Bài tập Tác gia Nguyễn Trãi có đáp án
14 câu hỏi
Bạn hãy kể tên một số tác giả văn học trung đại Việt Nam có đóng góp quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Trả lời:
Một số tác giả văn học trung đại Việt Nam có đóng góp quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông…
Hãy chia sẻ một vài thông tin về tác giả mà bạn ngưỡng mộ.
Trả lời:
Vua Lê Thánh Tông của triều Hậu Lê không chỉ là nhà vua đã đưa chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn hưng thịnh, mà ngài còn là là một thi sĩ, nguyên soái của hội Tao Đàn Nhị Thập bát Tú, quy tụ 28 nhà thơ nổi tiếng đương thời. Sáng tác mà vua để lại trải dài trên cả thơ chữ Hán và chữ Nôm. Ngài cũng là người đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (dịch: Tâm hồn Ức Trai sáng tựa sao Khuê)
Chú ý vai trò của Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Nguyễn Trãi là người viết “Bình Ngô sách” sách lược đánh dẹp giặc Minh), được Lê Lợi tin dùng và có đóng góp đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Nguyễn Trãi cũng là một trong những Khai Quốc công thần của nhà Lê.
Chú ý nội dung cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được tiếp thu và phát triển từ nguồn gốc trong Nho giáo. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là thương dân, lấy sống bình yên, no ấm của của nhân dân là mục tiêu cao nhất, không chỉ thương dân mà còn trọng dân, biết ơn dân.
Biểu hiện của tình yêu thiên nhiên và nỗi niềm thế sự.
- Tình yêu thiên nhiên biểu thị qua việc trong thơ Nguyễn Trãi chứa đựng cả một thế giới thiên nhiên đa dạng, vừa mỹ lệ vừa bình dị. Nguyễn Trãi đã mở rộng tâm hồn để nâng niu từng vẻ đẹp, từng khoảnh khắc giao hòa với thiên nhiên.
- Nỗi niềm thế sự niểu hiện qua việc hồn thơ Ức Trai luôn trĩu nặng suy tư trước thế sự đen bạc. Thơ ông có nhiều chiêm nghiệm buồn về nhân tình thế thái cái có cả những cay đắng thất vọng đau đớn trước một thực tại hỗn độn, bất công, ngang trái. Nguyễn Trãi đã đối diện với thực tại ấy bằng lối sống thanh cao, cứng cỏi, kiêu hãnh.
Đóng góp quan trọng của Nguyễn Trãi ở từng thể loại: văn chính luận, thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm.
- Về văn chính luận: đặc biệt là những thư từ bút chiến văn kiện ngoại giao sao sáng tác của Nguyễn Trãi đạt đến trình độ mẫu mực khi vận dụng một cách triệt để để các mệnh đề tư tưởng của nho giáo và chân lý khách quan của đời sống. Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi được tạo nên nhờ khả năng bám sát từng đối tượng và tình hình thời sự, kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng, lập luận và bố cục chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, biểu đạt giọng điệu truyền cảm.
- Về thơ chữ Hán: những bài thơ Đường luật của Nguyễn Trãi hầu hết đạt đến sự nhuần nhuyễn; điêu luyện; ngôn ngữ cô đức; nghệ thuật tả cảnh tả tình tinh tế; hài hòa; nghệ thuật trữ tình vừa trang nhã vừa in đậm dấu ấn cá nhân vừa có giá trị tư tưởng sâu sắc, hình tượng thiên nhiên đa dạng.
- Về thơ chữ Nôm: sáng tác của Nguyễn Trãi được đánh giá là đỉnh cao của dòng thơ quốc âm thời trung đại. Ông dường như đã có ý thức sáng tạo một thế giới riêng khi đưa câu thơ lục ngôn xen vào bài thơ thất ngôn, ngôn ngữ thơ giản dị, đậm đà tính dân tộc, sử dụng nhiều từ láy, thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói của dân chúng.
Vị trí của Nguyễn Trãi trong nền văn học trung đại Việt Nam.
Thơ văn của Nguyễn Trãi là tập đại thành của Nam thế kỷ văn học trung đại Việt Nam tính đến mức thế kỷ 15. Nguyễn Trãi cũng là tác gia có đóng góp đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền văn học Đại Việt sau thời gian nước ta bị quân xâm lược thi hành chính sách hủy diệt văn hóa.
Dựa vào những thông tin trong văn bản, hãy nêu ấn tượng sâu sắc nhất của bạn về cuộc đời và con người Nguyễn Trãi.
Trả lời:
- Nguyễn Trãi sinh ra trong gia đình mình quyền quý ý là cháu ngoại của quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán.
- Ông từng đỗ Thái học sinh sinh và ra làm quan dưới triều Hồ.
- Trong cảnh nước mất, Nguyễn Trãi đã đến Lam Sơn, phụ giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh. Khi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Trãi trở thành một trong những khai Quốc công thần của nhà Lê.
- Cuộc đời làm quan của Nguyễn Trãi trải qua nhiều thăng trầm, đã từng xin về ở ẩn rồi lại được vời ra giúp nước. Nguyễn Trãi gắn với vụ án Lệ Chi Viên, phải chịu “tru di tam tộc”, thơ văn bị tiêu hủy. Mãi 20 năm sau vua Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi.
- Nguyễn Trãi là một trong số ít những người Việt Nam được UNESCO vinh danh là “danh nhân văn hóa thế giới”.
Điều gì đã tạo nên giá trị đặc sắc trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi?
Trả lời:
Điều tặng giá trị đặc sắc trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đó là Nguyễn Trãi không rập khuôn theo tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo mà tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không dừng lại ở thương dân, mà rộng hơn là lấy cuộc sống bình yên, no ấm cho nhân dân là mục tiêu cao nhất. Đồng thời, ông còn tôn trọng dân, biết ơn dân, cao hơn nữa đó là khát vọng xây dựng một đất nước độc lập, thái bình, hưng thịnh.
Nêu cảm nhận của bạn về tâm hồn Nguyễn Trãi qua những bài thơ viết về thