không còn cách nào khác đành phải rời xa con trai yêu quý của mình, Hê-ra-clét bị bắt đi làm đầy tớ cho vua Ơ-ri-xtê - một vị vua "ốm yếu và hèn nhát". Hê-ra-clét liên tục bị Ơ-ri-xtê sai đi làm những việc khó khăn và nguy hiểm.
Nổi bật trong toàn bộ văn bản, nhân vật Hê-ra-clét hiện lên với bản lĩnh oai hùng, không khuất phục trước thử thách, khó khăn. Trong hành trình đi tìm táo vàng do vua Ơ-ri-xtê sai khiến, Hê-ra-clét đã gặp muôn vàn trắc trở. Không ai có thể biết chính xác địa điểm của cây táo vàng, chính vì vậy chàng phải lặn lội từ châu u sang Châu Á để hỏi đường. Thậm chí, trên đường đi, chàng phải giao đấu với hai cha con thần Chiến tranh A-rét, đi tìm thần Biển Nê-rê, phải đi ngược lên miền cực Bắc, băng qua sa mạc nóng như thiêu và phải chiến đấu với gã khổng lồ độc ác Ăng-tê. Dù gian khổ là vậy, nhưng chàng chưa một lần từ bỏ, luôn sẵn sàng đương đầu và quyết tâm vượt qua mọi chông gai. Nó cho thấy ý chí, nghị lực phi thường của người anh hùng Hê-ra-clét trong hành trình chinh phục mục tiêu.
Nếu như giai đoạn trước, nhân vật thần thoại chủ yếu gắn liền với thánh thần thì ở giai đoạn này, Hê-ra-clét mang dáng dấp của con người nhưng vẫn chứa đựng sức mạnh siêu phàm của đấng thần linh. Trận giao chiến giữa Hê-ra-clét với gã khổng lồ Ăng-tê - đứa con trai của nữ thần Gai-a diễn ra rất quyết liệt. Ba lần quật ngã tưởng Ăng-tê chết hẳn thì thoáng một cái hắn đã bật dậy nhờ sự giúp sức của Đất mẹ Gai-a. Nắm được điều này, Hê-ra-clét đã nhanh trí lợi dụng lúc sơ hở và nhấc bổng Ăng-tê cho chân lìa khỏi mặt đất khiến cho hắn chết hẳn không sao cứu được. Hê-ra-clét là người phàm nhưng sức mạnh của chàng đã sánh ngang với đấng thần linh. Đây chính là chiến thắng của người anh hùng phàm trần khiến cho thần thánh cũng phải chịu thua.
Sức mạnh và trí tuệ của Hê-ra-clét còn được thể hiện ở việc Hê-ra-clét nhận lời chống trời để thần Át-lát đi lấy táo vàng và cuộc đấu trí với thần Át-lát để tiếp tục cuộc hành trình trở về Mi-xen dâng những quả táo cho Ơ-ri-xtê. Phải chăng quyết tâm lấy được táo vàng của Hê-ra-clét đã khiến cho chàng trở nên khỏe mạnh phi thường? Khi Át-lát đem táo trở về, thần đã nảy ra một mưu đồ đen tối đó là để cho Hê-ra-clét chịu cực hình thay mình mình nhưng thần đâu thể ngờ Hê-ra-clét là một người có trí tuệ siêu phàm. Trước ý định không mấy tốt đẹp đó, Hê-ra-clét đã nhanh trí tìm ra cách giải thoát cho mình. Qua những cuộc chiến đấu của Hê-ra-clét, chúng ta có thể thấy quá trình đi lấy táo vàng về cho nhà vua quả là một quá trình trải đầy gian nan và vất vả. Để lấy được táo vàng, Hê-ra-clét không chỉ phải chiến đấu với nguyên Ăng-tê và thần Át-lát mà Hê-ra-clét còn phải chiến đấu với rất nhiều vị thần khác, trải qua rất nhiều khó khăn như lên cực Bắc, đi qua sa mạc nóng như thiêu,... để lấy được táo vàng. Nó cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của người anh hùng Hê-ra-clét trong nỗ lực đi đến vinh quang.
Không chỉ là người có sức mạnh phi thường, có trí tuệ siêu phàm, Hê-ra-clét còn là người có tấm lòng nhân hậu. Trên đường đi tìm táo vàng cho nhà vua, Hê-ra-clét thấy thần Prô-mê-tê đang phải chịu cực hình do thần Dớt trừng phạt. Trong thần thoại Hy Lạp, Prô-mê-tê là vị thần đã có công khai sáng, trao cho con người ngọn lửa thiêng để làm vũ khí tự vệ mà không có loài vật nào có được. Chứng kiến cảnh tượng tàn nhẫn đang diễn ra,, Hê-ra-clét không ngại ngần ra tay bắn chết con đại bàng để cứu vị thần đã có công với loài người và được thần Prô-mê-tê trả ơn bằng cách chỉ cho Hê-ra-clét đi gặp thần Át-lát để nhờ lấy táo vàng. Hành động của Hê-ra-clét chính là một minh chứng cho "cái tài" và "cái đức" song hành với nhau.
Những nét đặc sắc về nghệ thuật đã góp phần vào thành công trong việc khắc họa hình tượng của người anh hùng Hê-ra-clét. Nhân vật được khắc họa chủ yếu thông qua lời nói và hành động. Ngoài ra, các yếu tố hoang đường, kì ảo như Hê-ra-clét chống trời giúp cho thần Át-lát, buồng gan của Prô-mê-tê, hệ thống nhân vật các vị thần,... đã góp phần vào việc khắc họa vẻ đẹp hình tượng của người anh hùng Hê-ra-clét.
Truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" đã khắc họa thành công nhật Hê-ra-clét tài giỏi, có trí tuệ và bản lĩnh, gặp khó khăn nhưng chưa bao giờ bỏ cuộc. Nhân vật Hê-ra-clét tuy chỉ là nhân vật được sáng tạo dựa trên trí tưởng tượng của người xưa nhưng đây là nhân vật đáng kính và đáng để chúng ta học hỏi nhiều điều. Qua nhân vật Hê-ra-clét, tác giả muốn nhắn nhủ cho bạn đọc bài học về sức mạnh của ý chí và tấm lòng nhân hậu.
Mẫu 2
Không giống với những tác phẩm thần thoại mà chúng ta được học về các vị thần, truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" lại kể về một người phàm nhưng có sức manh tựa thần linh. Tác phẩm "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" được trích trong thần thoại Hy Lạp, kể về chiến công lẫy lừng cuối cùng của người anh hùng Hê-ra-clét .
Truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" ca ngợi người anh hùng cổ đại với những phẩm chất cao đẹp. Truyện kể về những biến cố mà Hê-ra-clét gặp phải khi đi tìm táo vàng cho nhà vua Ơ-ri-xtê và cách Hê-ra-clét chiến đấu, đối mặt với những biến cố, thử thách. Bên cạnh đó, truyện đã khắc họa thành công người anh hùng Hê-ra-clét với sự gan dạ, thông minh và có sức khỏe phi thường để chiến thắng mọi kẻ xấu.
Truyện đã xây dựng hình tượng nhân vật Hê-ra-clét với những phẩm chất tốt đẹp. Quá trình Hê-ra-clét đi tìm táo vàng cho nhà vua phải trải qua muôn vàn thử thách. Trước hết chẳng ai biết rõ cây táo có quả táo vàng mà nhà vua cần tìm ở đâu, "Ở biển Đông hay biển Mặt Trời lặn? Ở trong vùng sa mạc cát nóng hay dưới chân những ngọn núi tuyết phủ quanh năm? Người kể thì nhiều nhưng người đi thì xem ra chưa có một ai". Điều đó đã đặt ra một khó khăn vô cùng to lớn đối với Hê-ra-clét. Cây táo vàng là món quà của Đất mẹ Gai-a tặng cho nữ thần Hê-ra làm quà mừng ngày nữ thần kết hôn với đấng phụ vương Dớt. Chính vì vậy, nữ thần Hê-ra vô cùng sung sướng và coi đây là món quà quý. Nàng cho người trông coi rất nghiêm ngặt bởi con rồng La-đông và ba chị em tiên nữ E-xpê-rit. Chúng ta có thể thấy nhiệm vụ đi lấy táo vàng là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn đòi hỏi Hê-ra-clét phải có ý chí vững chắc thì mới có thể lấy được táo vàng đem về cho nhà vua.
Trải qua bao thử thách như "giao đấu với hai cha con thần "Chiến tranh A-rét, đi tìm thần biển Nê-rê để hỏi đường", đi lên cực Bắc, băng qua sa mạc,... chàng còn phải chiến đấu với gã khổng lồ Ăng-tê. Trong ba lần giao đấu, Hê-ra-clét cố gắng quật Ăng-tê xuống đất nhưng hắn không chết vì chiếc "bùa hộ mệnh" của mình. Biết được điều này, Hê-ra-clét đã lừa miếng sơ hở, nhấc bổng gã khổng lồ gian ác để nữ thần Đất Mẹ Gai-a không thể tiếp sức được cho đứa con của mình nữa. Bằng sức mạnh và trí tuệ của mình, Hê-ra-clét đã tạo nên chiến công vang dội khi hạ gục được cả thế lực thần thánh. Chúng ta có thể thấy, Hê-ra-clét chính là vị anh hùng vĩ đại với sức mạnh phi thường.
Không chỉ là một người tài giỏi, có sức mạnh tựa đấng thần linh, Hê-ra-clét còn là người có tấm lòng nhân hậu, luôn đứng ra để bảo vệ công lí, bảo vệ lẽ phải. Trong hành trình đi tìm quả táo vàng Hê-ra-clét đã bắt gặp thần Prô-mê-tê bị đóng đanh xiềng vào núi đá. Prô-mê-tê là vị thần đã trao cho con người một thứ vũ khí đặc biệt mà không có bất cứ loài vật nào dám xâm phạm. Thế nhưng vị thần này lại bị thần Dớt trừng phạt bằng cực hình trong nhiều thế kỉ mà không hề kêu than. Chứng kiến cảnh tượng xót xa và tàn nhẫn ấy, Hê-ra-clét đã ra tay giải cứu thần Prô-mê-tê. Cảm động trước tấm lòng của Hê-ra-clét Prô-mê-tê khuyên chàng hãy nhờ đến sự giúp sức của thần Át-lát nếu muốn lấy được quả táo vàng. Hành động cứu người của Hê-ra-clét là một hành động đáng kính vì không phải bất cứ ai cũng đủ can đảm để đứng ra bảo vệ lẽ phải.
Hành trình đi tìm táo vàng của Hê-ra-clét đã gần đến đích nhưng Hê-ra-clét vẫn phải trải qua cuộc đấu trí căng thẳng với thần Át-lát. Do thần Át-lát đứng về phía các Ti-tăng chống lại thần Dớt nên bị thần Dớt trừng phạt bằng cách "khom lưng giơ vai chống đội bầu trời". Để thần Át-lát đi lấy táo vàng cho mình, Hê-ra-clét đã nhận lời chống đỡ bầu trời giúp thần Át-lát nhưng khi trở về thần lại dở trò muốn Hê-ra-clét chịu cực hình thay. Tuy nhiên Hê-ra-clét đã khôn khéo ứng phó với mưu đồ của thần Át-lát bằng cách bày tỏ sự biết ơn với sự giúp đỡ của thần Át-lát và đã nhanh trí bảo thần Át-lát ghé vai một lát để Hê-ra-clét đi kiếm tấm áo, tấm da lót vào. Nói xong Hê-ra-clét "chuồn nhanh ra khỏi gánh nặng bầu trời" để đem táo vàng về cho nhà vua.
Những nét đặc sắc về nghệ thuật góp phần tạo nên thành công trong việc khắc họa hình tượng nhân vật Hê-ra-clét. "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" có cốt truyện hấp dẫn, thời gian và không gian cổ xưa. nhân vật mang sức mạnh phi thường. Truyện còn chứa đựng các yếu tố kì ảo, hoang đường như sự xuất hiện của các vị thần như thần Đất, thần Biển, thần Át-lát, thần Prô-mê-tê,... Ăng-tê mỗi lần ngã xuống đất đều được tiếp thêm sức mạnh từ thần Gai-a, gan của thần Prô-mê-tê bị đại bàng mỏ quắm mổ bụng ăn gan nhưng ban đêm nó lại mọc lại nguyên vẹn hay thần Át-lát và Hê-ra-clét đều có thể chống đỡ bầu trời giúp cho câu chuyện trở nên li kì và hấp dẫn hơn.
Trang sách khép lại nhưng những dư âm về chiến thắng hào hùng của Hê-ra-clét vẫn còn vang vọng quanh ta. Truyện "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" cho đến này vẫn còn nguyên giá trị và được độc giả khắp nơi trên thế giới đón nhận. Truyện đã đem đến cho người đọc bài học về sự dũng cảm, về ý chí nghị lực thông qua cách xây dựng hình tượng nhân vật Hê-ra-clét.
Mẫu 3
Nhắc đến thể loại “thần thoại” đặc biệt là thần thoại Hy Lạp, người ta thường nhắc ngay đến những truyện mang tính chất hoang đường ảo tưởng nhưng trong đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố có giá trị quan trọng về nhiều mặt, dù đã ra đời từ rất lâu nhưng nó vẫn là thể loại nổi tiếng và hết sức hấp dẫn, mang sức sống lâu bền cho đến ngày nay, trên khắp thế giới. Ta biết đến truyện thần thoại tác phẩm với sự xuất hiện biết bao những vị thần, anh hùng mang sức mạnh phi thường cùng sứ mệnh thiêng liêng đối với nhân loại. Một trong những anh hùng hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao đẹp cùng sức mạnh đáng ngưỡng mộ ấy phải kể đến Hê-ra-clét. Trong “Hê-ra-clét đi tìm táo vàng” người đọc hoàn toàn được đón nhận cách lí giải mới, nhận thức mới về nguồn gốc của loài người, của vũ trụ, khắc họa thành công hình ảnh ấy, hình ảnh một anh hùng Hê-ra-clét với hình hài của một con người nhưng mang năng lực của một chiến thần với những chiến công vang dội.
Vũ Ngọc Khánh trong công trình chủ biên của mình là Kho tàng thần thoại Việt Nam đã đưa ra nhận định: “Thần thoại là hình thức sáng tác của con người thời đại xa xưa, nó thể hiện ý thức muốn tìm hiểu vũ trụ, lí giải vũ trụ và chinh phục vũ trụ của con người”. Thần thoại bao gồm những truyện kể dân gian về các vị thần, những nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh nhận thức, cách lí giải của con người cổ đại về các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội, phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người. Thần thoại Hy Lạp đóng vai trò rất quan trọng trên thế giới, tầm ảnh hưởng sâu rộng đến văn minh nhân loại. Nội dung của thần thoại Hy Lạp kể về nguồn gốc thế giới, ý nghĩa tín ngưỡng hay các lễ nghi tôn giáo, những chiến công của các vị thần hay người anh hùng có hình dạng và hành động phi thường, có khả năng biến hóa khôn lường. Hê-ra-clét một kiểu nhân vật anh hùng mang một sức mạnh “sánh tựa thần linh”, con riêng của thần Dớt và bị nữ thần Hê-ra – vợ của cha mình thù ghét, là một con người mang hình thể khỏe mạnh dù gặp phải rất nhiều thử thách khó khăn ngay từ nhỏ đến lớn nhưng Hê-ra-clét đều không những không bị hãm hại hay bị diệt trừ mà còn giúp mình khám phá ra sức mạnh tiềm tàng. Một con người với đầy đủ phẩm chất của một bậc “trang anh” dễ dàng đạt được nhiều chiến công vang dội dù vượt qua mọi hành trình trắc trở, hành trình đi tìm những quả táo – chiến công thần kì cuối cùng của Hê-ra-clét trong “Hê-ra-clét đánh dấu một cột mốc quan trọng và cũng hoàn toàn bộc lộ được vẻ đẹp của chàng.
Hê-ra-clét với sự dũng cảm, gan dạ khó ai sánh bằng. Một chàng trai bị chính mẹ kế của mình hãm hại phải làm đầy tớ trong suốt 12 năm cho một ông vua ốm yếu, hèn nhát, phải cung phụng làm theo mọi điều ông ta sai khiến, biết hành trình đi tìm những quả táo vàng hết sức gian truân nhưng Hê-ra-clét chẳng ngại ngần hay nao núng, dứt khoát vượt qua ngàn chông gai để mong tới đích đến viên mãn. Một mình không cần sự giúp đỡ hỗ trợ của ai, bằng năng lực của bản thân để lên đường. “Vườn táo này ở đâu? Người kể thì nhiều nhưng người đi xem ra chưa thấy có một ai. Khi vườn nơi trồng cây táo vàng rất thâm nghiêm. Nữ thần Hera giao khu vườn cho một con rồng tên là La Đông canh giữa. Một con rồng có tới trăm cái đầu…có người kể không phải là La- Đông có một trăm cái đầu mà chỉ có một thôi, nhưng đặc biệt nó không lúc nào ngủ cả, mắt nó lúc nào cũng mở trừng trừng. Cẩn thận hơn Hê- ra còn giao cho ba chị em tiên nữ Nanh- phơ (Chiều Hôm) trông coi.” Một Khu vườn rất bí ẩn, ít ai biết đến và đặc biệt được trông coi rất cẩn thận lại càng tô đậm thử thách khó khăn cho Hê-ra-clét. Đích đến chông gai mà hành trình chẳng hề dễ dàng, chàng trai lần lượt qua mọi thử thách, Giết con sư tử ở nê-mê, giất mãng xà Hi-drơ ở Léc-nơ, bắt sống bò mọng ở đảo Crét, giao đấu với hai cha con thần chiến tranh A- rét, đi tìm thần biển nê- rê để hỏi đường, phải đi ngược lên miền cực bắc, phải băng qua vùng sa mạc nóng như thiêu như đốt, đến khi đặt chân đến đất nước Ai Cập ,suýt bị vua Ai Cập bắt làm vật hiến tế. Người anh hùng đã chiến đấu để giải thoát cho mình và tiếp tục lên đường. Thử thách cứ ùn ùn đập đến, thế nhưng chẳng có gì làm khó được người, không bỏ cuộc, không than vãn, không nản chí thay vào đó là một ý chí một tinh thần quyết tâm nghị lực vượt qua trùng trùng khó khăn thử thách. Dường như những gian truân gặp trên đường đời, dù có to lớn, có mạnh mẽ đồ sộ đến mức nào cũng đều dễ dàng bại trận trước những phẩm chất ý chí cao cả của con người. Những tính cách ấy, những vẻ đẹp ấy đã giúp Hê-ra-clét đến gần hơn tới đích. Nào đâu chỉ nhiêu đấy là đủ cho sự chiến thắng giương cao, sự kiên trì trong vị anh hùng cũng được phát huy cao độ và trở thành một vũ khí tối tân giúp anh ta chiến thắng trong những cuộc chiến đấu gay cấn khó nhằn, “Cuộc giao đấu giữa Hê-ra-clét với Ăng- tê diễn ra vô cùng quyết liệt. Ba lần Hê-ra-clét quật Ăng-tê ngã xuống đất, tưởng Ăng-tê chết hẳn vậy mà chỉ thoáng một cái, Ăng- tê lại bật dậy, tiếp tục giao đấu Hê-ra-clét”, sự nhẫn nại, quyết tâm chiến đấu in hằn trong tim khiến Hê-ra-clét chẳng thể gục ngã hay nao núng, không chỉ vậy người còn nhờ tài trí của mình, bình tĩnh tìm kiếm những sơ hở rồi chiến thắng, tại đây bằng việc phát huy sự thông minh, nhạy bén, mưu trí với tài năng suy luận của mình, “người thông minh là người biết tạo ra cơ hội” Hê-ra-clét đã dễ dàng tìm ra điểm mạnh của đối thủ, quyết loại từ “lá bùa hộ mệnh” của Ăng- tê, “Lừa một miếng sơ hở, Hê-ra-clét gồng mình nhấc bổng Ăng-tê lên cho chân lìa khỏi mặt đất rồi chàng xoay ngược đầu Ăng-tê xuống. Lần này thì Ăng -tê chết thật, chết không cách gì cứu vãn được. Đành chịu để nó thiệt phận trong đôi tay rắn như sắt của Hê-ra-clét”. Cuộc giao đấu vô cùng gay cấn, quyết liệt , một lần làm tỏa sáng Hê-ra-clét – một sức mạnh phi thường Hê-ra-clét ba lần quật Ăng-tê, gồng mình nhấc bổng Ăng-Tê chiến đấu quật cường, một sự thông minh sáng dạ, thông minh cho đến thử thách cuối cùng, tỉnh táo trong mọi tình huống. Trong việc Thần Át Lát sau khi lấy được ba quả táo vàng thì nảy sinh ý nghĩ đen tối, vẫn là một Hê- ra-clet hoàn toàn tỉnh táo và nhạy bén đoán được ngay không để lời lẽ khôn khéo mềm mỏng làm ảnh hưởng và chàng cũng dùng sự thông minh của mình để khiến Vị thần Át- lát phải thua cuộc , cuộc đấu trí giữa Hê- ra-clet và thần Át -lát chứng minh cho chúng ta thấy Hê- ra-clet không chỉ là vì thần có sức mạnh vĩ đại, dũng cảm kiên cường mà còn tô đậm sự thông minh, khôn khéo và tài trí. Trong cuộc giúp đỡ cho vị thần Át-lát ấy, chàng anh hùng một lần nữa chứng minh được sức mạnh phi thường bền bỉ của mình, Hê-ra-clét đỡ lấy bầu trời cho thần Át- lát, ghé vai vào giơ lưng ra chống đỡ bầu trời, “Một sức nặng ghê gớm, chưa từng thấy, đè lên vai và lưng người con trai của thần Dớt Vĩ Đại. Gân cốt trong người chàng như căng ra. Khỏe mạnh như chàng mà khi ghé vai vào chống đỡ còn loạng choạng, mồ hôi ra như tắm”. Nhờ nữ thần A-tê-na lúc nào cũng ở bên người con trai yêu quý của thần Dớt để truyền thêm sức lực cho chàng. Một con người bằng xương bằng thịt giờ đây có thể dang tay để đỡ lấy bầu trời nặng trĩu to lớn kia, không có sức mạnh phi thường, không có sự kiên trì thì xem ra khẳng định đó là việc quá sức, quá hoang đường. Hê-ra-clét trở thành một anh hùng mang sức mạnh vô thường vô biên thật đáng ngưỡng mộ. Một chàng trai với đủ nghị lực đủ thông minh đủ sức mạnh lại mang thêm một trái tim nhân hậu sẵn sàng xả thân cứu những người gặp nạn như Hê-ra-clét hoàn toàn toát lên một vẻ đẹp sáng chói tựa châu báu lung linh và đầy giá trị. Chàng cứu vị ân nhân của mình không cần đắn đo suy nghĩ, chặt tung xiềng xích giải phóng Prô-mê-tê, hành động bộc phát ra từ lòng yêu thương trân trọng con người, vì con người mà sẵn sàng lăn xả, sẵn sàng giúp đỡ dù biết mọi chuyện sẽ chẳng hề dễ dàng, chàng cứu Prô-mê-tê bị xiềng là đang cứu cho con người tự do chân chính, Prô-mê-tê là một biểu tượng khẳng định sức mạnh của con người trong cuộc đấu tranh cho văn minh, tự do, hạnh phúc. Prômêtê bị xiềng nhưng không xiềng xích nào trói buộc được, giam giữ được lý tưởng cao quý của Prômêtê, càng chịu đau khổ nhường nào thì càng bất tử mà mạnh mẽ nhường đấy, Sự đấu tranh không khoan nhượng, không khuất phục trước kẻ thù. Hê-ra-clét là hiện thân của một con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực: gan dạ, dũng cảm, mạnh mẽ, đầy thông minh, mưu trí, bản lĩnh vượt qua những thử thách, những gian truân trong cuộc sống và luôn kiên trì trên con đường đi tìm và đấu tranh cho tự do. Cuộc giải thoát cho Prô- mê-tê, vị thần ân nhân của loài người là minh chứng cho thấy tinh thần xả thân sẵn sàng cứu giúp những khổ nạn, hiện thân cho tinh thần quả cảm, lòng nhân ái của con người, là hình tượng tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần của người anh hùng cổ đại với những chiến công phi thường.
“Hê-ra-clét đi tìm táo đỏ” đây là một văn bản thần thoại Hy Lạp nổi tiếng phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về nguồn gốc của loài người, nguồn gốc của lửa. Tác phẩm khắc họa thành công hình ảnh người anh hùng Hê-ra-clet dũng cảm, tài giỏi, nhanh trí và đầy bản lĩnh, gặp khó khăn vẫn không bỏ cuộc, cho thấy quyết tâm chinh phục mục tiêu của những người anh hùng cổ đại, và có tính liên hệ tới xã hội hiện nay, khuyến khích con người nên nỗ lực, cố gắng để chạm tới mục tiêu. Truyện thể hiện được những đặc điểm của thần thoại việc xây dựng cốt truyện logic, các sự việc liên quan và móc nối với nhau, cách xây dựng nhân vật anh hùng điển hình cùng lời văn, ngôn từ phù hợp đan xen giữa lời của người kể chuyện và lời của nhân vật, tạo nên sức hấp dẫn và giá trị của câu chuyện tới tận ngày nay. Hình ảnh, nhân vật được nhắc tới mang tính tượng trưng, thể hiện quan niệm của con người cổ đại về thế giới. Hê-ra-clét thật sự xứng đáng với cái danh anh hùng với vẻ đẹp riêng biệt, một con người bình thường nhưng mang sức mạnh phi thường.
Mẫu 4
Thần thoại Hy Lạp cho chúng ta hiểu biết hơn về trí tuệ, trí tưởng tượng phong phú của người Hy Lạp thời cổ đại. Sức hấp dẫn đặc biệt của thần thoại Hy Lạp đã làm nên sự trường tồn của di sản văn hóa này cho đến tận ngày nay. “Hê-ra-clét đi tìm cá vàng” hay hình tượng nhân vật Hê-ra-clét đều là những sản phẩm đặc sắc đem lại cho người đọc những cái nhìn mới mẻ, nhân thức sâu rộng hơn về thế giới loài người, dù hoang đường dù thần thoại những đây vẫn là thể loại thể hiện những nét độc đáo cùng ấn tượng khó có thể phai nhòa.
Thần thoại là một trong những thể loại đặc sắc, kể về truyền thuyết những vị thần, những anh hùng có mang theo yếu tố kỳ ảo. Thần thoại Hy Lạp được coi là cái nôi, là áng văn nổi danh và phổ biến nhất trong chặng đường thần thoại. Tác phẩm "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" là một trong những thần thoại Hy Lạp nổi danh, kể về người anh hùng Hê-ra-clét và những chiến công lẫy lừng của người anh hùng vĩ đại.
Tác phẩm "Hê-ra-clét đi tìm táo vàng" có nội dung ca ngợi hình tượng người anh hùng của người Hy Lạp hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao đẹp. Bối cảnh truyện là khi Hê-ra-clét theo ý nhà vua Ơ-ri-xte đi tìm quả táo vàng. Trên đường đi gặp nhiều biến cố khác nhau, có những thử thách khó khăn nhưng chàng đều vượt qua. Thông qua đó, người đọc có thể thấy được những phẩm chất tốt đẹp của Hê-ra-clét là sự gan dạ, thông minh và một sức khỏe phi thường giành thắng lợi trước những kẻ xấu xa.
Khó khăn đã bắt nguồn từ vấn đề đầu tiên, chàng không biết được vị trí chính xác của cây táo vàng nhà vua cần ở đâu. "Ở biển Đông hay biển Mặt Trời lặn? Ở trong vùng sa mạc cát nóng hay dưới chân những ngọn núi tuyết phủ quanh năm? Người kể thì nhiều nhưng người đi thì xem ra chưa có một ai". Đó chính là khó khăn lớn nhất từ khi chưa bắt đầu, nhưng không nản lòng, chàng bắt đầu cuộc hành trình của mình. Nhưng nguồn gốc của cây táo là của nữa thần Hê-ra, là một nhiệm vụ khó khăn yêu cầu rất lớn đối với những kẻ muốn có được.
Những khó khăn chàng gặp trên đường có thể được kể đến như "giao đấu với hai cha con thần "Chiến tranh A-rét, đi tìm thần biển Nê-rê để hỏi đường", đi lên cực Bắc, băng qua sa mạc,... Khó khăn nhất là khi chiến đấu với tên khổng lồ Ăng-tê. Nhờ hình thể và tấm “bùa hộ mệnh”, hắn không chết và làm cho Hê-ra-clét gặp rất nhiều vất vả. Nhờ vào sơ hở của gã, Hê-ra-clét đã quật ngã và khiến cho Gai-ga không thể bảo hộ gã nữa. Vậy là chỉ với sức một người, Hê-ra-clét đã có thể hạ gục được một vị thần, còn là con trai của nữ thần Đất Mẹ Gai-ga. Chi tiết này giống hầu hết các chi tiết khác trong thần thoại Hy Lạp, người Hy Lạp cổ vươn tới ước mơ về sức mạnh phi thường của loài người có thể sánh ngang với các vị thần.
ADVERTISEMENT
Chân dung vị anh hùng Hê-ra-clét còn được khắc họa qua khía cạnh chàng sở hữu một trái tim hiền lành và tấm lòng nhân hậu. Trên đường đi, chàng gặp phải vị thần Prô-mê-tê, người đã trao cho con người những thứ vũ khí tuyệt vời. Tuy nhiên người lại bị thần Dớt đóng đinh vào núi đá hàng trăm năm mà không hề oán than. Vừa cảm động, vừa phải chứng kiến cảnh tượng tàn nhẫn ấy, Hê-ra-clét đã ra tay giải cứu. Và chính tấm lòng đó của chàng đã khiến thần xúc động và chỉ đường dẫn lối trên hành trình đi tìm quả táo vàng.
Sự nhanh trí của chàng thể hiện ở chi tiết đối phó với thần Át-lát, người đứng về phía các Ti-tăng chống lại thần Dớt. Vậy nên vị thần này bị thần Dớt trừng phạt bằng cách "khom lưng giơ vai chống đội bầu trời". Hê-ra-clét đã nhanh trí khiến cho vị thần vùa đi lấy quả táo vàng cho mình, vừa ứng phó để không phải là kẻ “chịu tội thay” cho thần Át-lát. Sau khi thành công chống lại vị thần và lấy được quả táo vàng, chàng đã nhanh chóng trở về và đem quả táo giao cho nhà vua.
Truyện có nét đặc sắc và độc đáo trong việc xây dựng những hình ảnh về người anh hùng vĩ đại, Bên cạnh đó, những vị thần xuất hiện có tốt, có xấu như sự chứng minh về những tính cách khác nhau của con người trong cuộc sống. Lời kể truyện và cốt truyện vô cùng hấp dẫn, mới lạ khiến cho người đọc bị thu hút và tập trung vào câu chuyện. Cuộc chiến đấu giữa con người, kể cả sức mạnh và trí thông minh con người đều chiến thắng. Đây chính là khát vọng lớn nhất của người Hy Lạp cổ, chinh phục sức mạnh và thiên nhiên.
Khép lại câu chuyện, hình ảnh người anh hùng vẫn sống động trước mắt của người đọc. Thông qua hình ảnh "Hê-ra-clet đi tìm táo vàng", ta còn thấy được những giá trị về tinh thần của người Hy Lạp cổ truyền vào câu chuyện.
Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn - sử thi Ê-đê). (10 mẫu)
Dàn ý
I. Mở bài: giới thiệu nhân vật Đăm Săn
II. Thân bài:
1. Những nét chung của nhân vật Đăm Săn:
- Đăm Săn có vẻ đẹp ngoại hình hoàn mỹ. Theo quan niệm của người Ê đê thì Đăm Săn là nhân vật có vẻ đẹp đáng ngưỡng mộ và tự hào. Chàng có hình dáng vạm vỡ, phi thường khỏe đẹp và đậm chất Tây Nguyên
- Giọng nói của Đăm Săn hào sảng
- Trang phục của Đăm Săn rất uy nghiêm
- Chàng là người nhiều của cải
=> Mang vẻ đẹp tự nhiên, hoang dã
2. Đăm Săn trong trận đấu:
- Đăm Săn chiến đấu với kẻ thù mục đích chính đáng chính là cứu vợ
- Đăm Săn rất anh hùng, không đánh chết kẻ thù
- Đăm Săn chiến đấu vì giữ hạnh phúc gia đình, vì mục đích chính đáng
=> Đăm Săn là một dũng sĩ dũng cảm, sức mạnh phi thường, đáng được ngưỡng mộ.
3. Đăm Săn trở về và tiệc ăn mừng chiến thắng
- Lời đối đáp thuyết phục và sự chấp thuận của dân dàng
- Miêu tả hình ảnh nằm trên võng => ngoại hình mạnh vẽ, sức mạnh: ngang sức voi, hơi thở ầm ầm tựa sấm
=> Vẻ đẹp dũng mạnh của Đăm Săn và sự kính phục của nhân dân với người anh hùng của họ.
III. Kết bài: nêu cảm nhận của em về nhân vật Đăm Săn.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 1
Nhận định về sử thi “Đăm Săn”, nhà nghiên cứu Nhi-cu-lin nhận xét: “Sử thi Đăm Săn là câu chuyện thơ về cuộc đời của người dũng sĩ và những chiến công của chàng. Những người diễn xướng không chỉ ca ngợi thủ lĩnh của bộ lạc là Đăm Săn mà cất lời ca ngợi tất cả những người của cộng đồng - tất cả người làng”. Đây là nhận định hoàn toàn xác đáng, ngắn gọn để thấy được vẻ đẹp phẩm chất, ngoại hình của người anh hùng Đăm Săn.
Trước hết, Đăm Săn mang vẻ đẹp hình thể khỏe mạnh cường tráng. Vẻ đẹp hình thể của chàng không được miêu tả từ đầu đoạn trích, mà chủ yếu tập trung ở cuối đoạn trích, khi ăn mừng chiến thắng trở về. Hình thể cường tráng, vạm vỡ: “Bắp chân chàng to bằng cây xà nàng, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy dầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc: Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ”. Đoạn văn ngắn nhưng tác giả sử dụng hàng loạt biện pháp nghệ thuật so sánh, phóng đại trùng điệp, liên tiếp nhau để làm nổi bật vẻ đẹp hình thể của Đăm Săn. Qua đó thể hiện tình cảm yêu quý, kính trọng và ngợi ca vẻ đẹp của chàng, đồng thời cũng là sự khẳng định vẻ đẹp sức mạnh của cộng đồng.
Không chỉ đẹp về ngoại hình, Đăm Săn còn hội tụ đầy đủ trong mình phẩm chất anh hùng, phẩm chất đó được thể hiện rõ trong trận chiến với Mtao Mxây. Mtao Mxây cướp vợ Đăm Săn trong khi chàng đang đi làm nương cùng bà con trên rẫy. Khi trở về buôn, Đăm Săn dẫn mọi người đến buôn làng của Mtao Mxây để khiêu chiến. Trước thái độ ngạo mạn, khiêu khích của Mtao Mxây: “Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà”, Đăm Săn càng tỏ ra kiên quyết, mạnh mẽ hơn: “Xuống ngay, diêng! Xuống, diêng”. Thái độ của chàng vô cùng dứt khoát, dồn kẻ thù vào cuộc giao đấu, chàng quyết sống chết với Mtao Mxây một trận để phân chia thắng bại. Đăm Săn và Mtao Mxây trải qua hai hiệp đấu. Mỗi hiệp chàng lại hiện lên với một vẻ đẹp khác nhau. Hiệp thứ nhất, chàng múa những đường khiên vô cùng đẹp mắt: “Đăm Săn rung khiên múa. Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía Đông, vun vút qua phía Tây”. Thủ pháp phóng đại đã cho thấy sức mạnh, vẻ đẹp phi thường của Đăm Săn. Càng về sau sức mạnh của Mtao Mxây càng yếu, hắn yêu cầu Hơ Nhị ném cho mình thêm miếng trầu để gia tăng sức mạnh, nhưng Đăm Săn đã nhanh chóng đoạt được miếng trầu, khiến cho sức mạnh của chàng tăng lên gấp bội. Sự xuất hiện của miếng trầu và người vợ có ý nghĩa đặc biệt với Đăm Săn. Hơ Nhị là vợ chính thức của chàng, bởi vậy, miếng trầu ném ra Đăm Săn bắt được chính là tình yêu tiếp sức cho chàng, để Đăm Săn phóng giáo trúng đùi Mtao Mxây. Nhưng áo giáp của Mtao Mxây không thủng, khiến cho Đăm Săn thấm mệt, chàng vừa chạy vừa ngủ và nằm mơ thấy ông Trời. Trong giấc mơ ông Trời đã chỉ ra lý do vì sao chàng chưa chiến thắng được Mtao Mxây và đưa ra giải pháp cho chàng. Ông Trời là nhân vật trở thủ thứ hai giúp đỡ cho chàng, chi tiết này cho thấy cuộc chiến đấu của Đăm Săn là chính nghĩa bởi vậy nên không chỉ nhận được sự ủng hộ của con người mà còn nhận được sự trợ giúp của các thế lực siêu nhiên. Đăm Săn choàng tỉnh và tiếp tục chiến đấu với Mtao Mxây. Cuối cùng chàng đã giành được thắng lợi vẻ vảng, khiến cho Mtao Mxây phải sợ hãi rúc vào chuồng lợn xin hàng. Cuộc chiến với Mtao Mxây càng cho ta thấy rõ sự anh dũng, sức mạnh phi thường của chàng Đăm Săn.
Không chỉ là một anh hùng, Mtao Mxây còn là người có lòng nhân hậu và đức khoan dung. Trong đoạn trích cũng như toàn bộ tác phẩm ta thấy rằng không có chi tiết nào nói về việc Đăm Săn đi cướp bóc của buôn làng khác. Chàng đến buôn làng của Mtao Mxây mục đích là để đòi lại vợ. Sau khi giết chết Mtao Mxây, dân làng không còn ai đứng đầu, họ cần một tù trưởng để dẫn dắt, cần một cộng đồng để chung sống. Bởi vậy, Đăm Săn mới ra lời ướm hỏi và kêu gọi họ: “Ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói! Ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không?”. Chàng còn gõ vào mạch, vào phên từng nhà trong làng. Những cử chỉ hành động đó cũng đủ cho thấy sự chân thành của chàng. Đáp lại sự chân thành đó, dân làng: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Không khí trở về tấp nập, nhộn nhịp, buôn làng của Đăm Săn càng trở nên vững mạnh, giàu có và thịnh vượng hơn.
Ngoài ra, cũng cần thấy rằng Đăm Săn còn là người trọng tình nghĩa, ghi nhớ công ơn tổ tiên và những người đã ngã xuống. Mặc dù đoạn trích không miêu tả cảnh đổ máu, nhưng chắc chắn rằng trong trận đấu đó đã có rất nhiều người ngã xuống. Bởi vậy lễ cúng người mất và thần linh để tưởng nhớ và biết ơn những người đã hi sinh vì nghĩa lớn đã được tổ chức. Lễ vật dâng cúng thần, tổ tiên vô cùng long trọng và hậu hĩnh để cầu sức khỏe, bình yên và sự thịnh vượng. Sau đó lễ ăn mừng chiến thắng cũng diễn ra hết sức long trọng, tưng bừng: tiếng cồng chiêng vang lên khắp nơi, người đến từ bốn phương, chật ních. Ai cũng được đón tiếp long trọng, ăn uống no say thỏa thích.
Xây dựng nhân vật Đăm Săn tác giả dân gian đã sử dụng linh hoạt các biện pháp so sánh, phóng đại để làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh phi thường của chàng. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật hết sức linh hoạt, giàu kịch tính, những câu yêu cầu, mệnh lệnh, lời kêu gọi tạo nên không khí hùng tráng cho toàn bộ thiên truyện.
Qua đoạn trích ta có thể thấy Đăm Săn là một người anh hùng, hội tụ những phẩm chất đẹp đẽ nhất: trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình, chiến đấu không chỉ để cứu vợ mà còn nhằm mục đích cao cả hơn đó là làm cho cuộc sống của mọi người được ấm no, hạnh phúc. Ta có thể thấy Đăm Săn là hội tụ vẻ đẹp, tài năng, sức mạnh và ý chí của cộng đồng, dân tộc.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 2
Từ bao đời nay, người Ê-đê đã cùng quây quần bên bếp lửa, nghe không biết chán từ đêm này sang đêm khác sử thi Đăm Săn, bài ca về người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Trong những chiến công lẫy lừng ấy, ngất ngây lòng người vẫn là đoạn “Chiến thắng Mtao Mxây”, chứng tỏ tài năng, bản lĩnh, lòng dũng cảm phi thường và sức mạnh vô địch của Đăm Săn.
Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây (tù trưởng sắt) đã cướp Hơ Nhị - vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng. Chiến thắng Mtao Mxây là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để giành lại người vợ, chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn, Chàng phải đối mặt với kẻ thù hung bạo và cũng có sức mạnh phi thường không kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy rõ sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mxây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn.
Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng Sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả Mtao Mxây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát: “Ngươi không được đâm ta khi ta đang đi xuống đó, nghe. Đáp lại Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đàng hoàng của mình: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là”.
Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc đối đầu giữa hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát hơn. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài mùa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lạch cạch như tiếng những quả mướp khô, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: Một bước nhảy, chàng vượt qua mấy đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiển rít vù vù như giông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh cũng nghiêng ngả. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trâu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội.
Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mtao Mxây. Khi không còn áo sắt, hắn thật thảm hại và hèn nhát khi lần lượt chạy trốn vào chuồng heo, chuồng trâu, khi sắp chết lại buông ra những lời hèn nhát, ông Trời chỉ đóng vai trò hỗ trợ Đăm Săn, còn chính chàng mới là người kết liễu kẻ thù, đòi lại danh dự, cướp lại người vợ được trời tác thành. Giết Mtao Mxây, chính nghĩa thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng với việc Đăm Săn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của hắn. Quyền sở hữu này là đặc trưng gắn với thời kì chuyển từ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, làm nên vinh quang của người anh hùng. Bởi thế hình ảnh trong sử thi được mô tả với quy mô hoành tráng: mọi người tình nguyện theo Đăm Săn đông như bầy hươu nai, lố nhố như đàn kiến cánh, như bầy kiến đen, như đàn mối trắng. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng - của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng.
Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một tiệc ăn mừng chiến thắng thật kỳ vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu muôn người như một, bời chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng, đem lại sự bình yên cho bến nước buôn làng. Lễ cúng mừng chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: Hãy lấy bảy chung rượu, bảy con trâu đực, bảy con heo thiến để cúng cho Đăm Săn này đã chiến thắng Mtao Mxây, để ta được như cây cổ thụ cao vút. Dấu ấn tâm linh sau chiến thắng cho thấy Trời đứng về phía Đăm Săn. Không khí hội còn náo nức tưng bừng với chiêng trống vang lừng khiên vỡ cả sàn nhà, làm bay mái tranh lợp nhà, con khỉ con vượn mải nghe mà quên đi hái trái cây, những con voi và con tê giác cũng phải lắng nghe mà quên cả cho con bú. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn - tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình đến hành động: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống một cái chiêng, uống rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thấy no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đăm Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trổ sắc bén. Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ, vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế.
Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước, lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật, đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-đê, thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp: một đi không trở lại.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 3
Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây đã cướp Hơ Nhị - vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng. “Chiến thắng Mtao Mxây” là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn. Chàng phải đối mặt với kẻ thù hung hãn và cũng có sức mạnh phi thường ko kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mxây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn.
Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Mtao Mxây hung bạo, du kiêu căng ngạo mạn nhưng cũng phải e dè sự hiện diện của Đăm Săn. Hình ảnh Đăm Săn cùng những người bạn đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với “khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp” cùng khí thế hừng hực “Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường”. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng, Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức “chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào" hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù Mtao Mxây cũng rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp sợ trước Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát “đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé”. Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đường hoàng của mình: “Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng ko thèm đâm nữa là!”.
Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc đối đầu giữa hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài múa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện sự khoác lác khi lời nói của hắn được chứng minh bằng “tiếng khiên lộc cộc, lộp cộp như tiếng mướp đập vào nhau”, còn Đăm Săn đã dập tắt khí nhuệ của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh áy ngang sức mạnh của tự nhiên: “Một bước nhảy, chàng qua mấy đồi tranh... nghiêng ngả”. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt lên Mtao Mxây. Sức mạnh của Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực chàng tăng lên gấp bội.
Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mtao Mxây. Khi không còn giáp sát, hắn thật thảm hại và hèn nhát. Đăm Săn kết liễu kẻ thù trong sự cầu xin một cách nhục nhã của Mtao Mxây. Đòi lại danh dự, giành lại được vợ, chính nghĩa đã thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng việc Đăm Săn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của Mtao Mxây. Hình ảnh trong sử thi được mô tả với quy mô hoành tráng: mọi người tình nguyện theo Đăm Săn “đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến mối”. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng - của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng.
Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một tiệc mừng chiến thắng thật kỳ vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu như một, bởi chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: “Hãy đi lấy rượu bắt trâu! ... Rượu bảy ché, trâu bảy con ... không còn ai bì kịp”. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn - tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình cho đến hành động: “mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống ... không bao giờ thấy no”. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: “Oai linh đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây”. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: “Và người ta bàn tán không ngừng... trong lòng mẹ”. Vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi người anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến như thế.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 4
Đến với đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”, người đọc sẽ thấy được hình ảnh Đăm Săn - một con người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc.
Đăm Săn trong cuộc chiến đấu với Mtao Mxây hiện lên là một võ sĩ dũng cảm, tài năng và có sức mạnh phi thường lấn át cả kẻ thù. Nghe tin vợ mình bị bắt, Đăm Săn tức tốc trở về, đem quan đến đánh Mtao Mxây để cứu vợ. Đăm Săn đã khiêu chiến với Mtao Mxây vì hắn cướp vợ của chàng là Hơ Nhị. Điều này chứng tỏ Đăm Săn là một người coi trọng danh dự cá nhân cũng như danh dự cộng đồng. Khi Đăm Săn đem quân đến, Mtao Mxay luôn tìm cách phòng thủ. Để dụ hắn ra chiến đấu, Đăm Săn liên tiếp đe dọa: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiện của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang… ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hun cái nhà của nhà ngươi”. Nhưng Mtao Mxây lại tìm cách khiêu khích: “Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, vì thực ra hắn đang sợ hãi: “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”. Trước lời đe dọa của Đăm Săn, hắn buộc phải ra chiến đấu.
Liên tiếp ba hiệp đấu diễn ra, hành động của cả hai nhân vật đều được khắc họa rõ nét. Trong hiệp đấu thứ nhất, Mtao Mxây “múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi tây sang bãi đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ”. Còn Đăm Săn thì thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích. Lúc Đăm Săn múa “Một lần xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô. Chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Sự đối lập trong hành động của hai nhân vật đã cho thấy sự yếu đuối của Mtao Mxây và sự khỏe mạnh của Đăm Săn. Hiệp đấu thứ hai trở nên gay cấn hơn khi Đăm Săn trở nên mạnh mẽ hơn nhờ đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp, “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc…”. Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thủng đầu vì bộ áo giáp trên người hắn. Hình ảnh “miếng trầu” cũng giống như một phần thưởng nhỏ của Hơ Nhị để tiếp thêm sức mạnh cho chàng. Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Ông Trời, Đăm Săn tìm ra kế sách để đánh bại Mtao Mxây. Chàng đã giành chiến thắng và cứu được vợ mình. Ông trời chính là đại diện của công lý, cũng là đại diện của sức mạnh trí tuệ. Chàng đã chiến đấu vì mục đích bảo vệ danh dự cá nhân, hạnh phúc gia đình và quan trọng hơn là danh dự và sự bình yên của cộng đồng, thị tộc. Nên chiến thắng là điều tất yếu.
Sau khi kết thúc trận chiến, Đăm Săn kêu gọi binh lính, đầy tớ của Mtao Mxây đi theo mình cùng nhau xây dựng một cộng đồng lớn mạnh hơn. Lời kêu gọi vô cùng chân thành và tha thiết: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai chăn ngựa, hãy đi bắt ngựa. Ai giữ voi, hãy đi bắt voi. Ai giữ trâu, hãy đi lùa trâu về”. Lời kêu gọi ấy đã nhận được sự đồng thuận của dân làng, họ đều cùng chung một mục đích: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. Họ đã về cùng với Đăm Săn: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”.
Khung cảnh ăn mừng chiến thắng kéo dài suốt mùa khô, tù trưởng khắp nơi kéo về. Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả từ ngoại hình đến hành động. Chàng “Nằm trên võng, tóc thả trên sàn, Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang nhiều gươm giáo, đôi mắt long lanh, bắp chân to bằng cây xà ngang…”. Xung quanh mọi người đều tung hô, khen ngợi chiến công của Đăm Săn. Điều đó thể hiện cái nhìn ngưỡng vọng, tô sùng đối với người anh hùng của buôn làng.
Như vậy, hình ảnh người anh hùng Đăm Săn hiện lên trong đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” vô cùng chân thực và sinh động. Chàng chính là đại diện cho vẻ đẹp cũng như sức mạnh của cộng đồng người Ê-đê.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 5
Qua đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”, hình ảnh người anh hùng Đăm Săn hiện lên với vẻ đẹp đại diện cho sức mạnh cộng đồng của người dân Ê-đê.
Đầu tiên là đẹp ngoại hình được miêu tả ở cuối đoạn trích. Hình thể của chàng hiện lên đầy cường tráng, vạm vỡ: “Bắp chân chàng to bằng cây xà nàng, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy dầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc: Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ”. Chỉ vài nét phác họa thôi, nhưng người đọc đã hình dung ra được sự khỏe mạnh, cường tráng của một vị tù trưởng.
Không chỉ vậy, đó còn là vẻ đẹp tài năng thể hiện qua cuộc chiến đấu với Mtao Mxây. Đăm Săn nghe tin vợ bị bắt bởi Mtao Mxây vô cùng giận dữ, đem quân đến nhà Mtao Mxây quyết tâm đòi lại vợ cho bằng được. Khi bước vào trận chiến, vì là người khiêu chiến nên Đăm Săn tỏ ra là một người thông minh, có khí phách và dũng cảm: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang… ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hun cái nhà của nhà ngươi”. Còn Mtao Mxây thì tìm cách khiêu khích: “Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, nhưng thực chất là vô cùng sợ hãi: “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”. Trước liên tiếp những lời đe dọa của Đăm Săn, Mtao Mxây không còn cách nào khác là phải bước vào cuộc chiến.
Cuộc chiến đấu của hai tù trưởng diễn ra qua ba hiệp đấu - con số thường thấy trong mỗi trận chiến. Qua đó khẳng định chiến thắng cuối cùng của Đăm Săn là vô cùng xứng đáng. Trong hiệp đấu thứ nhất, Mtao Mxây “múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi tây sang bãi đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ”. Còn Đăm Săn thì thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích. Lúc Đăm Săn múa “Một lần xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô. Chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Sự đối lập trong hành động của hai nhân vật đã cho thấy sự yếu đuối của Mtao Mxây và sự khỏe mạnh của Đăm Săn. Hiệp đấu thứ hai trở nên gay cấn hơn khi Đăm Săn trở nên mạnh mẽ hơn nhờ đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp, “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc…”. Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thủng đầu vì bộ áo giáp trên người hắn. Hình ảnh “miếng trầu” cũng giống như một phần thưởng nhỏ của Hơ Nhị để tiếp thêm sức mạnh cho chàng. Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Ông Trời, Đăm Săn tìm ra kế sách để đánh bại Mtao Mxây. Chàng đã giành chiến thắng và cứu được vợ mình. Ông trời chính là đại diện của công lý, cũng là đại diện của sức mạnh trí tuệ cũng đứng về phía Đăm Săn - một con người có tinh thần chính nghĩa và uy tín với cộng đồng.
Sau khi kết thúc trận chiến, Đăm Săn đã có những hành động thật đẹp. Chàng kêu gọi binh lính, đầy tớ của Mtao Mxây đi theo mình cùng nhau xây dựng một cộng đồng lớn mạnh hơn. Lời kêu gọi vô cùng chân thành và tha thiết: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai chăn ngựa, hãy đi bắt ngựa. Ai giữ voi, hãy đi bắt voi. Ai giữ trâu, hãy đi lùa trâu về”. Lời kêu gọi ấy đã nhận được sự đồng thuận của dân làng, họ đều cùng chung một mục đích: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. Họ đã về cùng với Đăm Săn: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Khi trở về, tất cả cùng nhau mở tiệc ăn mừng chiến thắng - cuộc vui kéo dài suốt mùa khô, tù trưởng khắp nơi đều kéo về. Điều ấy càng cho thấy sự lớn mạnh, phát triển của buôn làng dưới sự quản lý của tù trưởng Đăm Săn. Qua đó, cũng thấy được Đăm Săn là một người trượng nghĩa và giàu tình yêu thương.
Qua phân tích trên, có thể thấy được vẻ đẹp toàn diện của người anh hùng Đăm Săn: không chỉ đến từ ngoại hình mà còn từ trí tuệ, phẩm chất.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 6
Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây là một trong những đoạn trích tiêu biểu nằm trong chương 34 của bộ sử thi Đăm Săn. Qua đoạn trích, ta không chỉ thấy được sức mạnh cộng đồng, con người Tây Nguyên mà còn cảm nhận được vẻ đẹp uy nghi, hùng tráng của người anh hùng sử thi. Điều đó được thể hiện rõ qua nhân vật người tù trưởng Đăm Săn với chiến công lẫy lừng.
Sức mạnh và tài năng của Đăm Săn trước hết được thể hiện qua cuộc đấu với Mtao Mxây. Cuộc đấu xảy ra khi Đăm Săn nghe tin vợ mình bị bắt, đó là ngòi nổ Mtao Mxây gây ra, Đăm Săn chủ động tới trước chân cầu thang của hắn để thách đấu. Vẻ uy nghi cùng những lời lẽ bản lĩnh, thách thức của chàng khiến Mtao Mxây phải sợ hãi, phân vân " Xuống, giếng! Xuống, giếng!....hun cái nhà của người cho mà xem". Mtao Mxây đành chấp nhận bước xuống trong nỗi lo sợ bị Đăm Săn đâm lén, nhưng đời nào một anh hùng lại làm chuyện tiểu nhân, chỉ có kẻ bỉ ổi mới chực chờ người khác không để ý mà ra tay hành động "Sao ta lại đâm ngươi ta cũng không thèm đâm nữa là". Rõ ràng trong lời nói của Đăm Săn đã thể hiện rõ khí chất của một bậc anh hùng, mạnh mẽ, dứt khoát và quyết liệt. Khác với một Mtao Mxây hèn nhát, tiểu nhân, thích khích bác người khác mà thiếu bản lĩnh. Khi hắn bước xuống với xiêm áo lộng lẫy tựa vị thần, vũ khí sắc bén với gươm óng ánh cầu vồng trong cái dáng vẻ tần ngần do dự, bước đi mà chẳng dám thì cũng là lúc mà hình ảnh Đăm Săn được nổi bật hơn.
Bước vào trận chiến, Đăm Săn nhường cho hắn múa khiên trước, vậy mà hắn tìm cách để ép chàng mua trước bằng lời lẽ hiếu thắng, khoe khoang :" người mới là người múa trước đã gãy mất cánh". Sau cùng hắn vẫn múa trước với những đường múa chán nản, " kêu lạch xạch như quả mướp khô", Đăm Săn vẫn đừng im nhìn hắn mua một cách khinh bỉ. Vậy mà hắn vẫn không thôi khoe khoang những vẻ vang của mình, còn Đăm Săn cứ việc múa những đường gươm đầy điêu luyện, thể hiện một tài năng xuất chúng của mình " Đăm Săn rụng khiên khiên múa vun vút qua phía tây".
Sự đối lập giữa màn đấu kiếm đã cho thấy một Đăm Săn đầy hùng dũng trong chiến trận, một kẻ khó lòng ai có thể vượt qua. Nhìn thấy sức mạnh ấy của chàng, Mtao Mxây phải vội cầu cứu Hơ Nhị nhưng miếng trầu nàng trao lại bị Đăm Săn chụp được, lúc này sức mạnh và sinh lực của chàng càng tăng lên gấp bội. Rồi tiếp tục là những trận múa, những đòn đánh đuổi mạnh mẽ , thần tốc vào kẻ địch " Thế là Đăm Săn lại múa. Chàng đâm vào người Mtao Mxây cũng không thủng". Được sự trợ giúp của ông Trời, Đăm Săn liền dùng chày mòn ném vào vành tai địch, truy đuổi đến cùng , hắn phải van xin cầu phúc, nhưng sự kiện quyết của Đăm Săn đã giết chết hắn, đầu Mtao Mxây bị đem bêu khắp đường.
Chiến thắng Mtao Mxây không chỉ là chiến thắng cá nhân mà còn là chiến công của cộng đồng. Bởi vậy mà khi Đăm Săn kêu gọi mọi người đi cùng đều được nhân dân tin tưởng đi theo "Ơ ngân chim sẻ, ơ vạn chim ngói....chúng ta về nào!". Với những người vô tội, chàng không hề một chút mảy may trách móc, trái lại muốn họ cùng mình xây dựng một cộng đồng giàu mạnh, thịnh vượng hơn. Đó là vẻ đẹp của một tấm lòng lơn, tấm lòng rộng lượng vì nhân dân.
Không chỉ mang vẻ đẹp về tài năng, phẩm chất, ở Đăm Săn còn có cả vẻ đẹp về ngoại hình. Trong bữa tiệc thiết đãi mừng năm mới, Đăm Săn uy nghi và to lớn như một tướng lĩnh thư thái, một dũng tướng hào hùng "Chàng nằm trên võng....ở dưới đất là một cái nông hoa", " Ngực quấn chéo một tấm mền Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ". Đánh tiếng Đăm Săn vang dội khắp mọi miền, đến cả vạn vật sông núi cũng phải kính trọng, nể phục. Cộng đồng trong tay Đăm Săn ngày một phát triển, giàu có chính là nhờ phúc phần và tài năng của vị tù trưởng anh minh.
Đăm Săn qua đoạn trích hiện lên là một người anh hùng đầy đẹp đẽ, một tù trưởng trách nhiệm, bản lĩnh. Hình ảnh Đăm Săn giúp em thêm tự hào hơn về lịch sử dân tộc, tin tưởng vào sức mạnh của chính nghĩa và cố gắng hoàn thiện, xây dựng bản thân mỗi ngày cả về trí tuệ và thể chất, xứng đáng là một " tù trưởng" của xã hội mới hôm nay, xây dựng và cống hiến cho đất nước giàu mạnh.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 7
Sử thi là một thể loại văn học độc đáo, Việt Nam ta đã sưu tầm được khá nhiều bộ sử thi có giá trị từ các dân tộc thiểu số như Mường, Thái và các dân tộc anh em ở Tây Nguyên. Song song với văn hóa cồng chiêng thì sử thi cũng là một di sản văn hóa phi vật thể mang tầm thế giới, cần được bảo tồn và phát huy hơn nữa. Chiến thắng Mtao Mxây là một đoạn trích ngắn trong bộ sử thi khá nổi tiếng Đăm Săn của đồng bào Tây Nguyên, kể về một trong những chiến công lẫy lừng của người anh hùng Đăm Săn.
Sử thi là một thể loại văn học có dung lượng rất đồ sộ, từ vài nghìn câu tới hàng vạn câu, tái hiện được những nội dung mang tầm vóc lớn lao. Thuộc loại hình tự sự dân gian. Khi xây dựng nhân vật hình tượng của sử thi thì thường là nhân vật có tầm vóc phi thường, có nhiều chiến công kỳ tích, hào hùng, là niềm tự hào cho cả dân tộc. Sử thi có thể được kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, giọng điệu tráng lệ. Có hai loại là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng.
Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nằm trong chương 34 của sử thi Đăm Săn, kể về một trong những chiến công nổi bật nhất của Đăm Săn trong cuộc chiến với tù trưởng trưởng Sắt Mtao Mxây, để giành lại vợ, đồng thời mở rộng lãnh thổ, đất đai. Hình tượng người anh hùng Đăm Săn được xây dựng một cách đẹp đẽ và hùng tráng.
Đầu tiên hình tượng nhân vật Đăm Săn hiện lên trong trận chiến đấu với Mtao Mxây. Trước khi cuộc chiến bắt đầu, Đăm Săn sau khi nghe tin vợ mình là Hơ Nhị bị bắt đi đã rất tức giận. Chàng đã đến tận chân cầu thang của nhà Mtao Mxây, để gọi kẻ thù ra khiêu chiến, để trả thù. Nhưng ngược lại với sự dũng cảm, thiện chiến của Đăm Săn thì Mtao Mxây lại sợ hãi, nhút nhát trước sự hùng hổ của Đăm Săn mà không dám bước xuống để đối mặt, chỉ đến khi bị Đăm Săn dọa phá nhà thì hắn mới dám xuống. Mtao Mxây bước xuống với phục trang lộng lẫy, bệ vệ nhưng dáng điệu lại tần ngần, do dự không có khí thế của một vị anh hùng.
Đăm Săn đã có những lời khiêu chiến "Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy", với kẻ thù nhưng không được đáp ứng, thậm chí còn bị trêu tức "Tay ta đang còn bận ôm vợ hai của chúng ta ở trên nhà này cơ mà". Vì lẽ đó Đăm Săn càng nổi giận hơn, lời của chàng trở nên giục giã và mang tính đe dọa, đòi bổ đôi sàn hiên, cầu thang, đốt nhà Mtao Mxây. Mtao Mxây sợ hãi đành phải xuống, nhưng không quên nhắc nhở Đăm Săn không được làm hại mình. Thấy vậy Đăm Săn đã khẳng khái khẳng định sẽ không làm trò đánh lén, kèm theo đó là trạng thái khinh bỉ dành cho sự nhút nhát của Mtao Mxây. Đăm Săn ngầm so sánh kẻ thù với những con lợn nái, con trâu của nhà hắn mà chàng không thèm đâm, không thèm để vào mắt. Qua những lời thoại và hành động thẳng thắn như vậy, ta có thể thấy được Đăm Săn là một con người đàng hoàng, luôn trong thế chủ động, mang trong mình tinh thần thượng võ của một người anh hùng. Còn Mtao Mxây thì lại là kẻ yếu đuối nhát gan, chỉ biết làm trò lén lút, châm chọc, ghen ăn tức ở, ỷ mạnh ăn hiếp phụ nữ, không xứng là một đấng nam nhi.
Trước lời khiêu khích, thách đấu của Đăm Săn, Mtao Mxây buộc phải chấp nhận thách đấu, tại cuộc chiến ta lại càng hiểu rõ về con người của chàng Đăm Săn. Cuộc chiến gồm có 4 hiệp, trong hiệp 1 Đăm Săn đã yêu cầu Mtao Mxây múa khiên trước nhưng Mtao Mxây lại tìm mọi cách để đùn đẩy, tự nhận mình còn non yếu, không dám múa trước. Tuy nhiên cuối cùng hắn vẫn phải múa trước, còn Đăm Săn đứng yên không nhúc nhích. Trong đôi mắt của Đăm Săn, Mtao Mxây múa khiên lạch xạch như một quả mướp khô, thậm chí chàng còn có chút khinh bỉ, hài hước hỏi: "Miếng múa ấy ngươi học ai vậy? Ngươi múa chơi đấy phải không, ơ diêng?" . Tuy nhiên Mtao Mxây không hề biết xấu hổ, lại còn khoe khoang những chiến tích chẳng biết có thật hay không của mình. Còn Đăm Săn lại rất khiêm tốn, thật thà, không khoe khoang gì cả.
Trong hiệp 2 đến lượt Đăm Săn rung khiên múa, chàng múa vừa khỏe, vừa đẹp, vừa dũng mãnh, lại nhanh nhẹn phóng qua đồi tranh, đồi lồ ô, khiến cho Mtao Mxây phải chật vật khó khăn bước cao bước thấp đuổi theo từ bãi này tới bãi kia, đầy thảm hại. Sự kém cỏi của Mtao Mxây càng thể hiện khi hắn phản đòn mà chẳng chém nổi kheo chân của Đăm Săn thay vào đó là cắm phập vào cái chão cột trâu. Đăm Săn lại càng thêm coi thường hắn, mà hỏi chế giễu: "Sao ngươi lại chém cái chão cột trâu? Còn kheo chân ta ngươi dành làm gì?", nhân vật Mtao Mxây lại càng trở nên hài hước hơn.
Trong hiệp ba vì cay cú Mtao Mxây yêu cầu Hơ Nhị ném trầu cho ăn nhưng trớ trêu hắn lại chẳng bắt trúng mà bị Đăm Săn nhanh tay chụp được, chàng ăn rồi thì sinh lực tăng lên bội phần. Lúc này đây Đăm Săn nhường cho Mtao Mxây chạy trước để chàng đuổi. Chàng múa khiên, "múa trên cao gió như bão", "múa dưới thấp gió như lốc", múa đến mức đồi tranh bật rễ, núi phải nứt vỡ, điều đó càng khẳng định cái tài năng và sức mạnh phi thường của người anh hùng Đăm Săn. Rồi thì chàng nhanh nhẹn ra những đòn tấn công mạnh mẽ, trực diện vào đùi, vào người Mtao Mxây nhưng do hắn mặc giáp sắt nên không hề hấn gì. Một chi tiết rất ấn tượng đó là khi đã thấm mệt Đăm Săn đã thấm mệt, chàng vừa chạy vừa ngủ, rồi mộng thấy ông, được ông trời chỉ cho cách bại Mtao Mxây. Chi tiết này đã minh chứng cho quan điểm ở hiền gặp lành, người tài giỏi chính trực chắc chắn được thần phật giúp đỡ để đánh bại cái ác. Kết thúc trận chiến, khi Mtao Mxây đã đại bại, Đăm Săn truy sát đến tận cùng, không để cho tên này sống sót dù hắn đã van xin được nộp cống phẩm để thoát chết. Nhưng Đăm Săn đã quyết tiệt chặt đầu Mtao Mxây, phòng trừ hậu họa về sau.
Hình tượng của Đăm Săn còn hiện lên trong cảnh dẫn nô lệ về sau chiến thắng. Thông thường sau khi giết thủ lĩnh, thì tôi tớ của kể đó chắc chắn cũng bị tàn sát để diệt trừ hậu họa, tránh rắc rối về sau này. Nhưng ở Đăm Săn lại khác, ở chàng toát lên chí khí của người anh hùng dũng mãnh cũng lại độ lượng, không lạm sát người vô tội mà tìm cách quy hàng họ. Đây cũng là lối ứng xử đầy cao đẹp của người anh hùng thời bấy giờ. Sau khi dẫn nô lệ về, Đăm Săn lại cho mở tiệc mừng, mổ trâu mổ bò, tiếng chiêng trống rầm rộ. Bạn bè khách khứa nhiều vô kể, chàng hiếu khách, trò chuyện không biết mệt. Điều ấy càng thể hiện cái danh tiếng và chí khí tốt đẹp của người anh hùng Đăm Săn đã vang danh khắp chốn. Chàng là hiện thân của phe chính nghĩa, đem lại cuộc sống no đủ cho dân của buôn làng mình, đem lại cho dân làng cảnh trù phú giàu có mà trước đây chưa từng ai làm được bao giờ.
Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây trích trong sử thi Đăm Săn đã cho chúng ta một cách nhìn ấn tượng và mới lạ về hình tượng người anh hùng Đăm Săn trong công cuộc chiến đấu với kẻ thù để giành lại vợ, đồng thời cũng thể hiện được được cái bản lĩnh mạnh mẽ, chính nghĩa của Đăm Săn đã đem lại bình yên cho buôn làng, đem lại nhiều của cải, đem lại sự giàu có và trù phú. Đồng thời cách cư xử và tính cách của chàng xứng đáng là một tù trưởng thống lĩnh cả một buôn làng hùng mạnh. Đoạn trích còn giáo dục cho con người quan điểm chính luôn chiến thắng tà, người tốt sẽ luôn được thần phật giúp đỡ.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 8
Người anh hùng sử thi là trọng tâm miêu tả của bức tranh hoành tráng. Tầm vóc lẫn chiến công của chàng trùm lên toàn bộ chiến công, toàn bộ thiên nhiên và xã hội Ê-đê. Trong quan niệm của người dân tộc Ê-đê, cuộc chiến từng đóng vai trò là “bà đỡ lịch sử” khiến cho cộng đồng ngày càng phát triển, ngày càng có cuộc sống ấm no, thịnh vượng. Trong sự phát triển ấy, người anh hùng có vị trí hết sức lớn lao tầm cỡ. Sau mỗi chiến công của người anh hùng là một lễ ăn mừng hoành tráng của cộng đồng để suy tôn, ca ngợi cũng như thể hiện niềm vui về sự no đủ, đông đúc mỗi ngày.
Sau chiến thắng oanh liệt trước tù trưởng Mtao-Mxây, Đăm Săn đã trở thành người anh hùng giàu có, hùng mạnh nhất. Tôi tớ theo về “đặc như bầy cà tông”, của cải đưa về “nhiều như ong đi chuyển nước”. Tràn ngập trong niềm vui, Đăm Săn đã cho toàn bộ tộc ăn mừng chiến thắng. Tiếng tuyên bố mở hội dõng dạc vang vọng của chàng khiến cho khắp rừng núi âm vang trong không khí háo hức. Cả cộng đồng người Ê-đê và người Ê-ga được tái hiện sinh động đầy sức sống. Và sừng sững trong xã hội ấy, là nét đẹp vừa hoành tráng, vừa lãng mạn của người anh hùng Đăm Săn.
Nét đẹp được ghi nhận trước tiệc của Đăm Săn trong lễ ăn mừng chính là nét đẹp về ngoại hình và sức mạnh. Chàng được miêu tả với vẻ đẹp và sức mạnh của một vị thần. Người Ê-đê, Ê-ga ca ngợi Đăm Săn là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước. "Mình quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như chim, bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức tràng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy dầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc". Bằng nghệ thuật miêu tả, so sánh gần gũi, cụ thể với nhiều chi tiết hết sức sinh động, kết hợp với nghệ thuật trì hoãn sử thi và cách nói phóng đại sử thi, người dân Tây Nguyên đã biến người anh hùng của họ thành một vị thần với tất cả sức mạnh hội tụ từ núi rừng, vũ trụ. Sức mạnh của chàng được so sánh với những gì mạnh nhất, đẹp nhất của thiên nhiên.
Vốn ngang tàng từ trong bụng mẹ, trải qua bao cuộc chiến, Đăm Săn đã lớn lên và trở thành chiến thần. Chàng có tất cả vẻ đẹp cũng như sức mạnh của thần linh qua trí tưởng tượng bay bổng kì diệu và lòng mến yêu vô hạn của người Tây Nguyên. Không chỉ có sức mạnh dũng mãnh chàng còn có vẻ đẹp lãng mạn: “Chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa, đầu đội khăn nhiễu, vai mang mũ hoa, chàng ăn không biết no, uống không biết say, trò chuyện không biết chán”. Toát lên từ câu chữ một chàng Đăm Săn hòa đồng vui vẻ. Không hề phân biệt địa vị cao thấp giàu hèn. Đăm Săn là biểu tượng cho hài hoà giữa cái đẹp dữ dội của núi rừng, vũ trụ với cái đẹp êm ả lãng mạn của tâm hồn người Tây Nguyên. Cái đẹp ấy vừa có sự cao cả, kì vĩ của người anh hùng lại vừa có nét kì diệu, đậm đà bản sắc Tây Nguyên.
Không chỉ hiện lên với vẻ đẹp của sức mạnh và hình thể, Đăm Săn còn hiện lên trong lễ ăn mừng, ở vẻ đẹp của lòng tôn kính tổ tiên, thần linh, lòng hiếu khách, một tâm hồn thuỷ chung, phóng khoáng rộng rãi. Sau chiến thắng, Đăm Săn không quên sai tôi tớ làm lễ cảm tạ tổ tiên và thần linh đã giúp cho chàng chiến thắng, đã giúp bộ tộc của chàng ngày một vững mạnh giàu có. "Ơ các con, ơ các con, hãy đi lấy rượu bắt trâu, rượu năm ché, trâu bảy con để dâng thần, rượu bảy chém, lợn thiến bảy con cầu cho ta được bình yên vô sự, nạn khỏi tai qua, lớn lên như sông nước, cao lên như cây rừng, không còn ai bì kịp”. Cách Đăm Săn sai tôi tớ sắm đồ lễ cúng tế chứng tỏ lòng thành kính sâu sắc với thần linh, tổ tiên của chàng. Nó cũng chính là tiếng nói tín ngưỡng của cả cộng đồng dân tộc Ê-đê.
Sau khi làm lễ tạ khấn thần linh, tổ tiên Đăm Săn đã mời tất cả anh em, bạn bè, tôi tớ ăn uống: “Hỡi anh em trong nhà, hỡi bà con trong làng, xin mời tất cả đến với ta, chúng ta sẽ mở tiệc ăn mừng năm mới…”. Tiếng mời chào sang sảng như chính tấm lòng hào hiệp của chàng Đăm Săn. Chàng đã thiết đãi bạn bè, dân làng bằng những vật chất đầy đủ sang trọng, bằng niềm vui thân ái, khiến cho “cả một vùng nhão ra như nước” vui tới mức “lươn trong hang, giun trong bùn, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm trên cao sưởi nắng, ếch nhái dưới gầm nhà, kì nhông ngoài bãi thì kêu inh ỏi suốt ngày đêm”. Bạn bè của chàng đông đúc: “Các cô gái đi lại vú đụng vú, các chàng trai đi lại ngực đụng ngực”. Không khí ăn mừng như thế này bây giờ mới có. Bởi bây giờ người Ê-đê mới có người thủ lĩnh anh hùng dũng cảm, hào hiệp đến thế. Đó chính là niềm tự hào sâu sắc của người dân Ê-đê về vị tù trưởng Đăm Săn.
Cách xây dựng hình tượng đẹp đẽ lớn lao của người anh hùng trong không khí đông vui nhộn nhịp, lớn mạnh của cộng đồng là một đặc điểm nổi bật của sử thi Tây Nguyên. Người anh hùng sử thi được toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đối. Qua người anh hùng ta thấy được sự phát triển, ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê-đê – một biểu hiện quan trọng của ý thức dân tộc.
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 9
Trong quá trình lao động sản xuất nhân dân ta đã sáng tác được ra những câu chuyện những tác phẩm tuyệt vời kể về cuộc đời, số phận chiến công của các tù trưởng anh hùng như Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, …được đánh giá cao và có tầm ảnh hưởng lớn đối với người đọc.Truyện Đăm Săn là một tác phẩm như thế và đây cũng là một trong những tác phẩm sử thi của dân tộc Ê đê Tây Nguyên và là một trong những tác phẩm hay nhất trong kho tàng dân tộc Việt Nam. Tác phẩm nói về người tù trưởng mang tên Đăm Săn cũng chính là câu chuyện về cộng đồng thị tộc Ê đê trong buổi đầu lịch sử. Đoạn trích "Chiến thắng Mtao-Mxây" đã xây dựng thành công hình tượng người anh hùng Đam San có vẻ đẹp toàn diện từ ngoại hình, lời nói, hành động đến nhân cách và lí tưởng sống.
Sử thi là thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian, có quy mô lớn, ngôn ngữ có vần nhịp, hình tượng hào hùng hoành tráng, kể về những biến cố trọng đại của cộng đồng, lưu truyền bằng phương thức hát –kể khan.Sử thi có hai loại là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng. Sử thi Đam San là sử thi anh hùng tiêu biểu nhất của các dân tộc Tây Nguyên.Tác phẩm đã tái dựng lại đời sống đầy biến động của cộng đồng người Ê đê cổ đại qua hàng loạt những chiến công của người anh hùng Đăm Săn : đánh thắng các tù trưởng Sắt, Kền Kền, mở mang buôn làng, chặt cây Smuk, bắt ông Trời phải làm theo mình, chinh phục nữ thần mặt trời. Đoạn trích Chiến thắng Mtao-Mxây ( SGK Ngữ văn 10 ) nằm ở giữa tác phẩm, kể về chiến công Đăm Săn đánh thắng tù trưởng Sắt cứu vợ, bảo vệ thành công sự ấm no, hòa bình của buôn làng. Trong Đoạn trích, Đam San đã tỏ rõ mình là người anh hùng qua việc khiêu chiến, giao chiến trong bốn hiệp, chiến thắng Mtao-Mxây, thuyết phục tôi tớ Mtao-Mxây theo mình và ăn mừng chiến thắng.
Trước hết, Đam san là người có vẻ đẹp ngoại hình hoàn mỹ theo quan niệm của người Ê đê cổ đại.Vẻ đẹp của chàng được miêu tả bằng những mĩ từ trang trọng, giọng điệu sùng kính, thái độ ngưỡng mộ, tự hào. Đam San có giọng nói hào sảng, vang động khi ra lệnh cho tôi tớ chuẩn bị lễ vật cúng thần, mời tất cả buôn làng, ra lệnh đánh chiêng trong khắp buôn.Chàng có hình dáng phi thường, vạm vỡ, khỏe đẹp, đậm chất tự nhiên Tây Nguyên.Tóc chàng dài thả xuống đầy cái nong hoa ; bắp chân to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ, sức ngang sức voi đực, hơi thở ầm ầm tựa sấm, mắt long lanh như chim ghếch ăn hoa tre.Trang phục của chàng oai nghiêm, thể hiện sức mạnh, uy quyền và sự giàu có: ngực quấn chéo một tấm mền chiến, khoác tấm áo chiến, có đủ gươm giáo. Chàng nhiều của cải, sung túc, có chiêng đồng, voi bầy, lá nhiều, bạn bè như nêm như xếp, các tù trưởng khác khiêng lễ vật đến kết thân, cả thần linh cũng biết tiếng tăm của chàng. Chàng là niềm tự hào của cả bộ tộc.Vẻ đẹp của chàng hoang dã, gần tự nhiên.Sự giàu có, phồn vinh của chàng cũng là sự hùng mạnh của buôn làng.
Trong cuộc giao chiến, tài năng, phẩm chất anh hùng của Đam San thể hiện rõ nhất trong cuộc giao chiến với Mtao-Mxây, trong tư thế đối lập hoàn toàn với kẻ thù. Đam San chiến đấu với Mtao M xây nhằm mục đích chính đáng là cứu vợ bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ danh dự cá nhân và cộng đồng, bảo vệ giữ gìn sự bình yên, phồn thịnh của buôn làng, đều là lẽ đúng, đứng ở bên chính nghĩa.
Khi giao chiến, Đăm Săn được miêu tả trong thế so sánh với Mtao M xây.Tác giả dân gian thường miêu tả Mtao M xây trước để làm nền tôn vinh tài năng, sức mạnh của Đam San. Cuộc chiến diễn ra trong bốn hiệp.Hiệp 1, Đam San Đam San nhường kẻ thù múa khiên trước ; hiệp 2 : cả hai cùng múa khiên, Mtao M xây chém trượt Đam San ; hiệp 3 Đăm Săn đớp được miếng trầu của vợ, đam trúng Mtao M xây nhưng hắn không chết ; hiệp 4 : ông Trời mách nước Đăm Săn giết được kẻ thù .Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của mơ-tao Mơ-xây. Đam San chủ động tự tin khiêu chiến, đến tận chân cầu thang nhà Mtao M xây thách đấu mặc dù kẻ thù có lợi thế đất nhà, giàu có, được trang bị vũ khí tinh xảo, có bề ngoài uy nghi đáng sợ.Tù trưởng Sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khói màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực "Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường".
Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đam Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả mơ-tao Mơ-xây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đam Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát "đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé". Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đàng hoàng của mình: "Tao không thèm đâm mày trước lúc mày xuống! Ngay con heo nái nhà mày tao cũng có thèm chém đâu!".
Trong cuộc giao chiến, bất cứ lúc nào Đăm Săn cũng tỏ ra chủ động, tự tin, bình tĩnh, dũng mãnh, chiến đấu kiên cường, hành động kiên quyết. Chàng múa khiên rất khỏe, đẹp, nhanh : một lần xốc tới vượt một đồi tranh, một lần xốc tới vượt một đồi lồ ô, vun vút qua phía đông, phía tây ; múa khiên như gió bão gió lốc, khiến chòi lẫm đổ lăn lóc, cây cối chết rụi, khiến ba lần quả núi rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung. Nghệ thuật cường điệu đã cho thấy sức mạnh và tài năng phi thường của Đăm Săn.
Đam Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý.Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Sang hiệp thứ hai hắn đã đuối sức và cầu của Hơ Nhị ném cho hắn một miếng trầu nhưng cô đã không ném cho hắn mà ngược lại là dành cho chồng. Nhận được miếng trầu từ tay vợ sức mạnh của Đăm Săn càng tăng lên gấp bội chàng múa khiên như gió bão như lốc "núi ba lần rạn nứt ba đồi tranh bật rễ" cây giáo thần của Đăm Săn nhằm vào đùi, vào người Mtao-Mxây mà phóng tới, mà đâm vào nhưng không thủng. Trận chiến đã lên đến đỉnh điểm khiến Đăm Săn thấm mệt. Bước sang hiệp giao đấu thứ hai, Đăm Săn vừa chạy, vừa mộng thấy ông trời, rồi được ông trời chỉ dẫn. Sáng tạo nên chi tiết kì ảo thú vị này, tác giả dân gian đã huyền thoại hóa người anh hùng sử thi để ca ngợi của chàng.
Việc Đăm Săn được ông trời giúp đỡ không hạ thấp tài năng của chàng mà trái lại càng tăng thêm thanh thế uy danh của Đăm Săn. Nó chứng tỏ cuộc chiến của chàng là cuộc chiến chính nghĩa nên được thần linh trợ giúp. Tuy nhiên, ông trời cũng chỉ là người mách nước còn quyết định vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào hành động trực tiếp của Đăm Săn. Bừng tỉnh sau lời "cố vấn" của ông trời, Đăm Săn càng nhanh nhẹn, quyết liệt và dứt khoát. Nhanh như chớp chàng "chộp ngay...kẻ địch" khiến cho "cái giáp của Mtao-Mxây...loảng xoảng". Hắn thảm bại, chạy trốn cầu xin Đăm Săn nhưng Đăm Săn không hề khoan nhượng. Chàng kể tội, kết án kẻ thù rồi "đâm phập...ngoài đường". Hành động đó của chàng không hề thể hiện Đăm Săn là một kẻ dã man ,khát máu, nó là lối hành xử quen thuộc, thường thấy ở các thủ lĩnh anh hùng thời cổ đại khi kẻ thù xúc phạm tới danh dự, điều thiêng liêng, cao quý nhất của họ.
Trái hẳn với Đam San, Mtao-Mxây rất kém cỏi, hèn nhát.Lúc đầu hắn huênh hoang tự nhận mình là học trò của thần Rồng là tướng chuyên đi xé nát đất thiên hạ nhưng khi giao chiến thì hắn múa khiên lạch xạch như quả mướp khô, được nhường đánh trước thì đâm trượt Đam San, khi yếu thế thì chạy trốn quanh chuồng lợn, chuồng trâu, khi bị thua thì cầu xin giữ lại tính mạng. Trong đoạn giao chiến, Đăm Săn hiện lên là người anh hùng tài giỏi, quả cảm, giàu tinh thần thượng võ, Đam San chính là kết tinh sức mạnh ,vẻ đẹp, y chí, khát vọng của cả cộng đồng .Ngôn ngữ tả hành động chiến đấu của Đăm Săn giàu nhịp điệu, hình ảnh, chất thơ, sử dụng nhiều phép so sánh cường điệu, liệt kê trùng điệp dày đặc.
Sau khi chiến thắng, Đăm Săn không tiến hành giết chóc đẫm máu mà thuyết phục, kêu gọi tôi tớ của Mtao m xây theo chàng.Thái độ kêu gọi của chàng rất nhiệt thành, tận tình, vồn vã, thuyết phục ba lần, chàng trực tiếp đến gõ cửa từng nhà để kêu gọi. Lời kêu gọi thể hiện l tưởng anh hùng của Đam San : thống nhất các buôn làng, khát vọng hòa bình, phồn vinh, giàu mạnh, thống nhất lợi ích cá nhân chàng và lợi ích của cả buôn làng.Đáp lại lời kêu gọi của Đam San, tôi tớ của Mtao M-xây nô nức đem theo của cải về với chàng.Điều đó thể hiện uy tín của Đam San với cộng đồng, khát vọng hòa bình, giàu mạnh của chàng phù hợp với nguyện vọng chung của dân làng cũng như người Ê đê cổ đại.
Kết thúc trận đấu chàng về bản tổ chức ăn mừng. Lễ ăn mừng chiến thắng là một chuỗi những ngày hội dài "kéo dài hết mùa khô" và được tổ chức: linh đình và sang trọng; đông vui, nhộn nhịp; với đầy đủ phong tục tập quán của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình đến hành động: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống một cái chiêng, uống rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thấy no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: "Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây".
Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: "Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đam Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trổ sắc bén…Đam Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ". Vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế! Và lần ăn mừng bấy giờ cũng là khúc khải hoàn ca của bộ tộc Đăm Săn cho ta thấy sự phát triển, giàu có, hùng mạnh của bộ tộc Đăm Săn sau khi chàng giành chiến thắng. tô đậm và khắc sâu ý nghĩa thời đại của chiến tranh bộ tộc trong sự phát triển của cộng đồng.
Với ngôn ngữ trang trọng giàu hình ảnh giàu nhạc điệu cùng phép so sánh và cường điệu độc đáo, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh, chất thơ, nhạc điệu, lời kể hấp dẫn qua chiến công của Đăm Săn tác phẩm đề cao hình tượng oai phong dũng mãnh đề cao tài năng đề cao hạnh phúc gia đình tha thiết với cuộc sống phồn vinh bình yên của cộng đồng của người anh hùng Đăm Săn qua đó làm nổi bật phẩm chất khát vọng cao đẹp của người xưa.
Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-Đê, thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp "một đi không trở lại".
Phân tích nhân vật Đăm Săn - Mẫu 10
Văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh những bài ca dao trữ tình sâu lắng, bên cạnh những làn điệu chèo mượt mà làm mê đắm lòng người... còn có những áng sử thi hào hùng thể hiện sức mạnh và trí tưởng tượng tuyệt vời của con người. Người anh hùng Đăm Săn trong sử thi Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây đã để lại trong lòng người đọc lòng yêu mến, khâm phục xen lẫn niềm tự hào về vẻ đẹp của sức mạnh thể chất, trí tuệ và tâm hồn cha ông tiên tổ của mình.
Đăm Săn là một tù trưởng giàu có và đầy sức mạnh. Bị Mtao Mxây cướp mất vợ, lòng tự trọng của một người con núi rừng, lòng tự trọng của một người tù trưởng đã cho chàng sức mạnh để đến nhà Mtao Mxây thách chiến. Trong cuộc chiến gay cấn và khốc liệt ấy, lòng dũng cảm, sự mưu trí và sức mạnh thể chất phi thường của người anh hùng Đăm Săn khiến bất cứ ai cũng cảm thấy khâm phục.Mtao Mxây cũng là một tù trưởng giàu có và mạnh mẽ. Chính Đăm Săn cũng cũng thừa nhận Ngôi nhà của lão tù trưởng nhà giàu này trông quả thật là đẹp và trông hắn dữ tợn như một vị thần. Với một tù trưởng như vậy, giao chiến với hắn ngoài chiến trường đã là một khó khăn, giao chiến tại nhà của hắn lại là một thử thách lớn hơn. Nhưng Đăm Săn đã dám “vào hang cọp” để đòi lại người vợ, đòi lại danh dự của mình. Chàng đến nhà Mtao Mxây thách thức “ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, rồi hết lời khinh bỉ, mỉa mai cốt dụ hắn ra khỏi nhà để giao chiến. Sự can đảm đó thật hiếm có.
Con người chàng cũng thượng võ vô cùng. Kẻ thù không dám xuống thang bởi lẽ hắn sợ chàng đâm khi đang đi xuống. Khi Mtao Mxây đi xuống thang chính là lúc hắn sơ hở nhiều nhất. Những kẻ cơ hội, hèn hạ thường lợi dụng lúc ấy để tấn công kẻ thù (bản thân Mtao Mxây có lẽ cũng là một kẻ như vậy, nếu không tại sao hắn nghĩ đến việc Đăm Săn sẽ làm như vậy với hắn). Nhưng Đăm Săn thì khác. Chàng nói: “đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là, đến con trâu của nhà ngươi trong chuồng ta cũng không thèm đâm nữa là”. Tinh thần ấy chỉ có thể có ở một tâm hồn cao thượng và một sức mạnh vững vàng.
Bước vào trận chiến, người đọc lại càng thêm khâm phục tài năng và sức mạnh của vị tù trưởng đầu đội khăn kép, vai mang túi da này. Trong khi Mtao Mxây múa khiên lạch xạch như quả mướp, hắn lại được cậu, được bác, được Thần Rồng dạy múa khiên đánh võ thì Đăm Săn tự học tất cả. Vậy mà chàng đã tự rèn cho mình một sức mạnh và tài năng làm trời long núi lở. Đăm Săn múa khiên một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh... vượt một đồi lồ ô, chàng chạy vun vút... Chàng không chỉ mạnh mẽ về thể chất mà còn nhanh trí vô cùng. Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho miếng trầu, hắn chưa kịp đớp lấy Đăm Săn đã nhanh hơn đón được từ đó sức mạnh của chàng tăng lên gấp bội. Người anh hùng toàn tài toàn trí không khỏi khiến lòng ta trầm trồ thán phục.
Sự tài giỏi, trí lực của Đăm Săn không chỉ được người người yêu mến. Con người ấy còn được thần linh hết lòng giúp đỡ. Sự thần thánh hoá chi tiết Đăm Săn được Trời giúp diệt Mtao Mxây cũng chỉ là một cách để bày tỏ lòng yêu mến con người phi phàm này.Giết chết Mtao Mxây, Đăm Săn không giết chóc thêm ai. Chàng thể hiện sự đôn hậu, nhân ái trong tiếng gọi tôi tớ kẻ thù về với mình. Kẻ mạnh thường khiến người khác phải sợ nhưng ở đây, trong đoạn trích này, sức mạnh của Đăm Săn lại được yêu mến. Bởi ở Đăm Săn không chỉ có sức mạnh của thể chất mà còn ánh lên vẻ đẹp của sức mạnh trong tâm hồn.
Ở những người anh hùng ngoài chiến trận, sa trường thường toát lên vẻ gân guốc, khô khan và cứng nhắc. Nhưng đến với Đăm Săn ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú với vẻ ngoài vừa mạnh mẽ vừa đẹp đẽ của chàng. Mình chàng quấn tấm mền chiến, khoác áo chiến. Chân chàng bắp bằng xà ngang, đùi bằng ống bễ. Mắt chàng sáng long lanh - ánh sáng của trí tuệ, của sức mạnh, của lòng dũng cảm. Và có một chi tiết rất ấn tượng tóc (chàng) thả dài trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa'. Bên cạnh cái đẹp của sự gan góc, can trường ở Đăm Săn vẫn có những nét thật mềm mại, đáng mến.
Yêu mến, khâm phục vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn khiến ta thấy tự hào, trân trọng hơn về cha ông, về quá khứ của tổ tiên người Ê đê. Hình ảnh của những Đăm Săn, Xinh Nhã... đã đứng dậy một thời kì xa xưa âm vang tiếng cồng chiêng, vang vọng tiếng voi gầm... và vang dội tiếng những con người anh hùng đi mở đất cho cộng đồng, dân tộc.
Phân tích Đăm Săn hay nhất - Mẫu 11
Sử thi là một thể loại hay trong văn học Việt Nam, nó đã bộc lộ rõ những hình ảnh thể hiện những chi tiết hào hùng và mạnh mẽ nhất trong dân tộc, những anh hùng dân tộc nổi bật và làm nên những trang lịch sử vẻ vang đó là người anh hùng Đăm Săn.
Đăm Săn là người anh hùng của dân tộc sử thi, những hình ảnh của người anh hùng này đã hiện lên mạnh mẽ trong tác phẩm, các hình ảnh đó không chỉ đem lại cho con người nhiều những hình ảnh mạnh mẽ nhất cho dân tộc của mình. Người anh hùng của dân tộc đã hiện lên mạnh mẽ và nó tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của những người dân ở đây, những hình ảnh trong dân tộc không chỉ để lại những hình ảnh sâu sắc nhất. Chi tiết ở đầu câu chuyện dẫn đến làm nổi bật người anh hùng này đó là Hơ Nhị bị bắt cóc, những hình ảnh đi cứu Hơ Nhị của Đăm Săn và sự thách thức của Đăm Săn và Mtao Mxay đã làm rõ lên hình ảnh và bóng dáng của dân tộc mình.
Hình ảnh của người anh hùng này nổi bật lên trong chi tiết đó là cuộc chiến đấu để cứu Hơ Nhị những trận đấu diễn ra mạnh mẽ và nó đã làm cho hình ảnh của vị anh hùng này nổi bật hơn, hình ảnh đó đã làm cho nhân vật này hiện lên trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất. Các hình ảnh về vị anh hùng này đã hiện lên trong những lần múa kiếm với Mtao Mxay, những cuộc chiến đấu mạnh mẽ và hình ảnh của Đăm Săn hiện lên trong từng khoảnh khắc, ở hiệp 1, Mtao Mxay tỏ ra kiêu ngạo và là người múa kiếm trước, nhưng trước những hình ảnh đó Đăm Săn vẫn rất bình tĩnh và ôn tồn, ở chi tiết đó cho chúng ta thấy về tính cách của vị anh hùng này, một người luôn bình tĩnh và lý trí trước kẻ thù, sự ôn tồn và bình tĩnh sẽ để cho vị anh hùng này giải quyết công việc tốt nhất, những hình ảnh kiêu ngạo và những cuộc múa kiếm của kẻ thù không làm cho lý trí của Đăm Săn lung lay.
Dùng lý trí để giải quyết công tốt công việc của mình cũng chính là giải quyết tốt công việc của toàn dân tộc, niềm tự hào về truyền thống dân tộc vẻ vang đã mang lại nhiều những ý nghĩa nhất định và những ảnh hưởng sâu sắc. Tiếp theo cuộc chiến đấu vẫn diễn ra sôi nổi và hàng loạt những hình ảnh thể hiện tài năng và phẩm chất của Đăm Săn đã hiện lên mạnh mẽ và nó tác động sâu sắc đến con người này, hình ảnh của vị anh hùng dân tộc nổi lên qua những bước múa kiếm mạnh mẽ và nó tác động sâu sắc đến hình ảnh của anh hùng này.
Khi múa kiếm những hình ảnh múa kiếm oai vệ và nó tác động sâu sắc đến hình ảnh của vị anh hùng này, những hình ảnh đó làm cho chân dung của vị anh hùng này nổi bật và hiện hữu mạnh mẽ nó không chỉ đem lại những hình ảnh đó cho cả dân tộc của mình. Những hình ảnh của dân tộc và nó đã tác động đến hình tượng của người anh hùng dân tộc, những hình dáng vẻ vang và nó đã hiện hữu lên thêm cho hình ảnh cuộc sống của cuộc sống những người anh hùng này, hình ảnh của dân tộc đã hiện hữu lên trên con người của Đăm Săn, Đăm Săn là một vị anh hùng anh dũng và lẫm liệt hình ảnh đó đã dựa trên những hình ảnh mạnh mẽ và tác động mạnh mẽ và nó trở nên vẻ vang và hùng vĩ lên trên con người của mình.
Đăm săn có nhiều hình ảnh đẹp thông qua cuộc thách đấu với Mtao Mxay Đăm săn là một anh hùng dũng cảm , mạnh mẽ trước những gì mà Mtao Mxay nói , không có một đắn đo gì Đăm săn đã nói ra những gì mà mình mong muốn, những hình ảnh đó đã tạo nên một người hùng dũng và tạo nên nhiều những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, hình ảnh người anh hùng này hiện hữu lên trên trong nhiều chi tiết và hình ảnh đó không chỉ mang lại cho con người những suy nghĩ nhất định, trước hình ảnh chiến đấu mạnh mẽ người anh hùng này đã làm nổi bật lên trong con người những hình ảnh hiện hữu sinh động và mạnh mẽ nhất, hàng loạt những hình ảnh đã thể hiện được điều đó đó là cuộc chiến một mất một còn giữa vị tù trưởng những hình ảnh mang những đặc trưng sâu sắc trong cuộc chiến đấu giữa các anh hùng của dân tộc sử thi.
Hình ảnh về người anh hùng Đăm Săn với dân làng, với chiến thắng trở về Đăm Săn trong lòng dân chúng đã thể hiện mạnh mẽ trong mỗi người dân trong làng, hình ảnh đó không chỉ đem lại sự tin tưởng tuyệt đối đối với Đăm Săn, niềm vui chiến thắng khi trở về và những cuộc chiến đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, những cuộc chiến đấu đó không chỉ mang lại nhiều những điều vẻ vang và hạnh phúc đối với cuộc sống của mình, những hình ảnh đó đã tạo nên nhiều những hình ảnh mang đặc trưng nhất định đối với truyền thống của dân tộc sử thi. Những hình ảnh trên không chỉ làm nổi bật lên vị anh hùng của dân tộc ta mà đó là niềm tự hào vô bờ bến đối với những vị anh hùng của đất nước, truyền thống dân ta, và những chiến thắng đó đã đem lại nhiều thắng lợi và tự hào về truyền thống của dân tộc mình.
Đăm Săn là một niềm tự hào đối với sử thi, vị anh hùng này đã hiện lên trên trang văn của dân tộc những hình ảnh mang nhiều đặc trưng nhất, các hình ảnh đó đã tạo dựng nhiều những con người anh hùng thắng lợi của cuộc chiến đấu của dân tộc ta. Đăm Săn là một người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với dân tộc sử thi, nhờ chiến thắng được kẻ thù chính vì vậy Đăm Săn là một vị anh hùng dũng cảm và hết lòng vì dân chúng, tất cả những hình ảnh đó đã tác động mạnh mẽ đến truyền thống của dân tộc Việt Nam. Sự đoàn kết và tin tưởng vào vị tù trưởng đó đã đem lại những hình ảnh vẻ vang và có ý nghĩa nhất. Hình ảnh của những người anh hùng này không chỉ dừng lại ở cuộc chiến đấu với Mtao Mxây mà nó còn hiện hữu trong những giây phút vẻ vang trước dân làng, những đối thoại đó đã làm cho hình dáng và phẩm chất của anh hùng này được nâng cao.
Các hình ảnh tiếp theo của câu chuyện đã làm nổi bật được cuộc sống của vị anh hùng này đối với truyền thống của dân tộc ta, mỗi chúng ta rất tự hào về truyền thống của dân tộc. Trước thắng lợi của Đăm Săn các tù trưởng của dân tộc đã hội họp về đây để ăn mừng, và chung vui cùng cả dân tộc này. Nhờ chiến thắng đó mà Đăm Săn xây dựng được nhiều những tiếng vang trong cuộc đời, Đăm Săn thu hút được nhiều người tham gia và cùng vào đội của Đăm Săn, tinh đến thời điểm đó thì Đăm Săn đã thống lĩnh một số lượng người rất lớn và tạo dựng niềm tin mạnh mẽ cho con người.
Cuộc chiến đấu đó không chỉ đem lại cho mỗi người khi đọc câu chuyện này hiểu rõ được nhân vật Đăm Săn một người luôn luôn vì đất nước và có những ước muốn vẻ vang đối với dân tộc của chúng ta. Mỗi người khi đọc tác phẩm này có lẽ sẽ ấn tượng nhất đối với vị anh hùng Đăm Săn và nó mang lại nhiều những ý nghĩa quan trọng và tác động lớn mạnh nhất tới con người và hình ảnh của dân tộc đã hiện lên mạnh mẽ và nó mang nhiều ảnh hưởng to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của Đăm Săn đã làm nổi bật lên truyền thống vẻ vang của dân tộc và niềm tự hào về truyền thống của dân tộc sử thi, hàng loạt những chi tiết của bài đã thể hiện được điều đó và chúng ta nên tự hào về truyền thống của dân tộc ta.
Phân tích người anh hùng Đăm Săn - Mẫu 12
Sử thi là sáng tác tự sự dân gian có cốt truyện kể về quá khứ anh hùng của cộng đồng. Đề tài và nhân vật anh hùng trong sử thi miêu tả quá khứ hào hùng và chiến công oanh liệt. Con người và mọi thứ đều hoàn hảo, phi thường và lý tưởng hóa. Thế giới sử thi và âm điệu sử thi là âm điệu hoành tráng. Ngôn ngữ sử thi lộng lẫy và lung linh, hấp dẫn. Một trong những sử thi anh hùng thể hiện sâu sắc điều đó chính là Sử thi Đăm Săn của người Tây Nguyên, mà đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã xây dựng hình tượng nhân vật Đăm Săn với vẻ đẹp lí tưởng.
Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi về làm chồng hai chị em tù trưởng Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên(Mtao Grứ) và tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông lao động sản xuất đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần ấy Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ lại vừa sáp nhập được đất đai, của cải của kẻ địch khiến cho oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có và đông đúc hơn.
Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mơ-tao Mơ-xây. Tù trưởng Sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khói màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực “Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường”. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đam Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả mơ-tao Mơ-xây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đam Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát “đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé”. Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đàng hoàng của mình: “Tao không thèm đâm mày trước lúc mày xuống! Ngay con heo nái nhà mày tao cũng có thèm chém đầu!”.
Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mơ-tao Mơ-xây là giữa hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát hơn. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài múa khiên thú vị: Mơ-tao Mơ-xây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng “tiếng khiên kêu lộc cộc, lộp cộp như tiếng những quả mướp đập vào nhau”, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: “Một bước nhảy, chàng vượt qua mấy đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiến rít vù vù như giông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh cũng nghiêng ngả”. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mơ-tao Mơ-xây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ-nhí khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội.
Đam Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mơ-tao Mơ-Xây. Khi không còn áo sắt, hắn thật thảm hại và hèn nhát khi lần lượt chạy trốn vào chuồng heo, chuồng trâu, khi sắp chết lại buông ra những lời hèn nhát. Ông Trời chỉ đóng vai trò hỗ trợ Đam San, còn chính chàng mới là người kết liễu kẻ thù, đòi lại danh dự, cướp lại người vợ được Trời tác thành. Giết mơ-tao Mơ-xây, chính nghĩa thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng với việc Đăm Săn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của hắn. Quyền sở hữu này là đặc trưng gắn với thời kì chuyển từ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, làm nên vinh quang của người anh hùng. Bởi thế hình ảnh trong sử thi được mô tả với quy mô hoành tráng : mọi người tình nguyện theo Đam Săn đông như bầy hươu nai, lố nhố như đàn kiến cánh, như bầy kiến đen, như đàn mối trắng. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng – của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng.
Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một lễ ăn mừng chiến thắng thật kì vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu muôn người như một, bởi chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng, đem lại sự bình yên cho bến nước buôn làng. Lễ cúng mừng chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: “Hãy lấy bảy chum rượu, bảy con trâu đực, bảy con heo thiến để cúng cho Đăm Săn này đã chiến thắng Mơ-tao Mơ-xây, để ta được như cây cổ thụ cao vút”. Dấu ấn tâm linh sau chiến thắng cho thấy Trời đứng về phía Đăm Săn. Không khí hội còn náo nức tưng bừng với chiêng trống vang lừng khiến vỡ cả sàn nhà, làm bay mái tranh lợp nhà, con khỉ con vượn mải nghe mà quên đi hái trái cây, những con voi và con tê giác cũng phải lắng nghe mà quên cả cho con bú. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình đến hành động: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống một cái chiêng, uống rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thấy no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: “Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây”. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: “Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đam Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trổ sắc bén…Đam Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ”. Vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế!
Tóm lại, đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-Đê, thành di sản quí báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp “một đi không trở lại”
Phân tích nhân vật Thị Hến trong vở tuồng Mắc mưu Thị Hến (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến).
Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Thị Hến
1. Mở bài: giới thiệu vở tuồng, đoạn trích và nhân vật.
2. Thân bài:
a. Phân tích nhân vật Thị Hến:
* Hoàn cảnh của nhân vật: sau khi được tha bổng ở huyện đường, Thị Hến bị Sư Nghêu - gã thầy tu sa đọa đến tán tỉnh. Nhân dịp này, Thị cho mời cả hai tên Đề Hầu và Huyện Trìa tới nhà.
* Tính cách, phẩm chất: Thông minh, khôn khéo:
- m mưu: khiến Huyện Trìa, Thầy Nghêu, Đề Hầu sập bẫy.
- Hành động:
+ Hẹn gặp cùng lúc Huyện Trìa, Thầy Nghêu, Đề Hầu.
+ Khi Đề Hầu đến, Thị Hến mách nước cho thầy Nghêu chui xuống gầm phản.
+ Thị Hến hỏi Đề Hầu về tội phá giới của thầy tu.
+ Khi Huyện Trìa đến, Thị Hến hỏi Huyện Trìa về tội của thầy tu phá giới khiến thầy Nghêu sợ hãi chui ra và tố cáo Đề Hầu.
- Tâm trạng: Vui mừng khi thành công khiến ba nhân vật mắc mưu và bẽ mặt.
b. Đánh giá về nhân vật:
- Thị Hến là người phụ nữ thông minh, sắc sảo.
- Thông qua nhân vật, tác giả dân gian đã:
+ Vạch trần bộ mặt xấu xí của một bộ phận trong xã hội xưa.
+ Đề cao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc họa thông qua lời nói và hành động.
3. Kết bài: khẳng định ý nghĩa, giá trị của nhân vật đối với đoạn trích và toàn bộ vở tuồng.
Mẫu 1
Khi nhắc tới các vở tuồng hài nổi tiếng, chúng ta không thể bỏ qua "Nghêu, Sò, Ốc, Hến". Trong đó, trích đoạn "Huyện Trìa, Đề Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến" thuộc lớp XIX của vở tuồng đã mang đến những tiếng cười sâu cay, trào phúng về hiện thực xã hội xưa. Thông qua nhân vật Thị Hến, tác giả dân gian cũng khéo léo bày tỏ thái độ đề cao, trân trọng người phụ nữ sắc sảo, thông minh.
Ngay ở phần mở đầu đoạn trích, người đọc đã có hình dung rõ nét về hoàn cảnh nhân vật Thị Hến:
"Dốc thờ chồng suối bạc cho toàn,
Lại bị quỷ nhà chay tới phá."
Có thể thấy, Thị Hến sống trong cảnh "chăn đơn gối chiếc". Thị ở vậy một mình và dốc lòng thờ cúng chồng nơi suối bạc. Thế nhưng, cuộc sống lại chẳng hề bình yên vì có những kẻ bỉ ổi, suy đồi nhân cách tìm đến quấy rầy. Sau khi được tha bổng ở huyện đường, Thị Hến lại bị Sư Nghêu mò tới tán tỉnh. Nhân dịp này, Thị mời cả hai tên chức dịch mê gái là Đề Hầu và Huyện Trìa đến nhà. Bằng sự mưu trí của mình, Thị đã khiến ba kẻ ham sắc bẽ mặt.
Trước hết, Thị Hến vô cùng thông minh, nhanh trí khi tạo ra "cuộc hội ngộ" giữa Sư Nghêu, Đề Hầu và Huyện Trìa. Cuộc hội ngộ này chính là âm mưu của Thị - khiến ba nhân vật sập bẫy, chịu một phen nhục nhã ê chề.
Trong lúc trò chuyện cùng Sư Nghêu, nghe thấy tiếng gọi ngoài cửa, dẫu đã biết là Đề Hầu nhưng Thị Hến vẫn tỏ ra ngạc nhiên "(Ủa) Tiếng ai kêu chi lạ? Hay thầy Lại tới đây". Thậm chí, Thị còn khéo léo rủ Sư Nghêu ra chào hỏi để kẻo mắc tội với thầy Đề. Việc này càng làm Sư Nghêu thêm lo lắng mà hỏi chỗ trốn. Đây cũng chính là điều mà Thị Hến dự tính. Vì thế, dựa theo âm mưu ban đầu, Thị đã mách nước cho hắn chui xuống gầm phản "Dưới phản ngựa thầy mau xuống đó". Thực chất, Thị Hến muốn dùng cách bao che này để tiến hành những hành động tiếp theo.
Đón Đề Hầu vào nhà, Thị dùng lời nói hết sức ngon ngọt "Đành đôi ta là cái duyên hằng/ (Thế mà) Không nghe đó, sao cho nên việc, (thưa thầy)". Thị đon đả chào hỏi thầy Đề như một vị khách quý. Trong khi Đề Hầu vội vã đề cập tới chuyện ái ân, giao duyên thì Thị lại tỏ ra hết sức bình tĩnh "Ái ân việc còn thong thả,/ Rượu trà xin hãy vui chơi". Tiếp đến, Thị còn ẩn ý hỏi thăm về tội phá giới của thầy tu "Tu (mà) phá giới tội chi trọng khinh (thưa thầy?)". Thấy người đẹp thắc mắc , Đề Hầu không ngại trình bày "Trong luật lệ rất to,/ Hễ phá giới tức hành trảm quyết!". Tưởng như đây chỉ là cuộc hội thoại đơn thuần kẻ hỏi người đáp nhưng chính nó đã mở ra hiềm khích, mâu thuẫn giữa hai nhân vật Sư Nghêu và thầy Đề. Như vậy, một phần kế hoạch, mưu mô của Thị đã diễn ra chính xác, thuận lợi.
Sự thông minh, khôn khéo ở Thị Hến tiếp tục được khắc họa trong phân cảnh Huyện Trìa đến nhà. Cũng giống như Đề Hầu, Thị dùng lời lẽ nhẹ nhàng để mời chào tên quan tham lam, dối trá "Rượu trà hãy xin mời,/ Ái ân rồi có đó.". Thị vờ như chưa biết mà hỏi về tội của thầy tu phá giới. Để rồi, câu trả lời đến từ Huyện Trìa đã thành công khiến thầy Nghêu sợ hãi chui ra khỏi gầm giường. Với bản chất hèn nhát, ham sống sợ chết ăn sâu trong máu, gã thầy tu sa đọa sẵn sàng tố cáo tội trạng của Đề Hầu "...chớ thầy Đề ngồi trong thúng mơ nói mới ức chớ!", "(Chứ thầy Đề)/ Chỉ thị dâm ô chi loại!". Giờ đây, âm mưu mà Thị Hến bày ra đã thành công. Thầy Đề phải lồm cồm bò ra, ba tên hám sắc cùng xuất đầu lộ diện.
Sau khi khiến thầy tu phá giới và hai tên chức dịch đồi bại nhân cách - Huyện Trìa, Đề Hầu mắc mưu và bẽ mặt ê chề, Thị Hến vô cùng vui mừng. Thị cảm thấy hạnh phúc, sung sướng vì mưu kế đã thành "Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên!". Từ đây, không còn ai đến nhà Thị quấy rối, làm bậy nữa "Thế thầy tu hết tới ngõ nói điên/ Rày quan huyện hết đến nhà làm bậy". Sau tất cả, Thị vẫn giữ vững tiết hạnh, phẩm chất đáng quý của người phụ nữ.
Bằng việc xây dựng nhân vật thông qua lời nói và hành động, tác giả dân gian đã khắc họa rõ nét nhân vật Thị Hến - một người thông minh, sắc sảo. Từ đó, bày tỏ thái độ đề cao, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Ngoài ra, tác giả dân gian cũng phê phán, mỉa mai hiện thực xã hội đương thời với sự suy đồi, biến chất về nhân cách, đạo đức.
Mẫu 2
Có thể nói, Thị Hến trong đoạn trích "Huyện Trìa, Đề Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến" quả là người khôn khéo, sáng suốt. Đứng trước cái dung tục, tầm thường, Thị đã dũng cảm vạch trần, khiến bọn hám sắc thêm nhục nhã, bẽ mặt.
Thị Hến là một người phụ nữ góa chồng, thông minh và nhiều mưu mẹo, bản lĩnh. Khi biết cả ba người đàn ông Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu đều mê mẩn minh, cô đã tìm cách lừa cả ba ông và khiến cho ba ông tự xử lỗi lầm của mình. (Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên).
- Tuy nhiên, Thị Hến cũng là người biết giữ gìn phẩm hạnh: Giữ tiết hạnh một đường cho toại/ Nỗi nhân duyên đôi chữ không màng
Mẫu 3
- Thị Hến: là một người phụ nữ góa chồng Phận góa bụa hôm mai côi cút. Thị Hến thể hiện sự thông minh, sắc sảo của mình khi tự thân đối mặt với sự háo sắc, đểu cáng của ba nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu và Thầy Nghêu. Cô nàng lừa được ba tên đó vào tròng và cuối cùng để họ tự xử nhau. Tuy nhiên, Thị Hến cũng là người biết giữ gìn phẩm giá, tự trọng chính mình Giữ tiết hạnh một đường cho toại.
Mẫu 4
Thị Hến là người đàn bà góa chồng nhưng thông minh và bản lĩnh. Khi cả 03 nhân vật có tiếng tăm trong làng để ý mình vì mục đích xấu, cô đã đưa 03 tên háo sắc vào bẫy của mình, khiến họ xấu hổ và ê chề lẫn nhau. Điều đó chứng tỏ, Thị Hến là người đàn bà rất coi trọng phẩm hạnh, là người phụ nữ thông minh, sắc sảo, đáng khen ngợi.
Phân tích nhân vật Ra-ma trong đoạn trích Ra-ma buộc tội (Trích sử thi Ra-ma-ya-na). (10 mẫu)
Dàn ý phân tích Ra-ma buộc tội
1. Mở bài
- Giới thiệu về sử thi Ấn Độ : Được ra đời rất sớm, phản ánh hiện thực cuộc sống và ca ngợi chiến công của các anh hùng, các hình mẫu lí tưởng của Ấn Độ.
- Giới thiệu về tác phẩm Ra - ma - va - na : Là một thiên sử thi nổi tiếng của Ấn Độ.
- Giới thiệu đoạn trích Ra - Ma buộc tội: Là một đoạn trích hay trong tác phẩm, đoạn trích làm nổi bật lên hình ảnh nhân vật Ra-ma một người anh hùng được ngợi ca bởi lòng tài năng, đạo đức và danh dự cá nhân.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh đặc biệt tái hợp Ra-ma và Xi-ta
- Hoàn cảnh đặc biệt: Diễn ra trong một không gian đặc biệt - rộng trước sự chứng kiến của người thân, bạn bè, dân làng.
- Vị trí của Ra-ma: Là một vị vua, anh hùng có danh dự nhưng cũng là một người chồng yêu thương vợ con hết mực.
- Vị trí của Xi-ta: Là một người vợ đau khổ vì bị mất danh dự.
→ Nhân vật bị đặt vào một tình huống đầy kịch tính.
b. Diễn biến tâm trạng Ra -ma
- Thái độ và lời buộc tội của Ra-ma đối với Xi-ta:
Xưng hô : " Ta" với " phu nhân cao quý" đó là lời lẽ trịnh trọng nhưng lạnh lùng.
Chàng đã khẳng định rằng mục tiêu tiêu diệt quỷ vương không phải vì Xi-ta mà vì danh dự của dòng tộc, danh dự của một người anh hùng bị xúc phạm " ta làm điều đó là vì nhân phẩm... tiếng tăm của ta".
Chàng nghi ngờ phẩm tiết của Xi-ta và tuyên bố rằng sẽ từ bỏ nàng.
→ Chàng đã xúc xúc phạm nhân phẩm của Ra-ma và tuyên bố kết tội nàng một cách tàn nhẫn. Nhưng sâu bên trong Ra-ma chàng vẫn bối rối, xót thương và thêm vào đó là cả sự ghen tuông.
- Thái độc của Ra-ma khi chứng kiến cảnh Xi-ta bước chân vào lửa:
Chàng trông thật khủng khiếp, mắt thì dán xuống đất không nói một lời nào chàng đau khổ tột cùng nhưng vẫn một mực kiên quyết hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự của một người đứng đầu đất nước.
c. Tâm trạng của Xi-ta
- Lời đáp và hành động của nhân vật Xi-ta:
Khi nàng được Ra-ma cứu khỏi tay quỷ nàng vô cùng hạnh phúc.
Khi đứng trước lời buộc tội của Ra-ma: Nàng đau khổ, tủi nhục , và vô cùng kinh ngạc " như một cây leo bị vòi voi quật nát".
Nàng đã dùng những lời lẽ đúng mực và đem tình yêu để thanh minh cho mình: Nàng đã lên án thái độ bốc đồng, thiếu cơ sở và suy xét của phu quân "cớ sao chàng...đâu có phải". Nàng còn mang tư cách ra để đảm bảo, lấy nguồn gốc cao quý của bản thân ra để nhấn mạnh rằng vì tình yêu nên nàng mới đến với Ra-ma.
- Hành động bước chân lên dàn thiêu: Nàng cầu xin thần A-nhi chứng giám cho sự thủy chung và trinh triết của nàng.
3. Kết bài
- Khái quát về nghệ thuật: xây dựng nhân vật đặc sắc lí tưởng, sử dụng nhiều hình ảnh, đối thoại giàu kịch tính...
- Khái quát nội dung: thể niệm quan niệm của nhân dân Ấn Độ về người anh hùng và phẩm chất của họ cùng với đó là quan niệm về người phụ nữ lí tưởng.
Mẫu 1
Ra-ma-ya-na là thiên sử thi Ấn Độ nổi tiếng thế giới, ra đời vào khoảng thế kỉ thứ 3 trước Công Nguyên. Tác phẩm liên tục được nhiều thế hệ tu sĩ – thi nhân bổ sung về nội dung, trau chuốt về nghệ thuật và đạo sĩ Van-mi-ki là người hoàn thiện cuối cùng.
Đoạn trích Ra-ma buộc tội kể về sự kiện hoàng tử Ra-ma sau khi hạ gục quỷ vương Ra-va-na đã giành lại được người vợ yêu quý là nàng Xi-ta kiều diễm. Vợ chồng gặp lại nhau, Xi-ta vui mừng khôn xiết. Nhưng hoàng tử Ra-ma nghi ngờ vợ mình không giữ được trọn vẹn danh tiết trong thời gian bị quỷ Ra-va-na bắt cóc nên đã tuyên bố từ bỏ nàng. Xi-ta không thể thanh minh nên đành bước lên giàn hoả thiêu, nhờ thần Lửa A-nhi chứng giám cho đức hạnh trung trinh của mình. Qua nội dung đoạn trích, các tác giả đã thể hiện quan điểm về Vị vua mẫu mực (Ra-ma) và về người phụ nữ lí tưởng (Xi-ta) của dân tộc Ấn Độ cổ xưa.
Có thể nổi Ra-ma là nhân vật hội tụ đầy đủ những nét tính cách của một vị vua anh hùng như ao ước của dân chúng thời đại đó. Tính cách cao quý của chàng được thể hiện rõ trong mọi tình huống và tình huống ở đoạn trích này là khá đặc biệt. Theo quy luật tâm lí thông thường thì lẽ ra gặp lại vợ sau một thời gian dài xa cách Ra-ma phải hết sức vui mừng và niệm vui to lớn ấy sẽ chi phối mọi suy nghĩ cùng hành động của chàng. Thế nhưng Ra-ma lại không như vậy. Chàng nói với Xi ta: Hỡi phu nhân cao quý, Ta đã đưa nàng tới đây sau khi đã đánh bại kẻ thù. Ta đã làm tất cả bằng khả năng của mình. Ta đã trả thù kẻ lăng nhục ta và cơn giận của ta đã hả. Ngày hôm nay, ai nấy đều đã được chứng kiến tài nghệ của ta. Ta đã làm tròn lời hứa và giờ đây không còn gì vướng mắc với chính mình. Nàng đã bị gã Rắc-sa-xa tâm địa xảo trá bắt cóc khi vắng mặt ta, đó là do số phận của nàng xui nên, nhưng ta đã gỡ cho nàng khỏi điều vu khống. Kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ của mình ra trả thù là kẻ tầm thường…
Rõ ràng là khẩu khí của người anh hùng tài ba và coi trọng danh dự hơn cả mạng sống của bản thân. Ra-ma đã chiến đấu và chiến thắng quỷ vương Ra-va-na trước hết là vì danh dự dòng dõi cao quý của mình, vốn là người thẳng thắn, trung thực, chàng không giấu diếm suy nghĩ về người vợ mà chàng vừa giành lại được từ tay quỷ vương:… Phải biết chắc điều này: chẳng phải vì nàng mà ta đã đánh thắng kẻ thù với sự giúp đỡ của bạn bè. Ta làm điều đó vì nhân phẩm của ta, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của dòng họ lẫy lừng tiếng tăm của ta. Ta làm điều đó chính là để chứng tỏ ta không thuộc về một gia đình bình thường.
Nay ta phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ. Giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nổi, chẳng khác nào ánh sáng với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu thì tuỳ nàng, ta không ưng có nàng nữa. Người đã sinh trưởng trong một gia đình cao quý có thế nào lại lấy về một người vợ từng sống trong nhà kẻ khác, đơn giản chỉ vì mụ ta là một vật để yêu đương ? Nàng đã bị quấy nhiễu khi ở trong vạt áo của Ra-va-na, đôi mắt tội lỗi của hắn đã hau háu nhìn khắp người nàng, vậy làm sao ta có thể nhận nàng về khi nghĩ tới gia đình cao quý đã sinh ra ta?
Cuộc gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta không chỉ có hai người mà diễn ra trước đông đảo anh em, bạn hữu và dân chúng. Vì thế Ra-ma không thể chỉ cư xử với tự cách của một người chồng mà còn với tư cách của một vị anh hùng vừa chiến thắng kẻ thù một cách vinh quang và cao hơn nữa là tư cách của một đấng quân vương. Do vậy ta không thể trách Ra-ma quá lạnh lùng, tàn nhẫn, vì con người của giai cấp, con người của xã hội trong chàng buộc chàng phải cư xử như vậy với người vợ mà chàng trân trọng gọi là phu nhân cao quý.
Suy nghĩ của hoàng tử Ra-ma tiêu biểu cho quan điểm đạo đức của giai cấp quý tộc Ấn Độ thời đó. Tuy nhiên, nó cũng có những điều gần gũi với suy nghĩ của phần lớn đàn ông trong xã hội phong kiến với rất nhiều ràng buộc khắt khe. Đối với Ra-ma thì danh dự của bản thân, gia đình và dòng tộc là quan trọng nhất, cho nên dẫu yêu thương người vợ hiền thục, xinh đẹp đến mấy đi chăng nữa thì chàng vẫn phải chối từ vì không thể vượt lên trên dư luận. Những lời nói của hoàng tử Ra-ma khiến Xi-ta tan nát cả cõi lòng; Nàng đau đớn đến nghẹt thở, như một dây leo bị vòi voi quật nát. Nghe những lời tố cáo chưa từng có, trước mặt đông đủ mọi người, Gia-na-ki xấu hổ cho số kiếp của nàng.
Nàng muốn tự chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của Ra-ma xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên. Nước mắt nàng đổ ra như suối. Lấy tà áo lau nước mắt, rồi bằng giọng nghẹn ngào, nức nở, nàng nói: Cớ sao chàng lại dùng những lời lẽ gay gắt khó tả như vậy đối với thiếp, giống như một kẻ thấp hèn chửi mắng một con mụ thấp bèn? Thiếp đâu phải là người như chàng tưởng ! Thiếp có thể lấy tư cách của thiếp ra mà thề, hãy tin vào danh dự của thiếp. Suy từ hành vi của loại phụ nữ thấp hèn, chàng đã ngờ vực tất cả giới phụ nữ, nhưng như thế đâu có phải. Nếu chàng có hiểu biết thiếp chút đỉnh thì xin hãy từ bỏ mối ngờ vực không căn cứ đó đi…
Trong đau đớn và tủi nhục vì bị chồng nghi ngờ và từ bỏ, nàng Xi-ta xinh đẹp vẫn khẳng khái lạ lùng. Giống như hoàng tử Ra-ma, nàng cũng coi danh dự là điều cao quý nhất. Nàng không ngại ngần so sánh chàng với những kẻ thấp hèn vì nặng cho rằng chàng không nên nói những lời ngờ vực không căn cứ như vậy với nàng – một con người có dòng dõi cao quý không kém gì chàng, bởi nàng chính là con gái của thần Đất Mẹ Pri-thi-vi được tôn thờ. Nàng (rách móc Ra-ma: Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp. Chàng không nghĩ đến vì sao hồi còn thanh niên chàng đã cưới thiếp. Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích.
Trong cơn tuyệt vọng trước thái độ khó lay chuyển của hoàng tử Ra-ma Xi-ta chỉ còn cách duy nhất là nhờ thần Lửa A-nhi minh oan cho mình: Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con. Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con. Dứt lời, nàng dũng cảm bước vào ngọn lửa đang rừng rực cháy của giàn hỏa thiêu.
Sự kính phục, ngưỡng mộ và tiếc thương của mọi người chứng kiến cảnh đó được miêu tả rất xúc động: Ai nấy, già cũng như trẻ, đau lòng đứt ruột xem nàng Gia-na-ki đứng trong giàn hỏa. Trước mặt mọi người, trang tuyệt thế giai nhân đó nạp mình cho lửa. Các bậc thánh, các chư thần nhìn Gia-na-ki bước vào lửa, chẳng khác một lễ vật trong lễ tế sinh. Thấy nàng như vậy, như một thiên thần bị đuổi khỏi trời do một thần chú nguyền rủa, các phụ nữ bật ra tiếng kêu khóc thảm thương. Cả loài Rắc-sa-xa lẫn loài Va-na-ra cùng kêu khóc vang trời trước cảnh tượng đó.
Như vậy là đức hạnh trung trinh cùng lòng dũng cảm tuyệt vời của nàng Xi-ta đã làm chấn động cả thần thánh, con người và ma quỷ. Tất thảy đều rơi lệ trước nỗi oan của nàng. Cuối cùng, đúng như lời cầu xin của Xi-ta, thần Lửa A-nhi đã giải oan và bảo vệ nàng nguyên vẹn.
Đoạn trích Ra-ma buộc tội giống như một màn kịch ngắn mà kịch tính được đẩy lên cao độ. Hai nhân vật chính là Ra-ma và Xi-ta đều bị đặt trước những thử thách ngặt nghèo, đòi hỏi sự lựa chọn quyết liệt, bộc lộ sâu sắc cá tính và bản chất của mình. Hoàng tử Ra-ma đem hết sức mạnh và tài năng để chiến đấu với quỷ vương Ra-va-na để giành lại người vợ yêu quý, nhưng chàng cũng dám hi sinh tình yêu vì danh dự, bổn phận của một người anh hùng, một đức vua mẫu mực. Nàng Xi-ta xinh đẹp, trong trắng cũng là hình ảnh của một người phụ nữ lí tưởng. Nàng đã can đảm bước vào lửa để chứng minh tình yêu tha thiết cùng đức hạnh thủy chung của mình đối với hoàng tử Ra-ma cao quý.
Mẫu 2
Là một trong những cái nôi văn minh đầu tiên của loài người, nền văn học của Ấn Độ cũng sớm được hình thành và phát triển mạnh mẽ, nhắc đến văn học Ấn Độ chắc hẳn sẽ có nhiều người nhớ đến hai bộ sử thi nổi tiếng Ramayana và Mahabharata. Trải qua nhiều thế kỉ nhưng những cuốn sử thi này vẫn làm say đắm hàng triệu trái tim của độc giả. Đoạn trích Ra- ma buộc tội là một phần trong cuốn Ramayana.
Bàn về vai trò của sử thi Ramayana đối với đời sống tinh thần của người Ấn Độ đã có lời nhận xét rằng: " Chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì sử thi Ramayana còn làm say lòng người và cứu họ ra khỏi tội lỗi". Đoạn trích Rama buộc tội là một trích đoạn tiêu biểu của cuốn sử thi này,đoạn trích kể về sự kiện Ra-ma sau khi chiến thắng quỷ vương Ra-va-na đã cứu được người vợ của mình là Xita, hai người đã có giây phút đoàn tụ với những sự kiện phức tạp đã diễn ra. Sau những ngày bị chia cắt khi Xita bị quỷ vương bắt đi, hai vợ chồng Rama và Xi-ta đã được đoàn tụ, nhưng đó không phải phút giây hàn nguyên vợ chồng cảm động mà lại là thời điểm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột.
Gặp lại chồng, Xita vô cùng vui mừng, thế nhưng đáp lại sự nhớ thương, chờ mong của nàng thì Ra-ma đối xử với nàng vô cùng lạnh lùng bởi trong Ra-ma luôn tồn tại mối nghi ngờ vì Xita đã bị quỷ vương bắt đi một thời gian, liệu nàng có chung chạ chăn gối với hắn ta không là điều không ai biết. Nghi ngờ danh tiết của vợ nên Ra-ma có ý muốn chối bỏ dù rất yêu thương vợ.
Xi-ta đã hết lời thanh minh nhửng Ra-ma vẫn không chịu tin, cuối cùng nàng đã tìm đến Lửa thần A- nhi để nhờ người chứng minh cho tấm lòng trinh bạch, thủy chung cả nàng. Đoạn trích Ra-ma buộc tội đã thể hiện được thái độ và quan điểm của nhà văn về Ra-ma- một vị vua mẫu mực, lí tưởng của đất nước Ấn Độ và hình tượng người phụ nữ Ấn Độ Xi-ta.
Ra- ma là người quân vương hội tụ được đầy đủ phẩm chất, năng lực của người đứng đầu một nước. Phẩm chất cao quý của chàng được thể hiện rõ nét qua đoạn trích này. Trong cuộc gặp gỡ với Xi- ta dù lòng rất nhớ thương vợ nhưng Ra-ma vẫn tỏ ra lạnh lùng và chối bỏ vợ vì lúc này chàng không chỉ là một người chồng mà nàng còn là một người quân vương, người đứng đầu đất nước, do vậy chàng đã đặt trách nhiệm với quốc gia dân tộc lên trên tình cảm cá nhân, cần suy xét rõ ràng, minh bạch mọi chuyện, dù đó có là vợ mình đi chăng nữa.
Trước đông đảo quần thần và bạn hữu, nếu Ra-ma không xử lí tốt chuyện gia đình thì sẽ gây nên những điều tiếng đáng tiếc, ảnh hưởng đến uy tín của bậc quân vương. Đối với Ra-ma thì uy tín và danh dự của bản thân và gia tộc là điều quan trọng hàng đầu, dù yêu thương vợ nhưng chàng không thể bất chấp tất cả, vượt lên những điều tiếng không hay của dư luận mà đón nàng về cung điện.
Nếu Ra-ma là mẫu quân vương lí tưởng thì Xi-ta lại là hình tượng người phụ nữ lí tưởng của người phụ nữ Ấn Độ xưa, ở nàng hội tụ nhiều phẩm chất tốt đẹp: son sắc, thủy chung. Trong cuộc hội ngộ với Ra-ma, không những không có những phút giây đoàn viên hạnh phúc mà nàng đã phải chịu nhiều đau khổ, ê chề từ thái độ lạnh lùng và hành động rũ bỏ của chồng mình là Ra-ma.
Trước những lời nói của Ra- ma, Xi- ta đã vô cùng đau lòng, nàng đau đớn đến nghẹt thở, cảm giác như có sợi dây leo thít chặt vào da thịt. Đặc biệt, những lời hàm nghi của Ra- ma lại được nói trước đông đảo dân chúng và bạn hữu, nàng đã tủi thân, xấu hổ cho số phận của mình. Nàng đã cố gắng minh bạch tấm lòng trong sạch của mình nhưng Ra- ma đều nhẫn tâm phũ bỏ tất cả.
Cuối cùng, không còn cách nào khác, Xi-ta đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của thần lửa A- nhi, nàng đã bước lên giàn hỏa thiêu để nhờ thần Lửa chứng minh cho sự trung trinh, trong sạch của mình. Cảm động trước tấm lòng của nàng, thần lửa A- nhi đã xuất hiện mà chứng minh sự trong sạch của Xi-ta trước tất cả dân chúng, quần thần, bạn hữu. Nhờ vậy mà Ra- ma hiểu được tấm lòng và sự thủy chung của vợ, hai người đã được đoàn tụ thực sự mà không có bất kì khoảng cách nào khác.
Mọi người có mặt ở đó đều cảm động trước hành động dũng cảm và tấm lòng trong sạch của Xi-ta, những tiếc khóc thương của những người xung quanh chính là sự đồng cảm, tấm lòng cảm động của đông đảo mọi người đối với nàng. Hơn nữa, sự chung thủy, son sắc của Xi-ta đã làm cảm động cả thần lửa A-nhi. Sau bao nhiêu sóng gió, cuối cùng nàng cũng vượt qua và chạm tay vào hạnh phúc thực sự.
Qua đoạn trích Ra- ma ta có thấy được những khát vọng của người Ấn Độ và mẫu hình người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng của thời đại bấy giờ, qua đoạn trích ta cũng hiểu được phần nào vì sao mà sử thi Ramayana lại có thể làm say đắm nhiều thế hệ đến vậy.
Mẫu 3
Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” là đoạn đã kể về sự kiện hoàng tử Ra-ma sau khi hạ gục quỷ vương Ra-va-na đã giành lại được người vợ yêu quý là nàng Xi-ta kiều diễm. Vợ chồng Xi-ta đã gặp lại nhau, Xi-ta quá đỗi vui mừng khôn xiết. Nhưng trớ trêu thay Ra-ma nghi ngờ vợ mình không giữ được trọn vẹn danh tiết trong thời gian bị quỷ Ra-va-na bắt cóc nên đã tuyên bố từ bỏ nàng. Nàng Xi-ta đau khổ và tuyệt vọng không thể thanh minh nên đành bước lên giàn hoả thiêu, nhờ thần Lửa A-nhi chứng giám cho đức hạnh trung trinh của mình. Qua nội dung đoạn trích “Ra-ma buộc tội” này thì dường như các tác giả đã thể hiện quan điểm về vị vua mẫu mực (Ra-ma) và về người phụ nữ lí tưởng (Xi-ta) của dân tộc Ấn Độ cổ xưa.
Ra-ma là nhân vật hội tụ đầy đủ tính cách của một vị anh hùng mà dân tộc Ấn Độ lúc bấy giờ. Tính cách cao quý của chàng được thể hiện rõ trong mọi tình huống và ở đoạn trích này là khá đặc biệt. Nếu giống như chúng ta sau bao nhiêu ngày xa cách và cuộc chiến gian khổ để dành lại người mình yêu thương nhất, đáng lẽ chàng phải vui mới phải. Nhưng Ra-ma lại đi ngược lại với lẽ tự nhiên. Chàng Ra-ma đã không ngại ngần gì mà đã nói với Xi ta:” Hỡi phu nhân cao quý, Ta đã đưa nàng tới đây sau khi đã đánh bại kẻ thù. Ta đã làm tất cả bằng khả năng của mình. Ta đã trả thù kẻ lăng nhục ta và cơn giận của ta đã hả. Ngày hôm nay, ai nấy đều đã được chứng kiến tài nghệ của ta.
Ta đã làm tròn lời hứa và giờ đây không còn gì vướng mắc với chính mình. Nàng đã bị gã Ra-va-na tâm địa xảo trá bắt cóc khi vắng mặt ta, đó là do số phận của nàng xui nên, nhưng ta đã gỡ cho nàng khỏi điều vu khống. Kẻ nào mà đã bị quân thù lăng nhục nhưng lại không đem tài nghệ của mình ra trả thù thì đó là kẻ tầm thường. Đây rõ ràng là lời tuyên bố của một vị anh hùng đầy khí chất. Coi danh dự của bản thân hơn cả tính mạng con người. Ra-ma đã đi ngược lại với lẽ tự nhiên. Ra-ma đã anh dũng chiến đấu và đã chiến thắng quỷ vương Ra-va-na trước hết là vì danh dự dòng dõi cao quý của mình, vốn là người thẳng thắn, trung thực mà Ra-ma đã không hề giấu diếm suy nghĩ về người vợ mà chàng vừa giành lại được từ tay quỷ vương:…
Phải biết chắc điều này: chẳng phải vì nàng mà ta đã đánh thắng kẻ thù với sự giúp đỡ của bạn bè. Ta làm điều đó vì nhân phẩm của ta, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của dòng họ lẫy lừng tiếng tăm của ta. Ta làm điều đó chính là để chứng tỏ ta không thuộc về một gia đình bình thường. Và Ra-ma đã phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ, không hề biết đến. Và đau khổ hơn khi giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nổi, chẳng khác nào ánh sáng với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu thì tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa. Và dường như việc Ram-ma đã sinh trưởng trong một gia đình cao quý có thế nào lại lấy về một người vợ từng sống trong nhà kẻ khác, đơn giản chỉ vì mụ ta là một vật để yêu đương? Nàng Xi-ta đã bị quấy nhiễu khi ở trong vạt áo của Ra-va-na, đôi mắt tội lỗi của hắn đã hau háu nhìn khắp người nàng, vậy làm sao ta có thể nhận nàng về khi nghĩ tới gia đình cao quý đã sinh ra ta?
Cuộc gặp gỡ diễn ra giữa Ra-ma và Xi-ta không chỉ có hai người mà diễn ra trước đông đảo anh em, bạn hữu và dân chúng. Chính bởi thế Ra-ma không thể chỉ cư xử với tự cách của một người chồng mà còn với tư cách của một vị anh hùng vừa chiến thắng kẻ thù một cách vinh quang và cao hơn nữa là tư cách của một đấng quân vương. Do vậy mà ta không thể nào mà tránh Ra-ma quá lạnh lùng, tàn nhẫn, vì con người của giai cấp, con người của xã hội trong chàng buộc Ra-ma phải cư xử một cách tàn nhẫn như vậy với người vợ mà chàng trân trọng gọi là phu nhân cao quý.
Còn đối với nhân vật Ra-ma thì danh dự của bản thân, gia đình và dòng tộc là quan trọng nhất, cho nên dẫu yêu thương người vợ hiền thục, xinh đẹp đến mấy đi chăng nữa thì chàng vẫn phải chối từ vì không thể vượt lên trên dư luận. Và dường như những lời nói của hoàng tử Ra-ma khiến Xi-ta tan nát cả cõi lòng; Nàng đau đớn đến nghẹt thở, như một dây leo bị vòi voi quật nát. Nghe xong những lời tố cáo được coi như chưa từng có, trước mặt đông đủ mọi người, Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng Xi-ta lúc này như muốn tự chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của Ra-ma thật đâu, như xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên. Nỗi trách chàng lại dùng những lời lẽ gay gắt khó tả như vậy đối với thiếp, giống như một kẻ thấp hèn chửi mắng một con mụ thấp hèn vậy? Thiếp đâu phải là người như chàng suy tưởng? Thiếp có thể lấy tư cách của thiếp ra mà thề và khẳng định, hãy tin vào danh dự của thiếp. Chàng đừng suy từ những hành vi của loại phụ nữ thấp hèn, chàng đã ngờ vực tất cả giới phụ nữ trên thế giới này đều vậy, nhưng như thế đâu có phải. Nếu chàng có hiểu biết thiếp chút đỉnh thì xin hãy từ bỏ mối ngờ vực không căn cứ đó đi…
Trong cơn tuyệt vọng đến cùng cực và trước thái độ khó lay chuyển trước sau một lời của hoàng tử Ra-ma Xi-ta chỉ còn cách duy nhất là nhờ thần Lửa A-nhi minh oan cho mình là “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con”. Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối không thể tha thứ, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con. Dứt lời, nàng dũng cảm bước vào ngọn lửa đang rừng rực cháy của giàn hỏa thiêu. Nàng Xi-ta thật đẹp và oai hùng khi bước vào giàn hỏa thiêu nóng rực kia. Và trong khi đó mọi người đều khâm phục và kính nể nang, gì trẻ trai gái đều tiếc thương và cảm thông cho số phận của nàng. Mọi vật xung quanh đều bật ra tiếng khóc thương cho số phận bất hạnh của nàng.
Đức hạnh trung trinh cùng lòng dũng cảm tuyệt vời của nàng Xi-ta đã làm chấn động cả thần thánh, con người và ma quỷ. Tất thảy đều rơi lệ trước nỗi oan của nàng. Cuối cùng quả đúng như lời cầu xin của nàng Xi-ta, thì thần Lửa A-nhi đã giải oan và bảo vệ nàng nguyên vẹn.
Qua sử thi nổi tiếng “Ramayana” chúng ta thấy dân tộc Ấn Độ đã dựng lên một vị anh hùng của chính dân tộc họ và qua đó cũng thấy được sự đức hạnh, thủy chung của người phụ nữ Ấn Độ lúc bấy giờ.
Mẫu 4
Rama là hình tượng đặc trưng cho nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hindu, đẳng cấp của một vương tôn quý tộc, đồng thời cũng là niềm mong muốn và khát khao của nhân dân Ấn Độ tới một vị anh hùng có sức mạnh lớn lao có khả năng che chở và bảo vệ quần chúng, đem lại công bằng và công lí cho cả xã hội.
Xuyên suốt cả tác phẩm đồ sộ ấy, những người nghệ sĩ dân gian luôn dành cho Rama một sự kính trọng, đề cao chàng là người thông minh, tài giỏi nhất trong bốn vị hoàng tử, là người chiếm được niềm tin yêu của Đức vua cũng như vị đạo sĩ, hội tụ đầy đủ tài năng, được công chúng yêu quý và ủng hộ khi bước lên ngai vàng. Chàng là người giàu lòng tự trọng, biết quý trọng nhân phẩm và danh dự của bản thân cũng như luôn luôn bày tỏ lòng hiếu thảo với đức vua cha. Vào trước hôm Rama lên ngôi vua, Kakeyi đã nhắc lại với nhà vua điều hứa năm xưa và muốn nhà vua nhường ngôi cho con trai bà ta – Bharata thay vì Rama, và nhà vua phải ra lệnh cho Rama chịu lưu đày trong rừng 14 năm. Vì không muốn cha phải trở thành kẻ thất hứa bị mọi người chê cười, muốn bảo vệ danh dự cho cha , Rama đã thực hiện lời hứa của cha với thứ phi Kakeyi cho dù chàng hoàn toàn có thể ở lại và dù Bharata cũng từ chối ngôi vua này. Sống quen trong nhung lụa nhưng Rama vẫn chấp nhận rời bỏ cuộc sống ấy để bảo toàn danh dự và lời hứa với vua cha.
Chàng là người có trí thông minh phi phàm, có sức mạnh phi thường mà không ai có thể sánh nổi. Chàng có đôi mắt sáng như trời và trăng, có đôi tai thấu âm nhạc trời đất, là kẻ thù của những sự giả dối, ghen tuông, những điều xấu, điều ác trên thế giới này, là hiện thân của những vẻ đẹp và sức mạnh phi thường. Chàng đã nâng được cây cung thần bằng chính sức mạnh của mình và sự thông minh hiếm có, chàng đã chiếm được trái tim của nàng Xi-ta. Sau này, hai vợ chồng Rama giúp đỡ dân làng và đã lập được rất nhiều chiến công. Chàng bảo vệ dân làng khỏi bọn quỷ dữ: từ con quỷ Vali, con quỷ khổng lồ vô địch, đánh qụy trâu thần Dundubhi. Rama diệt trừ quỷ Thataka và đặc biệt là quỷ vương Ravana . Với tinh thần hiệp nghĩa, Rama đã chiến đấu giành lại ngôi báu cho Sugriva khi Sugriva bị quỷ Vali cướp vợ và đuổi đi. Rama chính là hiện thân của ước mơ công lí, chính nghĩa sẽ chiến thắng của nhân dân Ấn Độ. Chàng đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho dân làng cũng chính là đang chuyên chở những mong muốn, ao ước của người dân Ấn về một cuộc sống công bằng xã hội được đặt lên hàng đầu.
Tuy là hóa thân của thánh thần, nhưng Rama cũng nổi bật bởi “tính người” rất chân thành của mình, thể hiện qua tình yêu với nàng Xi-ta. Thánh thần nhưng chàng vẫn biết yêu, chàng yêu Xi-ta say đắm, tin tưởng vào sự chung thủy của vợ nhưng đã từng có lúc chàng ghen, chàng nghi ngờ về sự trinh bạch của tâm hồn nàng Xi-ta. Thế nhưng khi nhìn thấy vợ trước đám lửa thiêu, Rama đã không giấu nổi sự đau xót. Lòng ghen đã khiến chàng đánh mất đi sự sáng suốt của một đấng minh quân, chỉ đến khi thần Agni làm chứng cho sự trong sạch của vợ, Rama mới tin tưởng vào lòng chung thủy của người vợ. Và nhờ tính cách này trong con người Rama mà chàng không xa lạ với nhân dân, chàng cũng chỉ là một con người bình thường, có những cảm xúc riêng tư, có tình yêu trong sáng và cũng có những phút hờn dỗi ghen tuông như những con người bình thường. Điều này không làm cho chàng tầm thường hóa mà khiến nhân vật Rama trở nên gần gũi hơn.
Nghệ thuật miêu tả nhân vật hết sức sắc sảo, có thể sáng ngang với ngòi bút của Williams Shakespeare ở bầu trời phương tây xa xôi. Tài năng của Valmiki đã biến bộ sử thi “Ramayana” trở nên có sức hút lớn lao cho mỗi thế hệ độc giả cả xưa và nay.
Mẫu 5
Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” có vị trí nằm ở khúc ca thứ sáu, chương 79 trong Ra-ma-ya-na. Nhất là sau khi chiến thắng Ra-va-na, Ra-ma cứu được nàng Xi-ta trở về. Có thể thấy được khi giải quyết những xung đột lớn của xã hội, của cộng đồng rồi thì đến lượt Ra-ma lúc này đây chàng cũng phải tự giải quyết xung đột cá nhân. Chính cái cơn ghen tuông, rồi một mối nghi ngờ về lòng chung thủy, sự trong sạch của Xi-ta dường như cũng đã nổi lên trong lòng Ra-ma như là đỉnh điểm của mọi xung đột. Và chính với tình tiết này làm tăng thêm tính hấp dẫn của tác phẩm và cả nhân vật cũng bộc lộ được tính cách của mình, điển hình là Ra- ma.
Ra-ma cứu Xi-ta là vì danh dự nhưng buộc tội rồi chính chàng cũng ruồng bỏ nàng cũng là vì danh dự. Thực sự chúng ta không thể khẳng định rằng Xi-ta không còn trong sáng thế nhưng Ra-ma cùng không thể chấp nhận bất cứ một sự mờ ám nào có thể làm ảnh hưởng tới danh dự và vinh quang của chàng. Thông qua đây người đọc cũng phần nào hiểu được tính cách của Ra – ma là một người chính trực, ngay thẳng, rất phân minh.
Có thể nói rằng đối với người anh hùng thời xưa, danh dự là yếu tố quan trọng nhất, bởi vậy tuy vừa cứu Xi-ta xong lại ruồng bỏ nàng, nhưng những hành động của Ra-ma vẫn rất nhất quán. Rất nhiều, có thể nhận thấy mâu thuẫn trong lòng Ra-ma là mâu thuẫn giữa tình yêu và danh dự. Nhân vật Ra-ma tuy xuất thân là thần thánh, đồng thời cũng chính lại là bậc quân vương nhưng tính cách, tình cảm của chàng không khác con người bình thường. Thế rồi chính chàng yêu hết mình, ghen cực độ, đồng thời sẽ có lúc oai phong lẫm liệt nhưng có lúc quá mềm yếu, có lúc cao thượng vị tha. Không chỉ thế mà người đọc còn nhận thấy Ra – ma có lúc quá nhỏ nhen ích kỉ. Người đọc có thể nhận thấy được cái tối – sáng, cái xấu – tốt, cái thiện – ác luôn luôn tương phản trong tính cách của Ra-ma.
Xây dựng lên nhân vật Ra-ma lúc này đây như cũng được miêu tả rất “đời thường”, sự biến đổi tâm lí thật sắc sảo, vượt qua được mọi ước lệ cứng nhắc và khuôn sáo. Nhân vật Xi – ta muốn để cho Ra-ma tin mình, Xi-ta đã bình thản bước vào ngọn lửa với một lời cầu nguyện tới Thần Lửa A-nhi. Và có thể thấy được ánh lửa cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn trong đời sống Ấn Độ. Ánh lửa như đã tượng trưng cho sự quang minh chính đại. Người đọc có thể nhận thấy được chính với hành động khoan thai bước vào ngọn lửa của Xi-ta được coi là đỉnh cao chói lọi trong tính cách của Xita cũng như thấy được tính cách của Ra-ma luôn bất nhất, không dao động.
Với đoạn trích “Ra-ma buộc tội” cũng được cấu tạo bởi hai yếu tố tự sự: lời kể, lời thoại, thế nhưng lời thoại chiếm vị trí quan trọng nhất. Người đọc có thể nhận thấy được lời thoại vừa tham gia vào quá trình phát triển của câu chuyện. Câu chuyện như cũng vừa đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng, thêm với đó chính là tâm trạng và cảm xúc của các nhân vật. Chính với lời Ra-ma lạnh lùng, lời Xi-ta đẫm trong nước mắt thể hiện sự đau khổ tột cùng của nàng.
Đọc đoạn trích cùng với nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả thể hiện rõ nhất qua hai hình tượng Ra-ma. Người đọc có thể thấy được tâm trạng của Ra-ma được thể hiện qua xung đột tâm lí. Nhất là sau khi giải quyết những xung đột cộng đồng thì Ra-ma lúc này đây cũng phải giải quyết xung đột cá nhân, trong đó đỉnh điếm là cơn ghen tuông và mối nghi ngờ về đức hạnh của Xi-ta. Mâu thuẫn trong con người Ra-ma thì lại thể hiện sự mâu thuẫn giữa danh dự, bổn phận và cả tình yêu nữa. Nhân vật Ra – ma ghen tuông cực độ, chàng sẵn sàng để cho ngọn lửa ghen tuông đốt cháy mình và ruồng bỏ Xi-ta. Không những thế thì Ra-ma cũng luôn luôn sẵn sàng chấp nhận để cho Xi-ta nhảy vào lửa.
Tóm lại, đoạn trích Ra-ma buộc tội thể hiện rõ phẩm chất cao quý của nhân vật Xi-ta thủy chung. Đặc biệt đó là tính cách Ra-ma, người anh hùng sử thi Ấn Độ. Hình tượng nhân vật Ra – ma sẽ không bao giờ phai nhòa được trong ký ức của mỗi chúng ta.
Mẫu 6
Đối với người Ấn Độ, sử thi Ramayana là một niềm tự hào bởi nó giúp họ thoát khỏi tội lỗi. Bộ sách quý này được cả xã hội Ấn Độ tôn vinh và ngưỡng mộ. Nếu ai đã từng đọc Ramayana chắc cũng sẽ ấn tượng với sử thi này và đặc biệt là ấn tượng với nhân vật Ra-ma.
Với tính chất sử thi, nhân vật Ra-ma được xây dựng như một người anh hùng, là nguồn sáng cho cả một dân tộc, là biểu tượng của sức mạnh, trí tuệ và vẻ đẹp của con người. Nếu theo truyền thuyết thì Ra-ma là hóa thân thứ 7 của thần Visnu – đấng tối cao của đẳng cấp quý tộc Bà la môn. Mục đích của Visnu khi giáng thế chính là cứu nhân loại ra khỏi chiến tranh loạn lạc. Đó là một mục đích vô cùng đáng quý. Như vậy Ra-ma là một nhân vật xuất chúng. Nhiệm vụ của chàng là tiêu diệt cái xấu, cái ác trong xã hội mà ở đây hiện thân chính là con quỷ Ravana. Chỉ có tiêu diệt cái xấu, cái ác thì người dân mới có được cuộc sống ấm no.
Thông qua nhân vật Ra-ma, nhân dân Ấn Độ muốn thể hiện niềm khát khao có được một vị anh hùng có sức mạnh lớn đủ để bảo vệ người dân khỏi những điều bất công trong cuộc sống. Đây là hình tượng đặc trưng cho nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hindu. Chính vì vậy mà trong toàn bộ sử thi này, Ra-ma được đề cao và kính trọng. Trong số 4 vị hoàng tử thì chàng là một người thông minh và tài giỏi nhất nên cũng được đức vua tin yêu nhất. Không chỉ vậy, người dân cũng yêu quý chàng, một lòng ủng hộ chàng trở thành người kế nghiệp ngai vàng. Một lý do nữa khiến chàng được yêu quý là chàng luôn hiếu thảo với vua cha. Trước hôm Ra-ma lên ngôi, Kakeyi đã nhắc vua về lời hứa năm xưa và muốn nhà vua nhường ngôi cho Bharata, con trai của bà. Chỉ vì không muốn cha mình trở thành kẻ thất hứa, Ra-ma đã chấp nhận đi lưu đày 14 năm trong rừng.
Ra-ma được miêu tả có đôi mắt sáng như vầng trăng, đôi tai thấu âm nhạc trời đất. Chàng ghét sự giả dối, ghen tuông, điều xấu, điều ác. Chàng là hiện thân của sức mạnh, thông minh. Xét về điều này thì không ai có thể bằng được chàng. Nhờ sức mạnh và trí thông minh của mình chàng đã nâng được cây cung thần và chiếm được trái tim của nàng Sita. Cùng với vợ của mình, Ra-ma đã giúp đỡ dân làng chống lại quỷ dữ từ con quỷ Vali, con quỷ khổng lồ vô địch, đánh quỵ trâu thần Dundubbi. Không chỉ vậy, Ra-ma còn diệt trừ quỷ Thataka và đặc biệt là quỷ vương Ravana. Sau khi đánh đuổi được quỷ Vali, Ra-ma đã giúp Sugriva lấy lại được vợ và ngôi báu. Trong mọi trận chiến, Ra-ma luôn là người chiến thắng. Đây chính là ước mong của người Ấn Độ về công bằng, lẽ phải. Chính nghĩa thì luôn chiến thắng gian tà.
Mặc dù là hóa thân của thánh thần nhưng Ra-ma cũng đậm tính người thông qua tình yêu đối với nàng Sita. Ra-ma luôn tin tưởng vào sự thủy chung của Sita nhưng chàng cũng không tránh được những lúc hờn ghen, ngờ vực. Cũng như nhiều người khác, sự ghen tuống khiến Ra-ma bị che mờ mắt, mất đi sự sáng suốt. Chính tính cách này khiến chàng trở nên gần gũi hơn với người dân.
Mặc dù là sử thi và được viết từ rất lâu nhưng nghệ thuật miêu tả nhân vật hết sức sắc sảo, chẳng hề thua kém các tác giả nổi tiếng hiện đại. Với tài năng của mình, Valmiki đã biến sử thi Ramayana trở nên có sức hút không chỉ ở thời xưa mà còn đối với thế hệ trẻ ngày nay.
Mẫu 7
Người Ấn Độ thường tự hào rằng: “Chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì sử thi Ramayana còn làm say lòng người và cứu giúp họ ra khỏi tội lỗi”. Từ xưa, họ đã coi “Ramayana” là bộ sách quý báu của cả dân tộc cần được tôn vinh và ngưỡng mộ. Nhân vật Rama trong tác phẩm ẩn chứa những vẻ đẹp sâu sắc để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Rama được xây dựng như một vị anh hùng, một nguồn sáng chói lóa của dân tộc, kết tinh hết thảy mọi vẻ đẹp chuẩn mực trên cõi đời này, hiện lên sự lí tưởng của con người nơi trần thế. Về nguồn gốc xuất thân .Theo truyền thuyết , Rama là hóa thân thứ 7 của thần Visnu – đấng tối cao của đẳng cấp quý tộc Bà la môn. Visnu được giáng thế làm người cứu nhân loại ra khỏi vòng trầm luân đau khổ trong chiến tranh loạn lạc. Mục đích giáng trần vô cùng cao quý đó là cứu nhân độ thế, tiêu diệt cái ác, bảo vệ cái thiện. Ngay từ xuất thân đã cho thấy Rama là người xuất chúng như thế nào. Chàng có nhiệm vụ tiêu diệt con quỷ Ravana – hiện thân của cái ác, cái xấu trong xã hội. Và chàng anh hùng với xuất thân vô cùng cao quý kia phải làm một việc cũng hết sức kiêu hùng : diệt trừ cái ác, bảo vệ cái thiện và đem lại cuộc sống ấm no cho mọi người.
Rama là hình tượng đặc trưng cho nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, đẳng cấp của một vương tôn quý tộc, đồng thời cũng là niềm mong muốn và khát khao của nhân dân Ấn Độ tới một vị anh hùng có sức mạnh lớn lao có khả năng che chở và bảo vệ quần chúng, đem lại công bằng và công lí cho cả xã hội. Xuyên suốt cả tác phẩm đồ sộ ấy, những người nghệ sĩ dân gian luôn dành cho Rama một sự kính trọng, đề cao chàng là người thông minh, tài giỏi nhất trong bốn vị hoàng tử, là người chiếm được niềm tin yêu của Đức vua cũng như vị đạo sĩ, hội tụ đầy đủ tài năng, được công chúng yêu quý và ủng hộ khi bước lên ngai vàng. Chàng là người giàu lòng tự trọng, biết quý trọng nhân phẩm và danh dự của bản thân cũng như luôn luôn bày tỏ lòng hiếu thảo với đức vua cha. Vào trước hôm Rama lên ngôi vua, Kakeyi đã nhắc lại với nhà vua điều hứa năm xưa và muốn nhà vua nhường ngôi cho con trai bà ta – Bharata thay vì Rama, và nhà vua phải ra lệnh cho Rama chịu lưu đày trong rừng 14 năm. Vì không muốn cha phải trở thành kẻ thất hứa bị mọi người chê cười , muốn bảo vệ danh dự cho cha , Rama đã thực hiện lời hứa của cha với thứ phi Kakeyi cho dù chàng hoàn toàn có thể ở lại và dù Bharata cũng từ chối ngôi vua này. Sống quen trong nhung lụa nhưng Rama vẫn chấp nhận rời bỏ cuộc sống ấy để bảo toàn danh dự và lời hứa với vua cha.
Chàng là người có trí thông minh phi phàm, có sức mạnh phi thường mà không ai có thể sánh nổi. Chàng có đôi mắt sáng như trời và trăng, có đôi tai thấu âm nhạc trời đất, là kẻ thù của những sự giả dối, ghen tuông, những điều xấu, điều ác trên thế giới này, là hiện thân của những vẻ đẹp và sức mạnh phi thường. Chàng đã nâng được cây cung thần bằng chính sức mạnh của mình và sự thông minh hiếm có, chàng đã chiếm được trái tim của nàng Sita. Sau này, hai vợ chồng Rama giúp đỡ dân làng và đã lập được rất nhiều chiến công. Chàng bảo vệ dân làng khỏi bọn quỷ dữ: từ con quỷ Vali, con quỷ khổng lồ vô địch, đánh quỵ trâu thần Dundubbi. Rama diệt trừ quỷ Thataka và đặc biệt là quỷ vương Ravana . Với tinh thần hiệp nghĩa, Rama đã chiến đấu giành lại ngôi báu cho Sugriva khi Sugriva bị quỷ Vali cướp vợ và đuổi đi. Rama chính là hiện thân của ước mơ công lí, chính nghĩa sẽ chiến thắng của nhân dân Ấn Độ. Chàng đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho dân làng cũng chính là đang chuyên chở những mong muốn, ao ước của người dân Ấn về một cuộc sống công bằng xã hội được đặt lên hàng đầu.
Tuy là hóa thân của thánh thần, nhưng Rama cũng nổi bật bởi “tính người” rất chân thành của mình, thể hiện qua tình yêu với nàng Sita. Thánh thần nhưng chàng vẫn biết yêu, chàng yêu Sita say đắm, tin tưởng vào sự chung thủy của vợ nhưng đã từng có lúc chàng ghen, chàng nghi ngờ về sự trinh bạch của tâm hồn nàng Sita. Thế nhưng khi nhìn thấy vợ trước đám lửa thiêu, Rama đã không giấu nổi sự đau xót. Lòng ghen đã khiến chàng đánh mất đi sự sáng suốt của một đấng minh quân, chỉ đến khi thần Agni làm chứng cho sự trong sạch của vợ, Rama mới tin tưởng vào lòng chung thủy của người vợ.
Và nhờ tính cách này trong con người Rama mà chàng không xa lạ với nhân dân, chàng cũng chỉ là một con người bình thường, có những cảm xúc riêng tư, có tình yêu trong sáng và cũng có những phút hờn dỗi ghen tuông như những con người bình thường. Điều này không làm cho chàng tầm thường hóa mà khiến nhân vật Rama trở nên gần gũi hơn.
Nghệ thuật miêu tả nhân vật hết sức sắc sảo, có thể sáng ngang với ngòi bút của Wiliams Shakespear ở bầu trời phương tây xa xôi. Tài năng của Valmiki đã biến bộ sử thi “Ramayana” trở nên có sức hút lớn lao cho mỗi thế hệ độc giả cả xưa và nay.
Mẫu 8
Ramayana là 1 trong 2 bộ sử thi vĩ đại nhất của người Ấn Độ, là tác phẩm bất hủ, có sức sống trường tồn và thành bài ca của thời đại.
Người Ấn Độ thường tự hào rằng “chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì sử thi Ramayana còn làm say lòng người và cứu giúp họ ra khỏi tội lỗi”.
Một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm chính là việc xây dựng thành công hình tượng nhân vật. Nếu Sita là mẫu người phụ nữ Ấn Độ xinh đẹp, thủy chung, dịu dàng, hiền hậu thì Rama là mẫu người anh hùng lí tưởng, vị minh quân tuấn tú, tài năng, trọng danh dự. Rama hiện lên với sự lí tưởng và con người trần thế, là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, là điểm sáng choi trong tác phẩm và là con người mẫu mặc, lí tưởng của thời đại.
Về nguồn gốc xuất thân.theo truyền thuyết, Rama là hóa thân thứ 7 của thần Visnu – đấng tối cao của đẳng cấp quý tộc Bà la môn. Visnu được giáng thế làm người cứu nhân loại ra khỏi vòng trầm luân đau khổ trong chiến tranh loạn lạc. Mục đích giáng trần vô cùng cao quý đó là cứu nhân độ thế, tiêu diệt cái ác, bảo vệ cái thiện. Lúc đó có con quỷ Ravana, rakshara 10 đầu độc ác, tự phụ do hắn đã được đấng Brahma ban sức mạnh bất diệt cho hắn và do hắn có khả năng làm cho các hành tinh quay chậm lại, thậm chí đứng lại khiến đấng Bhahma lo lắng đành chấp nhận mọi yêu cầu của hắn để cứu lấy vũ trụ. Không 1 ai có thể tiêu diệt hắn trừ con người và muông thú trên trái đất, do hắn đã quá khinh mạn. Vì vậy, Rama được hóa thân với trong trách tiêu diệt quỷ Ravana.
Trước hết, Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hindu vằ đẳng cấp vương công quí toojcKsatrya, đồng thời cũng thể hiện khát vọng của nhân dân đương thời là muốn có 1 vị minh quân, 1 vị anh hùng tài ba, đức độ và dũng cảm để bảo vệ mình cứu mình ra khỏi đau khổ, đem lại công lí và hạnh phúc xã hội.
Đi suốt chiều dài tác phẩm, chàng Rama đã được các nghệ sĩ dân gian miêu tả ở mọi góc độ, mọi phương diện. Chàng là hoàng tử thông minh, tài giỏi nhất trong 4 vị hoàng tử, là người duy nhất được đạo sĩ lựa chọn, chàng hơn hẳn các em về trí tuệ, nhân cách và lòng quả cảm, do vậy mà chàng được mọi người yêu mến, dân chúng vui mừng, ủng hộ lên ngôi vua. Chàng là người biết quí trọng danh dự, thực hiện bổn phận của 1 người con, 1 vị vua nhân đức. Cha của Rama – đức vua Darasatha trước kia đã từng hứa với thứ phi Kakeyi sẽ thực hiện 2 lời hứa bất kì của bà ta. Vào trước hôm Rama lên ngôi vua, Kakeyi đã nhắc lại với nhà vua điều hứa năm xưa và muốn nhà vua nhường ngôi cho con trai bà ta – Bharata thay vì Rama, và nhà vua phải ra lệnh cho Rama chịu lưu đày trong rừng 14 năm. Vì không muốn cha phải trở thành kẻ thất hứa bị mọi người chê cười, muốn bảo vệ danh dự cho cha, Rama đã thực hiện lời hứa của cha với thứ phi Kakeyi cho dù chàng hoàn toàn có thể ở lại và dù Bharata cũng từ chối ngôi vua này. Rama xuất thân là 1 hoàng tử, đang sống trong nhung lụa nhưng đã từ bỏ cuộc sống cao sang, phú quý nơi cung đình điện ngọc để vào rừng. Lời hứa của cha là danh dự, danh dự của cha chính là danh dự của mình và của cả dòng giống, Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cha , đó là bổn phận người làm con – Đây là những tiêu chuẩn đạo đức của đẳng cấp và xã hội Ấn Độ đương thời.
Rama có sức mạnh phi thường, võ nghệ cao cường, lòng nhân đức cao cả. Chàng có đôi mắt sáng như mặt trời và mặt trăng, có đôi tai thấu nhạc của trời đất, là kẻ thù của mọi sự ghen tương, giận hờn và tội ác tàn bạo, đã vượt qua mọi gian nan thử thách, chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ tình yêu và hạnh phúc, đem lại công lí, cuộc sống yên vui cho mọi người.
Rama có ngoại hình miêu tả phù hợp với tiêu chí thời đại, 1 hoàng tử tuấn tú và sức khỏe phi thường, chàng giống như 1 vị thần cõi trần gian. Thực tế ngoại hình chàng không được miêu tả cụ thể mà chỉ nhắc đến như 1 yếu tố tô dậm vẻ đẹp của chàng. Sức mạnh của chàng được thể hiện qua các hành động. Từ nhỏ Rama đã được rèn luyện, được giáo dục 1 cách khuôn phép, có nguyên tắc. Chàng là người duy nhất nhấc được cây cung thần, cung rất to và nặng chỉ có thể giương bằng 1 chiếc xe có 8 bánh khổng lồ và chưa 1 ai có thể nâng cung lên để bắn. Vậy mà Rama có thể nhẹ nhàng nâng cung lên, kéo dây 1 cách dễ dàng. Cũng nhờ vây mag Rama có thể lấy được nàng Sita – con vua Janaka- xinh đẹp, hiền thục về làm vợ. Sau khi rời bỏ địa vị để vào rừng Rama đưa vợ (nàng Sita) và người em trai Lakshamana theo, họ hạnh phúc sống bên nhau trong rừng. Trong khi tu luyện nơi này, chàng đã lập được rất nhiều chiến công giúp cho nhân loại tránh khỏi tai ương. Chàng dã tiêu diệt rất nhiều quỷ dữ: Con quỷ Vali, quỷ khổng lồ vô địch, đánh quỵ trâu thần Dundubbi. Rama diệt trừ quỷ Thataka và đặc biệt là quỷ vương Râvana. Với tinh thần hiệp nghĩa, Rama đã chiến đấu giành lại ngôi báu cho Sugriva khi Sugriva bị quỷ Vali cướp vợ và đuổi đi. Đây là hành động thể hiện ước mơ công lí của người Ấn Độ. Trong bất ức hoàn cảnh chiến đấu nào, Rama vẫn cứ thể hiện được khí phách hào hùng của 1 chiến sĩ Ksattrya. Chàng là người có sức mạnh, biết sử dụng chiếc cung thần mà Brahma cung cấp, chiếc cung thu hồi gió vào đôi cánh, sức nóng mặt trời vào đầu cung, sức nặng của núi vào thân cung, để xuyên thủng ngực Ravana, kẻ thù của mình.
Đạo đức của Rama là khuôn vàng thước ngọc của đẳng cấp Ksatrya. Có thể nói, toàn bộ ý chí, tình cảm, tài năng và sức mạnh chiến thắng của nhân dân được khái quát thành biểu tượng người anh hùng này. Con người luôn bênh vực điều thiện, chống lại điều ác cứu người hiền, đặc biệt là phụ nữ.
Ngoài một con người lí tưởng, Rama còn thể hiện con người trần thế của mình. Điều này thể hiện ở tình cảm, trách nhiệm của Rama với nàng Sita.
Rama là người đại diện cho vẻ đẹp thời đại. Chàng là người chung thủy, yêu Síta hết mực. Yêu Sita ngay từ cái nhìn đầu tiên khi chàng nhìn thấy, và chàng đã vượt qua mọi thử thách để lấy được nàng 1 cách đường hoàng. Chàng đã bẻ gãy cây cung mà đức vua Janaka đã thách đố. Lúc Sít bị Ravana bắt đi, chàng than khóc vật vã, đau đớn khôn nguôi và còn nói rằng: quốc gia, ngai vàng sẽ chẳng là gì nếu để mất Sita. Ở Rama luôn tồn tại 2 con người: con người bổn phận và con người tình yêu. Khi buộc phải lựa chọn, Rama sẽ chọn lựa con người bổn phận. Chính điều này đã đẩy tình yêu giữa chàng và Sita vào bi kịch. Khi chiến thắng được quỷ Ravana, Rama đã nghi ngờ phẩm tiết của Síta, trì hoãn gặp nàng, cảnh gặp gỡ không phải ở trong 1 không gian tâm tình mà là giữa đông đảo nhân dân, quần chúng khiến cho Sita phải chọn cách tự thiêu để chứng minh. Trong “Rama buộc tội”, không khí căng thẳng như 1 phiên tòa mà quan thẩm ohans là Rama còn bị cáo là Sita. Thái độ của chàng thể hiện thái độ ghen tuông cực độ của chàng. Lòng ghen đó đã khiến cho 1 vị minh quân vốn sáng suốt mất đi sáng suốt vốn có. Chàng không chấp nhận 1 người vợ không còn trong trắng. Chàng nhẫn tâm để vợ mình bước lên giàn hỏa thiêu. CHỉ đến khi ngọn lửa bùng cháy, thần Agni đã làm chứng cho sự trong sạch của nàng thì Rama mới nhận ra lòng chung thủy, kiên trinh của Sita. Rama tuy xuất thân từ thánh thần Visnu giáng thế, là bậc quân vương, vị anh hùng nhưng chàng cũng vẫn có đủ mọi cung bậc tình cảm của con người trần tục. Chàng yêu yêu say đắm, hết mình nhưng ghen cũng cực độ, có lúc oai phong lẫm liệt, nhưng cũng có lúc mềm yếu nhu nhược, có lúc vị tha nhưng cũng có lúc nhỏ nhen, ích kỉ.
Ngòi bút xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lí vô cùng tinh tế, xuất sắc, sánh ngang với đại thiên tài W. Shakespeare. Ngòi bút nghệ thuật của Valmiki đã lột tả 1 Rama rất “người” khiến cho nhân vật này vượt qua 1 nhân vật sử thi thông thường, vượt lên trên mọi ước lệ, khuôn sáo thừng thấy. Phan Ngọc nhận định rằng “Cái kì diệu nhất vẫn là tài phân tích tâm lí nhân vật. Có thể nói, không quá đáng khi nói rằng chỉ đến lúc W.Shkespeare xuất hiện thì Valmiki mới có đối thủ.
Mẫu 9
Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” có vị trí nằm ở khúc ca thứ sáu, chương 79 trong Ra-ma-ya-na. Nhất là sau khi chiến thắng Ra-va-na, Ra-ma cứu được nàng Xi-ta trở về. Có thể thấy được dau khi giải quyết những xung đột lớn của xã hội, của cộng đồng rồi thì đến lượt Ra-ma lúc này đây chàng cũng phải tự giải quyết xung đột cá nhân. Chính cái cơn ghen tuông, rồi một mối nghi ngờ về lòng chung thủy, sự trong sạch của Xi-ta dường như cũng đã nổi lên trong lòng Ra-ma như là đỉnh điểm của mọi xung đột. Và chính với tình tiết này làm tăng thêm tính hấp dẫn của tác phẩm và cả nhân vật cũng bộc lộ được tính cách của mình, điển hình là Ra- ma.
Ra-ma cứu Xi-ta là vì danh dự nhưng buộc tội rồi chính chàng cũng ruồng bỏ nàng cũng là vì danh dự. Thực sự chúng ta không thể khẳng định rằng Xi-ta không còn trong sáng thế nhưng Ra-ma cùng không thể chấp nhận bất cứ một sự mờ ám nào có thể làm ảnh hưởng tới danh dự và vinh quang của chàng. Thông qua đây người đọc cũng phần nào hiểu được tính cách của Ra – ma là một người chính trực, ngay thẳng, rất phân minh.
Có thể nói rằng đối với người anh hùng thời xưa, danh dự là yếu tố quan trọng nhất, bởi vậy tuy vừa cứu Xi-ta xong lại ruồng bỏ nàng, nhưng những hành động của Ra-ma vẫn rất nhất quán. Rất nhiều, có thể nhận thấy mâu thuẫn trong lòng Ra-ma là mâu thuẫn giữa tình yêu và danh dự. Nhân vật Ra-ma tuy xuất thân là thần thánh, đồng thời cũng chính lại là bậc quân vương nhưng tính cách, tình cảm của chàng không khác con người bình thường. Thế rồi chính chàng yêu hết mình, ghen cực độ, đồng thời sẽ có lúc oai phong lẫm liệt nhưng có lúc quá mềm yếu, có lúc cao thượng vị tha. Không chỉ thế mà người đọc còn nhận thấy Ra – ma có lúc quá nhỏ nhen ích kỉ. Người đọc có thể nhận thấy được cái tối – sáng, cái xấu – tốt, cái thiện – ác luôn luôn tương phản trong tính cách của Ra-ma.
Xây dựng lên nhân vật Ra-ma lúc này đây như cũng được miêu tả rất “đời thường”, sự biến đổi tâm lí thật sắc sảo, vượt qua được mọi ước lệ cứng nhắc và khuôn sáo. Nhân vật Xi – ta muốn để cho Ra-ma tin mình, Xi-ta đã bình thản bước vào ngọn lửa với một lời cầu nguyện tới Thần Lửa A-nhi. Và có thể thấy được ánh lửa cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn trong đời sống Ấn Độ. Ánh lửa như đã tượng trưng cho sự quang minh chính đại. Người đọc có thể nhận thấy được chính với hành động khoan thai bước vào ngọn lửa của Xi-ta được coi là đỉnh cao chói lọi trong tính cách của Xi – ta cũng như thấy được tính cách của Ra-ma luôn bất nhất, không dao động.
Với đoạn trích “Ra-ma buộc tội” cũng được cấu tạo bởi hai yếu tố tự sự: lời kể, lời thoại, thế nhưng lời thoại chiếm vị trí quan trọng nhất. Người đọc có thể nhận thấy được lời thoại vừa tham gia vào quá trình phát triển của câu chuyện. Câu chuyện như cũng vừa đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng, thêm với đó chính là tâm trạng và cảm xúc của các nhân vật. Chính với lời Ra-ma lạnh lùng, lời Xi-ta đẫm trong nước mắt thể hiện sự đau khổ tột cùng của nàng.
Đọc đoạn trích cùng với nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả thể hiện rõ nhất qua hai hình tượng Ra-ma. Người đọc có thể thấy được tâm trạng của Ra-ma được thểhiện qua xung đột tâm lí. Nhất là sau khi giải quyết những xung đột cộng đồng thì Ra-ma lúc này đây cũng phải giải quyết xung đột cá nhân, trong đó đỉnh điếm là cơn ghen tuông và mối nghi ngờ về đức hạnh của Xi-ta. Mâu thuẫn trong con người Ra-ma thì lại thể hiện sự mâu thuẫn giữa danh dự, bổn phận và cả tình yêu nữa. Nhân vật Ra – ma ghen tuông cực độ, chàng sẵn sàng để cho ngọn lứa ghen tuông đốt cháy mình và ruồng bỏ Xi-ta. Không những thế thì Ra-ma cũng luôn luôn sẵn sàng chấp nhận để cho Xi-ta nhảy vào lửa.
Tóm lại, đoạn trích Ra-ma buộc tội thể hiện rõ phẩm chất cao quý của nhân vật Xi-ta thủy chung. Đặc biệt đó là tính cách Ra-ma, người anh hùng sử thi Ấn Độ. Hình tượng nhân vật Ra – ma sẽ không bao giờ phai nhòa được trong ký ức của mỗi chúng ta.
Mẫu 10
Tác phẩm Ra-ma-ya-na có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đây là một trong những bộ sử thi vĩ đại nhất của Ấn Độ nói riêng và của thế giới nói chung. Đoạn trích Ra-ma buộc tội nằm ở khúc ca thứ 6 chương 79 với tình huống truyện hết sức đặc sắc qua đó thể hiện được những phẩm chất, tính cách của hai nhân vật chính là Ra-ma và Xi-ta.
Ra-ma hiện lên là một người anh hùng, kiên cường, dũng cảm đã đánh bại quỷ vương để cứu người vợ thân yêu của mình trở về. Trong đoạn trích, Ra-ma còn hiện lên với những phẩm chất, tính cách khác mà trước hết là tình yêu với vợ. Tình yêu đó được thể hiện ở quyết tâm đi cứu vợ khỏi quỷ vương Ra-va-na. Vợ rơi vào tay kẻ thù chắc chắn một người chồng sẽ đi cứu vợ và Ra-ma cũng không phải một ngoại lệ. Chàng cứu được Xi-ta vừa vui, vừa lo âu, buồn bã. Tình yêu còn được thể hiện trong sự ghen tuông rất đỗi đời thường, vợ rơi vào tay một người đàn ông khác lâu như vậy, nếu yêu vợ chẳng có ai lại không ghen, lời nói, hành động ruồng bỏ của Ra-ma cũng là vì lẽ ghen tuông ấy mà ra. Ngoài ra, tình yêu của chàng với Xi-ta còn được thể hiện ở nỗi lòng của Ra-ma khi phải buộc tội vợ, lòng chàng đau như cắt, mỗi lời chàng nói ra như có trăm ngàn vết dao cứa vào tim. Nhưng chàng không thể làm điều gì khác ngoài lời buộc tội ấy, bởi ngoài tư cách là một người chồng, chàng còn là vị quân vương tương lai sau này.
Những bên cạnh đó, Ra-ma còn hiện lên với tư cách công dân, vị quân vương tương lai, trọng danh dự, nhân phẩm. Bởi vậy dẫn đến hành động quyết liệt từ bỏ vợ. Hành động của Ra-ma cho thấy chàng luôn luôn đứng trên quyền lợi của cộng đồng để ra quyết định, điều đó cho thấy Ra-ma là người biết nhìn xa trông rộng, bởi lẽ yêu thương luôn đi liền với danh dự, bỏ mất danh dự tình yêu thương chỉ còn là sự thương hại. Điều này khiến cho trong Ra-ma nảy sinh mẫu thuẫn một mặt muốn yêu thương, bảo vệ Xi-ta mặt khác lại muốn bảo vệ danh dự dòng dõi. Tuy có xung đột như vậy nhưng quyết định cuối cùng vẫn phải trên lập trường nhân vật, cộng đồng. Đây chính là vẻ đẹp nói chung của các vị anh hùng trong sử thi, đặt quyền lợi cá nhân sau quyền lợi cộng đồng, kiên quyết bảo vệ danh dự đến cùng.
Về phía Xi-a nàng cũng mang trong mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đầu tiên phải kể đến là tình yêu, sự thủy chung của nàng với Ra-ma. Trong những ngày bị quỷ vương bắt nàng luôn giữ gìn tiết hạnh, không cho quỷ vương động đến người mình, bởi cả thể xác và tâm hồn nàng đều thuộc về Ra-ma. Khi Ra-ma đánh thắng quỷ vương, nhận được tin đó Xi-ta nóng lòng muốn gặp lại ngay người chồng yêu thương của mình. Nàng bỏ cả điểm trang, nàng bỏ qua tục lệ tắm rửa vì muốn đến gặp chồng cho nhanh. Việc làm đó chứng tỏ tình yêu nồng nhiệt, cháy bỏng Xi-ta giành cho chồng.
Nhưng đồng thời nàng cũng là một phụ nữ hết sức thông minh, hành động kiên quyết để chứng minh phẩm giá, sự trong sạch của bản thân. Khi gặp chồng nàng phải đứng trước không gian cộng đồng, ngay lập tức nàng đã hiểu ý nghĩa cuộc gặp gỡ này, nàng tỏ ra vô cùng khiêm nhường trước Ra-ma. Bị Ra-ma đặt vào tình thế bất ngờ, từ niềm mong mỏi được gặp chồng nàng bỗng bị đặt trước những lời phán xét cay nghiệt của chính người mà mình yêu thương, nàng đã đưa ra những lí lẽ để chứng minh sự trong sạch của bản thân.
Lập luận của nàng hết sức chặt chẽ, có trước có sau, giọng điệu từ tốn mà vô cùng kiên quyết. Nàng trách Ra-ma đã không suy xetsm đánh đồng nàng với những phụ nữ tầm thường: “giống như kẻ thấp hèn chửi mắng một con mụ thấp hèn”. Và nàng khẳng định phẩm hạnh, tư cách của mình, với những lời lẽ thanh minh hết sức sắc sảo “Ra-va-na đã đụng đến thiếp khi mà thiếp đang chết ngất đi, làm thế nào tránh được”, còn khi nàng tình táo, nằm trong tầm kiểm soát thì “trái tim thiếp đây, là thuộc về chàng”. Những lập luận đanh thép vừa cho thấy tình yêu với Ra-ma vừa cho khẳng định sự trong sạch của Xi-ta. Xi-ta thay đổi cách xưng hô, khi gọi Ra-ma là chàng tự xưng mình là thiếp, khi lại gọi Ra-ma là đức vua. Không chỉ vậy, lời thoại của nàng còn hướng đến những người xung quanh, như một cách để thanh minh, bào chữa cho chính mình.
Nhưng lời bào chữa cũng không thể lấy được niềm tin của Ra-ma, nàng đi đến một hành động kiên quyết, đặt cược cả mạng sống của mình bằng cách tự thiêu, nhờ thần lửa A-nhi chứng minh cho sự trong sạch của bản thân. Nàng bước lên tự tin, không chút sợ hãi, bởi nàng trong trắng, vô tội nên các vị thần linh sẽ chứng giám cho sự trong trắng toàn vẹn của nàng. Với hành động đó, Xi-ta vừa chứng minh được trước toàn thể cộng đồng sự trong sạch, nhân phẩm cao quý của mình, vừa loại bỏ mọi sự ghen tuông đang ngùn ngụt trong lòng Ra-ma. Hành động của Xi-ta còn cho thấy, tự bản thân nàng cũng ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong cộng đồng. Bởi vậy nàng phải tìm mọi cách để chứng minh, bảo vệ danh dự cá nhân, danh dự cộng đồng. Ý thức về danh dự, nhân phẩm chính là yếu tố qua trọng nhất ở cả Ra-ma và Xi-ta.
Để tạo nên thành công trong việc xây dựng hai nhân vật ta cần phải kể đến nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc, giúp các nhân vật bộc lộ phẩm chất bản thân. Ngôn ngữ nhân vật tài tình, tinh tế giúp diễn tả được tâm trạng nhân vật. Ngôn ngữ thường tập trung thuyết giảng đạo đức dựa trên lí tưởng cộng đồng. Nghệ thuật so sánh được vận dụng linh hoạt, giúp tái hiện tâm lí nhân vật.
Phân tích nhân vật Thị Mầu trong vở chèo Thị Mầu lên chùa (Trích chèo Quan Âm Thị Kính). (10 mẫu)
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 1)
Theo em, nhân vật Thị Mầu là một người phụ nữ táo bạo, mạnh dạn và đầy mãnh liệt trong việc thể hiện tình yêu của chính mình. Mặc cho sự khắt khe của các hủ tục phong kiến, Thị mạnh dạn nói lên tình cảm, những điều mình suy nghĩ thành lời, cho mọi người cùng thấy, cùng nghe và không có chút gì gọi là xấu hổ hay miễn cưỡng. Đó là cách thể hiện tình yêu đầy chân thật, phóng khoáng nhưng cũng có chút hơi quá của Thị Mầu. Nhưng nhờ những chi tiết đó ta thấy được mức độ ái mộ của Thị Mầu đối với Tiểu Kính là lớn đến đâu, nhiều như thế nào.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 2)
Thị Mầu là cô gái cá tính, dám theo đuổi hạnh phúc của bản thân. Cô sẵn sàng vượt qua định kiến, quy chuẩn xã hội thời bấy giờ đặt ra với người phụ nữ để đi tìm tình yêu.
Qua đoạn trích, người đọc có thể thấy một Thị Mầu cá tính đến nhường nào. Là người phụ nữ, cô sẵn sàng vượt quy chuẩn xã hội phong kiến đặt ra. Cô khao khát hạnh phúc, đi tìm tình yêu cho bản thân. Người phụ nữ theo quan điểm xưa, không có tiếng nói thì với sự xuất hiện của Thị Mầu, là một phiên bản mới lạ. Cô không quan tâm đến tiếng xì xào của người đời, miễn là hạnh phúc của mình, cô muốn được theo đến cùng. Tuy nhiên, ngặt nỗi, người cô thương lại là người xuất gia, và đấy thực ra là Thị Kính giả trai.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 3)
Thị Mầu là người con gái có cá tính riêng, dám vượt qua khuôn khổ vốn có của Nho Giáo để bày tỏ và thể hiện mình, Thị Mầu như đại diện cho bao nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa. Tuy những hành động của Mầu trong chùa là điều không nên làm nhưng bởi sự hối thúc, khao khát của tình yêu mà lí trí bị lu mờ.
Nhân vật Thị Mầu trong chèo cổ biểu hiện cho một phẩm chất khác của người phụ nữ Việt Nam đó là khát khao yêu đương. Đây là quyền cơ bản của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Khi lớn lên phải được tự do tìm hiểu, yêu đương và phải lấy người mình yêu. Nhưng đối lập với quyền ấy trong xã hội phong kiến là một lớp sơn đạo đức giả tạo của chế độ hà khắc để trói buộc bao người phụ nữ phải tuân theo “tam tòng” , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ không được lựa chọn tình yêu và hạnh phúc của riêng mình. Cô ý thức tự do trong tình yêu bộc lộ ở lời nhủ mình và khuyên chị em chớ nghe họ hàng. Thị Mầu là con người của nghệ thuật.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 4)
Thị Mầu là người con gái không giống với những cô gái khác trong xã hội xưa, một người con gái cá tính. Việc làm của Thị Mầu dù đúng hay sai cũng thể hiện khao khát của bao người phụ nữ khác ở xã hội xưa hay ở bất kì thời đại nào.
Nhân vật Thị Mầu đáng thương hơn đáng trách, có khi còn quá xót xa, thông cảm cho nhân vật này. Thị Mầu dám sống, dám yêu và dám làm những việc chống lại xiềng xích của chế độ cũ, không cho phụ nữ được thể hiện mình, chôn vùi cuộc đời họ bằng nhiều hình thức. Thị Mầu là con gái phú ông, là người có nhiều tính xấu những số phận cugx giống như Thị Kính và những người phụ nữ khác, số phận đều bế tắc, không có lối thoát.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 5)
Thị Mầu là người con gái có cá tính riêng, đại diện cho những người phụ nữ dưới thời đó dám vượt qua khuôn khổ để bày tỏ và thể hiện mình, và thể hiện nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa. Tuy nhiên những hành động của Mầu trong chùa là điều không nên làm nhưng bởi sự hối thúc, khao khát của tình yêu mà lí trí bị lu mờ. Nhân vật đã được xây dựng là người con gái lẳng lơ, không phải là người con gái theo quan niệm “tam tòng tứ đức” của thời xưa, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Qua đó, ta càng thấy được thông qua hình ảnh Thị Mầu để nói lên những nỗi lòng của người phụ nữ xưa.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 6)
Khi đọc đoạn trích "Thị Mầu lên chùa", em không khỏi ấn tượng với nhân vật Thị Mầu. Thị Mầu trong văn bản hiện lên với vẻ lẳng lơ, táo bạo, điều này được thể hiện rõ qua lời nói và hành động cụ thể. Nhân ngày rằm, Thị Mầu vào chùa để tiến cúng. Chùa chiền là chốn trang nghiêm, vậy mà Mầu lại có những lời nói không phù hợp. Nhìn thấy chú tiểu đẹp thì mê, Mầu tự hỏi "Người đâu mà đẹp như sao băng thế nhỉ?". Cảm thấy câu từ của mình chưa đủ làm Tiểu Kính rung động, Mầu tìm chỗ nấp, xông ra nắm tay, đòi quét chùa thay Tiểu Kính. Có thể nói, Thị Mầu là người phụ nữ thiếu đứng đắn, không phù hợp với chuẩn mực của con người trong xã hội phong kiến xưa.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 7)
Nhân vật Thị Mầu trong đoạn trích "Thị Mầu lên chùa" đã để lại cho em ấn tượng về người phụ nữ lẳng lơ, táo bạo. Thị Mầu lên chùa để cúng tiến ngày rằm nhưng thị lại có những hành động và lời nói thiếu tôn trọng. Thị Mầu thấy chú tiểu đẹp thì buột miệng khen. Thay vì bày tỏ sự thành kính với bậc tu hành, Mầu lại đem lòng si mê chú tiểu. Thị Mầu không hề quan tâm đến lễ Phật mà chỉ chú tâm bày tỏ tình cảm với Tiểu Kính, sỗ sàng thốt lên "Mô với chả Phật!" ngay chốn nhà chùa. Cảm thấy lời nói của mình chưa đủ sức lay động lòng người, thị nấp vào một chỗ chờ Kính Tâm đi ra rồi xông vào nắm tay khiến Kính Tâm sợ hãi bỏ chạy. Có thể thấy, Thị Mầu là người phụ nữ phá vỡ nguyên tắc "tam tòng tứ đức" trong xã hội phong kiến xưa.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 8)
Đọc đoạn trích "Thị Mầu lên chùa", em rất ấn tượng về nhân vật Thị Mầu. Mầu là người phụ nữ lẳng lơ, đối lập với vẻ đoan trang, đức hạnh của Thị Kính. Nhân ngày rằm, Thị Mầu chuẩn bị gạo và tiền để lên chùa cúng lễ. Khi vừa bước vào cửa nhà Phật, Thị Mầu ngay lập tức lộ bản chất phóng túng, táo bạo của mình thông qua cuộc đối đáp với chú tiểu Kính Tâm "Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng đấy thầy tiểu ơi! Chưa chồng đấy nhá!". Mặc sự ngó lơ của Kính Tâm, Thị Mẫu vẫn tiếp tục ve vãn bằng lời nói không phù hợp "Người đâu mà đẹp như sao băng thế nhỉ?", "Người đâu đến ở chùa này/ Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang". Không chỉ vậy, Mầu còn có những hành động xấu xí ở nơi tôn nghiêm. Nàng xông ra, nắm tay Tiểu Kính để nhận quét chùa thay. Khi không thể lôi kéo chú tiểu, Mầu đã nói mấy lời sỗ sàng "Mô với chả Phật!". Qua đây, em thấy được Thị Mầu là người phụ nữ đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức trong xã hội xưa.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 9)
Nhân vật Thị Mầu là hình ảnh tiêu biểu về một người phụ nữ lẳng lơ trong xã hội phong kiến. Khi bước vào ngưỡng cửa nhà Phật, thấy chú tiểu khôi ngô, tuấn tú, Thị Mầu không hề ngại ngùng mà trực tiếp buông lời trêu ghẹo. Mầu dùng lời nói phóng túng để cố gắng ve vãn Kính Tâm. Tiếp đó, Thị Mầu còn có những hành động không phải phép tại nơi tôn nghiêm. Nàng tìm chỗ trốn nấp để được "nắm tận tay chú tiểu". Khi thấy Tiểu Kính quét sân chùa, Thị Mầu trực tiếp phá vỡ lễ nghi phong kiến "nam nữ thụ thụ bất thân". Nàng sỗ sàng xông ra, nắm tay chú tiểu và tranh việc quét sân. Cuối cùng, mọi cố gắng không được đáp lại, Thị Mầu đã có lời lẽ xấu xí "Mô với chả Phật!". Từ đây, các tác giả dân gian đã khắc họa thành công bức chân dung Thị Mầu lẳng lơ, táo bạo, đi ngược lại với các giá trị đạo đức tốt đẹp.
Theo em, nhân vật Thị mầu là người như thế nào (mẫu 10)
Thị Mầu là người con gái có cá tính riêng, dám vượt qua khuôn khổ vốn có của Nho Giáo để bày tỏ và thể hiện mình, Thị Mầu như đại diện cho bao nỗi khát vọng của người phụ nữ xưa. Tuy những hành động của Mầu trong chùa là điều không nên làm nhưng bởi sự hối thúc, khao khát của tình yêu mà lí trí bị lu mờ. Nhân vật Thị Mầu trong chèo cổ biểu hiện cho một phẩm chất khác của người phụ nữ Việt Nam đó là khát khao yêu đương. Đây là quyền cơ bản của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Khi lớn lên phải được tự do tìm hiểu, yêu đương và phải lấy người mình yêu. Nhưng đối lập với quyền ấy trong xã hội phong kiến là một lớp sơn đạo đức giả tạo của chế độ hà khắc để trói buộc bao người phụ nữ phải tuân theo “tam tòng” , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ không được lựa chọn tình yêu và hạnh phúc của riêng mình. Cô ý thức tự do trong tình yêu b
Phân tích nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Xúy Vân giả dại (Trích chèo Kim Nham). (10 mẫu)
Mẫu 1
Chèo là một loại hình sân khấu dân gian kết hợp nghệ thuật hát, múa, diễn rất hài hoà. Các làn điệu chèo rất phong phú, đa dạng; lời chèo thấm quyện ca dao, dân ca một cách tài tình. Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian lâu đời của dân tộc ta.
Những vở chèo như “Quan Âm Thị Kính”, “Trương Viên”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nhan”… rất nổi tiếng, được các thế hệ ông bà, cha mẹ chúng ta yêu thích. Sau mùa gặt bội thu hay đầu xuân, nhiều làng quê mở hội chèo, tiếng trống chèo rung lên sau luỹ tre xanh, gợi lên bao xao xuyến trong lòng người:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay… ”
(Nguyễn Bính)
Chèo là một loại hình sân khấu dân gian kết hợp nghệ thuật hát, múa, diễn rất hài hoà. Các làn điệu chèo rất phong phú, đa dạng; lời chèo thấm quyện ca dao, dân ca một cách tài tình.
Những trích đoạn như “Thị Mầu lên chùa ”, “Xuý Vân giả dại ”, “Thị Phương dắt mẹ chồng chạy giặc”, “Tuần Ty gặp đào Huế”… được nhiều người yêu thích, xem mãi vẫn muốn xem, không chán.
Trích đoạn “Xuý Vân giả dại” nằm trong phần hai vở chèo “Kim Nhan”. Xa chồng lâu ngày, Xuý Vân dan díu với Trần Phương, bị dụ dỗ, nàng giả điên giả dại, lập mưu để Kim Nhan li dị. Với ánh mắt bốc lửa, tiếng hát đắm say, với bước đi, điệu lượn, cánh tay múa… như điên cuồng, nhân vật Xuý Vân từng để lại nhiều ấn tượng về lửa tình, về bi kịch tình yêu trong lòng khán giả. Nhiều nghệ sĩ chèo đã thành danh qua vai chèo “Xúy Vân giả dại”.
Mấy câu mở đầu, Xuý Vân xuất hiện (chưa xưng danh) từ nói lệch, đến hát xuôi, cô nàng quay cuồng với tâm trạng dở tỉnh dở điên, dở ngây dở dại. Cất tiếng than bà Nguyệt (trách duyên số) rồi réo cô đồng, rồi cất tiếng hát nói về con đò, con đò tình duyên của một cô gái chờ chồng, đợi chồng đi xa:
“Tôi là đò, đò nhỏ có thưa
Tôi càng chờ, càng đợi, càng trưa chuyển dò”.
Buồn và lo vì tuổi xuân sẽ trôi qua, như kẻ đứng trên bến vắng chờ đò “càng trưa chuyến đò” Những câu hát tiếp theo là những câu thơ lục bát phá thể, biến thể, thể hiện tâm trạng đầy bi kịch của người con gái đã có chồng (như gông đeo cổ) nên phải “lụy dò” lúc muốn “qua sông”, muốn dứt bỏ mối duyên tình cũ:
Chẳng nên gia thất thì về
Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười”
Chẳng cần chi úp mở, cô gái thổ lộ mối tình “gió giăng ” của mình, với niềm tin sẽ cùng với tình nhân “gió giăng” sống đến đầu bạc răng long, trọn vẹn “đạo hằng” thuỷ chung:
“Gió giăng thì mặc gió giăng
Đôi ta chỉ quyết đạo hằng với nhau”
Tâm trạng “nổi loạn” ấy của Xuý Vân cho đến nay vẫn còn làm cho nhiều khán giả ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Phải chăng đó là sự “bứt phá” đạo tam tòng tứ đức lễ giáo phong kiến của một người con gái đang “nổi loạn ”?
Sau tiếng hỏi của vai diễn và tiếng đế hô ứng của khán giả, Xúy Vân mới xưng danh:
“Chẳng giấu gì: tôi tên gọi Xuý Vân
Lấy Kim Nhan nhà khó gian truân
Chồng học vắng thầy ngày mong mỏi
Tôi ngồi từ tối Đợi khách tha nhang
Gái phải nằm hàng
Nghề dại dột… nhưng tài cao vô giá
Thiên hạ đồn tôi hát hay đã lạ"
Ai cũng gọi là cô ả Xuý Vân Phụ Kim Nhan say đắm Trần Phương Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại… ”
Rồi Xuý Vân cất điệu “hát con gà rừng” thể hiện một duyên phận trớ trêu, khác nào “Con gà rừng ăn lẫn với công”, vô duyên lấy phải anh chồng vai u thịt bắp, sống cuộc đời lam lũ: “Để anh đi gặt lúa, để cô nàng mang cơm”. Xuý Vân tự cho mình là con quan, cao môn lệnh tộc, còn Kim Nhan là con nhà nghèo hèn, cục mịch tầm thường.
Rồi nàng lại chuyển sang “hát xe chỉ” diễn tả tâm trạng mong nhớ “đợi chờ tình nhân”, ước ao khát khao muốn được cùng Trần Phương sống trong tình yêu hạnh phúc “Áo giải làm chiếu, chăn quây làm mùng”. Hát rồi nói, bộc lộ một tâm trạng cô đơn của cô gái đa tình:
“Tôi thương nhân ngãi
Tôi nhớ nhân tình
Đêm năm canh trằn trọc hoà năm
Than rằng nhân ngãi cựu tình đi đâu”?
Đoạn “hát ngược ” đã thể hiện tâm trạng trăm mối tơ vò của một cô gái giả dại mà ngọn lửa tình ngùn ngụt, mà nỗi khao khát dục tình cháy bỏng khôn nguôi. Giả dại, giả điên hay hóa cuồng? Ngược đời trong tự nhiên cũng là nghịch lí trong tâm trạng người con gái đa tình mà thất tình: “Muỗi ấp cánh dơi… Cái trứng gà mày tha con quạ lên ngồi trên cây…”
Rồi Xuý Vân như chợt bừng tỉnh, giải thích rõ cái dại, cái rồ, cái điên của mình:
“Rồi này ai bán thì mua
Dại này ai thấy không mơ mẩn tình
Lúc thì giả cách làm thinh
Lúc thì giả dại ra hình làm điên
Lúc thì tưởng đến nhân duyên
Cho nên đến nỗi phát điên, phát rồ”.
Trần Phương đã qua mụ quán xúi Xuý Vân giả dại để thoả tình giăng gió, gió giăng. Phải xem chèo và nghe chèo mới cảm thấy cái hay màn chèo “Xuý Vân giả dại”. Trích đoạn này đã làm nổi bật tâm trạng đau khổ của một cô gái đa tình mà thất tình, muốn dứt bỏ, đập phá mối quan hệ vợ chồng với Kim Nhan để chạy theo mối tình mới với Trần Phương – một Sở khanh mà nàng đâu biết.
Nỗi khát khao về tình yêu hạnh phúc lứa đôi, nỗi buồn cô đơn của người vợ trẻ trong cảnh ngộ “thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây” của Xuý Vân là điều có thể cảm thông và thương cảm. Xuý Vân giả dại là khởi đầu của một sự trượt dốc để không bao lâu thân tàn ma dại trở thành hành khất, rồi bị điên, rồi tự tử. Cái kết cục bi thảm đó đã làm cho cảm hứng nhân đạo thấm sâu vai chèo, màn chèo. Cái bánh vẽ tình yêu mà Trần Phương trao cho Xuý Vân, nàng tưởng là ngọt ngào nhưng vô cùng cay đắng.
Màn chèo Xuý Vân giả dại đã thể hiện sâu sắc quan niệm của nhân dân về tình yêu lứa đôi, về sự đau khô dại khờ trong tình yêu lứa đôi. Câu hỏi được đặt ra: “Thế nào là tình yêu hạnh phúc gia đình chân chính?” cứ xoáy sâu mãi vào những người yêu thích chèo Kim Nham.
Mẫu 2
Thuộc loại hình sân khấu dân gian, chèo được hình thành và phát triển ở nước ta từ rất sớm. Những vở chèo nổi tiếng nhất có thể kể đến như: Quan âm Thị Kính, Kim Nhan…những vở chèo không chỉ nhằm mục đích giải trí mà thông qua vở chèo các tác giả dân gian đã gửi gắm biết bao quan niệm về nhân sinh. Chèo đối với cuộc sống của con người đã trở nên vô cùng quen thuộc, chẳng những vậy mà nhà văn Nguyễn Bính cũng từng viết:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay… ”
Trong những trích đoạn chèo hay và nổi tiếng nhất có thể kể đến, đó chính là Xúy Vân giả dại. Trích đoạn chèo này thuộc vở chèo Kim Nham, nói về việc Xúy Vân có những dan díu bất chính với tình nhân là Trần Phương khi chồng vắng nhà. Để có thể đến được với Trần Phương, Xúy Vân đã quyết định giả dại để làm lí do có thể li hôn với Kim Nhan.
Ở phần mở đầu, Xúy Vân xuất hiện với những tiếng hát và hành động quay cuồng, tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, nửa ngây nửa dại. Xúy Vân đã cất tiếng hát than thở với bà Nguyệt về tình duyên của mình, sau đó Xúy Vân đã mượn hình ảnh con đò tình duyên để nói về mình, một người phụ nữ mòn mỏi chờ chồng, hạnh phúc dang dở.
“Tôi là đò, đò nhỏ có thưa
Tôi càng chờ, càng đợi, càng trưa chuyến đò”
Tuy lời hát xuất phát từ trạng thái nửa tỉnh nửa ngây nhưng qua lời hát ấy chúng ta vẫn có thể cảm nhận được tâm trạng đầy đau khổ, day dứt của một cô gái đang lo lắng trước tuổi xuân đang trôi qua, hình ảnh của cô gái ấy như một người lữ khách đứng trên bến đò vắng nhưng chưa thấy bóng dáng con đò.
Ở những câu hát tiếp theo, dưới hình thức của những câu thơ lục bát biến thể, Xúy Vân đã thể hiện được tâm trạng của một người con gái đã có chồng, tự do bị trói buộc, mọi thứ đều phải phụ thuộc vào chồng. Muốn qua sông lần nữa thì phải dứt bỏ tình duyên cũ với chồng:
“Chẳng nên gia thất thì về
Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười”
Xúy Vân không phủ định mà thừa nhận tình cảm đổi thay của mình, cô gái ấy luôn khát khao tình yêu và có một niềm tin mãnh liệt vào một tương lai đầy hạnh phúc với tình nhân mới củy mình.
“Gió giăng thì mặc gió giăng
Đôi ta chỉ quyết đạo hằng với nhau”
Hình ảnh Xúy Vân mạnh mẽ tìm đến tình yêu của mình đã từng bị coi là hành vi phá bỏ những giá trị đạo đức phong kiến, phá vỡ đạo tam tòng tứ đức, trở thành một người nổi loạn chẳng quá cũng vì quá khát khao tình yêu và đắm chìm trong tình yêu ấy đến nỗi không thể thoát ra được.
Sau những tâm sự, trước tiếng hỏi của vai diễn cũng như sự hô ứng của tác giả thì nhân vật Xúy Vân mới bắt đầu giới thiệu về mình:
“Chẳng giấu gì: tôi tên gọi Xúy Vân
Lấy Kim Nhan nhà khó gian truân
Chồng học vắng thầy ngày mong mỏi
Khi đã giới thiệu về bản thân mình. Xúy Vân cũng đã mạnh dạn thừa nhận mình đã phụ tấm lòng của Kim Nhan mà say đắm tình nhân trong hiện tại là Trần Phương, dẫu biết là sai trái nhưng tình cảm nào chịu nghe theo sự chi phối của lí trí:
“Phụ Kim Nham say đắm Trần Phương
Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”
Nhưng cũng có những lúc Xúy Vân chợt bừng tỉnh khỏi cơn mê để nhận thức được cái dại khờ của mình:
“Rồ này ai bán thì mua
Dại này ai thấy không mơ mẩn tình
Lúc thì giả cách làm thinh
Lúc thì giả dại ra hình làm điên”
Trích đoạn Xúy Vân giả dại đã làm nổi bật lên tâm trạng nhiều đau khổ, day dứt của Xúy Vân, một cô gái đa tình mà đành phụ tình, đi theo tình yêu mới. Tuy nhiên nàng cũng không hề hay biết rằng người mà mình yêu say đắm Trần Phương lại là một tên Sở Khanh không hơn không kém.
"Xúy Vân giả dại" là một trong những trích đoạn tiêu biểu của vở chèo "Kim Nham". Đây được đánh giá là lớp chèo xuất sắc của nền chèo cổ. Văn bản "Xúy Vân giả dại" không chỉ ẩn chứa những hấp dẫn về mặt nội dung mà còn thể hiện sự độc đáo của các yếu tố nghệ thuật.
Mẫu 3
Chèo "Kim Nham" xoay quanh câu chuyện giữa ba nhân vật chính là Kim Nham, Xúy Vân và Trần Phương. Sau khi nên vợ nên chồng với Xúy Vân, Kim Nham tiếp tục lên kinh đô dùi mài kinh sử. Nàng Xúy Vân ở nhà sống trong cảnh "chăn đơn gối chiếc", chờ chồng trở về. Trong lúc ấy, tên Trần Phương xuất hiện và tán tỉnh Xúy Vân. Nàng xiêu lòng rồi giả điên với hi vọng Kim Nham trả lại tự do cho mình để đi theo nhân tình. Đoạn trích "Xúy Vân giả dại" diễn tả cảnh nàng tự dựng lên màn điên loạn của bản thân nhằm che mắt chồng.
Có thể thấy, ở toàn bộ trích đoạn, Xúy Vân đã trực tiếp bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình. Mọi lời nói, hành động của nàng đều tập trung thể hiện những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm. Ngôn ngữ mà nàng sử dụng là ngôn ngữ của kẻ nửa tỉnh nửa điên.
Thông qua lời tự giới thiệu, tác giả dân gian đã cung cấp cho người đọc một số thông tin về tên, tài năng, tình cảnh của nhân vật:
"Bước chân vào tôi thưa rằng vậy,
Chẳng giấu gì Xúy Vân là tôi.
Tuy dại dột, tài cao vô giá,
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,
Ai cũng gọi là cô ả Xúy Vân.
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại."
Nàng tuy dại dột nhưng "tài cao vô giá", được mọi người đồn có tài hát hay. Chứng tỏ, Xúy Vân cũng là người phụ nữ tài hoa. Ngoài ra, lời thừa nhận "Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương/ Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại." của Xúy Vân càng khắc họa rõ những giằng xé trong nội tâm nhân vật.
Mở đầu đoạn trích, Xúy Vân trực tiếp bày tỏ nỗi đau đớn, tủi hờn:
"Đau thiết thiệt van.
Than cùng bà Nguyệt.
Đánh cho tê liệt,
Chết mệt con đồng.
Bắt đò sang sông,
Bớ đò, bớ đò."
Nàng đau khổ tới mức phải kêu lên, than thở cùng với ông Tơ, bà Nguyệt. Xúy Vân trách duyên phận mình dang dở, lỡ làng. Do hoàn cảnh xô đẩy nên nàng buộc lòng phải theo "Nên tôi phải lụy đò,/ Cách con sông nên tôi phải lụy đò," để rồi từ đó rơi vào bi kịch.
Đâu chỉ dừng lại ở đau khổ, xót xa, nàng còn bộc lộ nỗi xấu hổ, bẽ bàng qua câu "Không trăng gió lại gặp người gió trăng". Xúy Vân nhận thấy bản thân mình không "trăng gió", chỉ vì gặp người đàn ông phong lưu, đa tình nên mới xiêu lòng. Nhận thức được sai lầm, nàng khuyên mọi người phải giữ lấy chuẩn mực, cốt cách của người phụ nữ "Gió trăng mặc thời gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên". Xúy Vân khuyên người nhưng cũng chính là lời nhắc nhở bản thân.
Trong điệu hát con gà, nỗi niềm đắng cay, bực tức được thể hiện rõ nét. Nàng dùng hình ảnh "con gà rừng", "con công" để khẳng định sự bơ vơ, lạc lõng. Đồng thời, thể hiện ý thức về địa vị, vai trò của bản thân. Nàng nhận thấy mình thấp kém, chênh lệch so với người chồng. Không những vậy, câu "Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên" được lặp lại hai lần đã nhấn mạnh vào nỗi uất ức, cùng cực của Xúy Vân. Nàng phẫn uất trước sự sắp đặt của cha mẹ. Vì thế, nàng luôn khao khát có được cuộc sống gia đình hạnh phúc như bao người:
"Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm"
Đến đoạn nói điệu sử rầu, hát sắp, nhân vật bộc lộ sự tự ý thức về chính mình. Nàng mắc kẹt trong mối duyên tình với Trần Phương "Tôi thương nhân ngãi, tôi nhớ nhân tình,/ Đêm năm canh tôi thức cả vừa năm.". Biện pháp ẩn dụ trong đoạn hát sắp: "Con cá rô nằm vũng chân trâu,/ Để cho năm bảy cần câu châu vào!" thể hiện tình cảnh bế tắc, không lối thoát của Xúy Vân. Nàng như con cá ở trong vũng nước nhỏ, xung quanh chứa đầy rủi ro, bất trắc. Cho nên, lúc nào Xúy Vân cũng sống trong cảm giác bất an, sợ hãi.
Cuối cùng, Xúy Vân thực sự nhập tâm và hóa điên trong đoạn hát ngược. Các hình ảnh, từ ngữ được liên hệ đầy bất thường, phi logic:
"Một đàn các cô con gái lội sông té bèo.
Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây.
Ở trong đình có cái khua, cái nhôi,
[...] Cưỡi con gà mà đi đánh giặc!"
Nó cho thấy nàng thực sự không còn giữ nổi sự tỉnh táo trong cả hành động lẫn lời nói. Chỉ có những người thần trí không bình thường mới khó có thể phân biệt được ngược, xuôi. Những câu hát tưởng chừng như vô nghĩa lại mở ra đời sống nội tâm phức tạp, phong phú với những rối bời. Xúy Vân lúc này đã thực sự đánh mất mình và hoàn toàn rơi vào trạng thái mất phương hướng.
Bên cạnh lời thoại, tâm trạng của Xúy Vân còn được mô tả thông qua hành động như hát, nói, múa. Nàng múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi trên nền trống rồi vừa hát vừa cười. Những hành động này cho thấy khát khao cháy bỏng của Xúy Vân về cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Nàng cũng muốn được trở thành vợ hiền, dâu thảo. Thế nhưng, hiện thực khiến mong ước ấy trở nên xa vời. Kết thúc điệu hát ngược, nàng đi vào vừa đi vừa cười điên dại càng làm nổi bật tình trạng thiếu minh mẫn, đau khổ, tuyệt vọng.
Bên cạnh yếu tố nội dung thì nghệ thuật cũng là phương diện quan trọng góp phần tạo nên thành công cho đoạn trích. Lớp chèo "Xúy Vân giả dại" được tác giả dân gian sử dụng lối nói theo giọng điệu đặc trưng: nói lệch, vỉa, điệu sử rầu, nói kết hợp với các làn điệu hát chèo như: quá giang, con gà rừng, sắp, sa lệch, hát ngược. Ngôn ngữ chèo mang đậm màu sắc dân gian, sử dụng chất liệu ca dao, dân ca và thể thơ truyền thống. Ngoài ra, các chỉ dẫn sân khấu: âm thanh tiếng trống, hành động múa, hát, cử chỉ, điệu bộ giúp cho vở diễn được trơn tru, hấp dẫn hơn.
Như vậy, thông qua lớp chèo "Xúy Vân giả dại", ta thấy được khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống thật của nhân vật Xúy Vân. Đồng thời, bày tỏ nỗi xót thương, cảm thông sâu sắc đối với tình cảnh của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Tóm lại, giữa sự nở rộ của hàng ngàn loại hình giải trí, chèo cổ vẫn luôn có sức sống mãnh liệt, bền bỉ với thời gian. Đoạn trích "Xúy Vân giả dại" nói riêng và chèo "Kim Nham" nói chung vẫn giữ được vị trí đặc biệt trong lòng người dân Việt Nam.
Mẫu 4
Vở chèo "Kim Nham" được đánh giá là một trong những vở chèo tiêu biểu và hay nhất của nền chèo cổ Việt Nam. Trong đó, "Xúy Vân giả dại" là trích đoạn nổi bật được khán giả vô cùng yêu thích. Những mâu thuẫn nội tâm của nhân vật Xúy Vân đã được tác giả dân gian khắc họa đầy đặc sắc qua đoạn trích.
Trước khi đi sâu vào phân tích tâm trạng nhân vật, ta cần làm rõ nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân. Điều này bắt nguồn từ việc sau khi kết duyên với Kim Nham, nàng luôn phải sống trong cảnh đơn côi, xa chồng. Trong khoảng thời gian chờ Kim Nham trở về, Xúy Vân gặp được Trần Phương và bị hắn tán tỉnh, dụ dỗ. Trước những lời ngon ngọt, Xúy Vân xiêu lòng, giả điên để được chồng trả lại tự do và đi theo nhân tình. Đoạn trích "Xúy Vân giả dại" chính là cảnh nàng dựng lên màn kịch điên loạn nhằm che mắt chồng.
Trong lời xưng danh, Xúy Vân tự giới thiệu rằng:
"Chẳng giấu gì Xúy Vân là tôi,
Tuy dại dột, tài cao vô giá,
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,
Ai cũng gọi là cô ả Xúy Vân.
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại".
Chỉ một đoạn nhỏ, nhưng người đọc, người xem đã biết được tên tuổi, tài năng của nhân vật. Xúy Vân nhận thấy mình tuy dại dột song tài cao, được thiên hạ đồn thổi có tài hát hay. Không những vậy, trong lời giới thiệu, nàng thừa nhận bản thân "Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,/ Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.". Qua đoạn trích trên, ta phần nào hiểu được tính cách, tình cảnh của nhân vật.
Rõ ràng, trong toàn bộ trích đoạn, ngôn ngữ, hành động của nhân vật đều bộc lộ những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm. Trước hết, đó là tâm trạng đau đớn, tủi hổ, tự cảm thấy bơ vơ, lỡ làng trong chuyện tình cảm. Nàng đau khổ tới mức phải kêu lên và than vãn cùng ông Tơ, bà Nguyệt. Nàng đứng gọi đò mà tiếng gọi cứ ngân vang, không ai đáp lại "Tôi kêu đò, đò nọ không thưa". Càng chờ đợi, nhân vật càng rơi vào tuyệt vọng, "càng trưa chuyến đò", buộc nàng phải nhún mình, chiều theo ý người khác:
"Nên tôi phải lụy đò,
Cách con sông nên tôi phải lụy đò,
Bởi ông trời tối, phải lụy cô bán hàng."
Nó cho thấy tình cảnh đáng thương mà nàng phải chịu. Vì số phận đưa đẩy nên nàng buộc lòng phải theo. Tuy nhiên, ngay cả khi chấp nhận rồi thì hạnh phúc cũng không được như mong muốn. Do vậy, nàng đã đi đến quyết định chia li "Chả nên gia thất thì về,/ Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn cười.".
Xúy Vân đi từ đau khổ sang bẽ bàng, xấu hổ. Nàng cầu xin mọi người thông cảm bởi bản thân không hề lẳng lơ, phóng đãng, chỉ vì gặp phải người trăng hoa nên mới không giữ nổi mình "Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười/ Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng.". Nhận thức được hành động sai trái ấy, nàng khuyên mọi người phải phải giữ gìn đạo đức: "Gió trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên". Nàng nhắn nhủ mọi người nhưng cũng là nhắc nhở đến bản thân.
Không những thế, Xúy Vân còn bộc lộ nỗi niềm đắng cay, bực tức của mình trong điệu hát con gà rừng. Nàng nhận mình là con gà rừng ngu ngơ, ăn lẫn với đám "công" cao xa, đẹp đẽ. Xúy Vân dùng hình tượng "con gà", "con công" để diễn tả sự cô đơn, lạc lõng. Xét cả về địa vị xã hội lẫn vai trò trong gia đình, nàng nhận thấy bản thân thấp kém hơn so với Kim Nham. Đến nỗi, phải thốt lên rằng: "Đắng cay chẳng có chịu được, ức!". Câu hỏi tu từ "Mà để láng giềng ai hay?" đã tô đậm thêm tình cảnh tội nghiệp của nàng. Xúy Vân không thể chia sẻ nỗi khổ với bất kì ai. Đặc biệt, điệp ngữ "Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên" càng nhấn mạnh nỗi bực tức, uất ức của nàng trước sự sắp đặt của mẹ cha.
Dù cuộc sống có bất hạnh nhưng nàng chưa bao giờ ngừng ước mơ, khát vọng về một cuộc sống gia đình hạnh phúc:
"Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm."
Nàng mong chờ cho đến khi cây lúa vàng rực trên khắp cánh đồng để chồng đi gặt, còn vợ mang cơm. Rõ ràng, Xúy Vân cũng muốn làm một người dâu hiền, vợ thảo. Điều này, được thể hiện qua hành động múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi đầy sinh động, khéo léo. Tuy nhiên, cuộc sống bình dị, giản đơn ấy lại chỉ là ước mơ xa vời.
Lối ngâm nga, chậm rãi trong đoạn nói điệu sử rầu, hát sắp đã diễn tả tâm trạng ấm ức. Nàng thương người tình đến mất ngủ rồi ví phận mình như: "Con cá rô nằm vũng chân trâu/ Để cho năm bảy cần câu châu vào!". Cái không gian chật hẹp, tù túng, luôn ẩn chứa nhiều bất trắc rủi ro làm nàng cảm thấy bất an. Tác động từ bên ngoài làm nàng cảm thấy bị hành hạ, khổ sở, không còn tự do.
Cuối cùng, sự đau khổ lên đến tột cùng khiến nàng không giữ nổi tỉnh táo mà phát điên. Đoạn hát ngược khắc họa vô cùng chân thật, sinh động tâm trạng điên loạn của nhân vật:
"Chiếc trống cơm, ai khéo vỗ nên bông,
Một đàn các cô con gái lội sông té bèo.
[...] Cưỡi con gà mà đi đánh giặc!"
Những hình ảnh, sự vật được liên hệ một cách bất thường, không hợp lí. Chỉ có người dở điên dở dại mới không phân biệt được ngược, xuôi. Câu nói vô nghĩa kết hợp với hành động vừa đi, vừa cười điên dại càng làm nổi bật tâm trạng rối bời, tuyệt vọng, mất phương hướng.
Theo dõi toàn bộ văn bản, Xúy Vân vừa đáng thương, vừa đáng trách. Đáng thương bởi nàng rơi vào cuộc hôn nhân sắp đặt, không tình yêu. Đáng trách vì nàng không biết giữ phẩm hạnh. Như vậy, qua đoạn trích, tác giả dân gian muốn đề cao sự chung thủy trong mối quan hệ vợ chồng. Đồng thời, bộc lộ sự cảm thông đối với thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Khát vọng hạnh phúc của Xúy Vân là chính đáng nhưng lại không thể thực hiện ở thời kì đề cao nam quyền. Hiểu và thông cảm cho nhân vật, ta nhận ra được nội dung, ý nghĩa sâu sắc, nhân văn của đoạn trích.
Mẫu 5
Trong lớp chèo Xúy Vân giả dại, Xúy Vân xuất hiện với hình ảnh người phụ nữ vừa điên loạn lại vừa đáng thương. Nàng đang bị giằng xé giữa tâm trạng hối hận và nỗi tủi nhục vì sự cười chê của người đời. Nàng hối hận, cảm thấy tội lỗi vì đã phụ bạc Kim Nham, lại càng đau đớn vì bị Trần Phương bỏ rơi, Người phụ nữ không còn điểm tựa này còn phải đối mặt với nỗi cười chê của láng giềng. Trong xã hội phong kiến xưa, đây là một bi kịch lớn với người phụ nữ. Những câu nói điên loạn, kể lể càng cho thấy sự tuyệt vọng và tủi hổ của nhân vật đã lên đến đỉnh điểm, nàng đang bị mắc kẹt trong nỗi ám ảnh ấy mà không biết chia sẻ cùng ai nên càng rơi vào bế tắc. Hình ảnh Xúy Vân trong lớp chèo này là đại diện cho cảnh ngộ của những người phụ nữ xưa trong xã hội cũ, không được tự quyết định thân phận mình, đến khi muốn tìm hạnh phúc lại bị rơi vào bi kịch.
Mẫu 6
Qua lớp chèo Xúy Vân giả dại, nhân vật Xúy Vân hiện lên gợi trong em bao cảm xúc. Cô là người phụ nữ vừa đáng trách nhưng cũng thực đáng thương. Chơi vơi, cô đơn trong chính tình yêu, cuộc sống hôn nhân lẻ loi khi người chồng Kim Nham chỉ biết dùi mài kinh sử. Một thiếu phụ đang ở tuổi rạo rực, khao khát tình yêu, một bến bờ hạnh phúc. Khi cô gặp Trần Phương, như tấm phao cứu sinh cho nỗi lòng mình. Và rồi, cô giả điên để phụ tình Kim Nham, chỉ mong anh có thể bỏ cô để cô đi tìm Trần Phương. Đáng thương thay, khi từ bỏ tất cả để đến với tình yêu thì người đó lại là kẻ phong lưu, gã sở khanh có tiếng. Cô đau khổ vô cùng. Để rồi, từ giả điên, cô thành người điên thật. Số phận oái oăm, bất hạnh vô cùng!
Mẫu 7
Xuyên suốt màn chèo Xúy Vân giả dại, ta nhận ra biết bao vẻ đẹp của nhân ái và khát vọng tình yêu đã rực cháy như ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt trong trái tim người thiếu phụ. Khát vọng tình yêu tự nhiên nên vẻ đẹp với ánh sáng lung linh của thời đại càng đi sâu và hòa quyện tâm hồn vào con người của Xúy Vân, thông cảm cho nàng hơn bao giờ hết. Vở chèo đã góp chung một tiếng nói phản kháng các cuộc hôn nhân giả dối, gượng ép, ủng hộ tình yêu thiên tính. Nhịp sóng lòng về tình yêu của Xúy Vân tựa những nốt nhạc trầm bổng du dương, tạo nên trong tao đàn văn học dân gian một giai điệu không dứt và mãi xao xuyến, rung động tâm hồn con người qua bao thời đại.
Mẫu 8
Qua lớp chèo Xúy Vân giả dại, nhân vật Xúy Vân hiện lên gợi trong em bao cảm xúc. Cô là người phụ nữ vừa đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Chơi vơi, cô đơn trong chính tình yêu, cuộc sống hôn nhân lẻ loi khi người chồng Kim Nham chỉ biết dùi mài kinh sử. Một thiếu phụ đang ở tuổi rạo rực, khao khát tình yêu, một bến bờ hạnh phúc. Khi cô gặp Trần Phương, như tấm phao cứu sinh cho nỗi lòng mình. Và rồi, cô giả điên để phụ tình Kim Nham, chỉ mong anh có thể bỏ cô để cô đi tìm Trần Phương. Đáng thương thay, khi từ bỏ tất cả để đến với tình yêu thì người đó lại là kẻ phong lưu, gã sở khanh có tiếng. Cô đau khổ vô cùng. Để rồi, từ giả điên, cô thành người điên thật. Số phận oái oăm, bất hạnh vô cùng!
Mẫu 9
Xúy Vân là một cô gái xinh đẹp, đảm đang có tâm hồn trong sáng, và lúc nào cũng mang trong mình khát vọng của tình yêu, của hạnh phúc. Nhưng cuối cùng nàng lại chết một cách đáng thương, chỉ vì tin lời của một kẻ phụ tình mà nàng đã bất chấp mọi rào cản, thậm chí bỏ chồng để chạy theo tiếng gọi của tình yêu.Trích đoạn này thể hiện sự lên án của xã hội đối với hành động "bỏ chồng theo trai" của Xúy Vân nhưng cũng thể hiện sự đồng cảm với tình yêu tự do, trong sáng ấy của nàng.
Mẫu 10
Màn chèo Xúy Vân giả dại đem đến cho người đọc một suy nghĩ về vẻ đẹp của người con gái và khát vọng tình yêu đã rực cháy như ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt trong trái tim người thiếu phụ. Khát vọng tình yêu tự nhiên ấy nên vẻ đẹp với ánh sáng lung linh của thời đại càng đi sâu và hòa quyện tâm hồn vào con người của Xúy Vân, thông cảm cho nàng hơn bao giờ hết. Vở chèo đã góp chung một tiếng nói phản kháng các cuộc hôn nhân giả dối, gượng ép, ủng hộ tình yêu thiên tính. Nhịp sóng lòng về tình yêu của Xúy Vân tựa những nốt nhạc trầm bổng du dương, tạo nên trong tao đàn văn học dân gian một giai điệu không dứt và mãi xao xuyến, rung động tâm hồn con người qua bao thời đại.
Mẫu 11
Nhân vật Xúy Vân là nhân chứng cho thời đại xã hội đầy bất công với người phụ nữ. Cô là người phụ nữ vừa đáng trách nhưng cũng thực đáng thương. Chơi vơi, cô đơn trong chính tình yêu, cuộc sống hôn nhân lẻ loi khi người chồng Kim Nham chỉ biết dùi mài kinh sử. Một thiếu phụ đang ở tuổi rạo rực, khao khát tình yêu, một bến bờ hạnh phúc. Khi cô gặp Trần Phương, như tấm phao cứu sinh cho nỗi lòng mình. Và rồi, cô giả điên để phụ tình Kim Nham, chỉ mong anh có thể bỏ cô để cô đi tìm Trần Phương. Đáng thương thay, khi từ bỏ tất cả để đến với tình yêu thì người đó lại là kẻ phong lưu, gã sở khanh có tiếng. Cô đau khổ vô cùng. Để rồi, từ giả điên, cô thành người điên thật. Số phận oái oăm, bất hạnh vô cùng!
Mẫu 11
Tâm trạng của nhân vật Xúy Vân được thể hiện trong đoạn trích "Xúy Vân giả dại" đã để lại cho em những ấn tượng, suy ngẫm sâu sắc. Sống trong xã hội phong kiến xưa, Xúy Vân không thể tự định đoạt hạnh phúc. Suốt thời gian dài vùi mình trong cảnh lẻ loi, chờ chồng, Xúy Vân đã xiêu lòng trước lời tán tỉnh của Trần Phương. Những lời bộc bạch "Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm" đã thể hiện khát vọng hạnh phúc đơn sơ, bình dị. Xúy Vân cũng mơ ước về một cuộc sống hôn nhân giản đơn, cũng mong muốn trở thành vợ hiền, dâu thảo. Thế nhưng, sự đau khổ tột cùng khiến nàng không đủ tỉnh táo mà nửa tỉnh nửa điên. Tình cảnh của Xúy Vân khiến người đọc chua xót biết bao!
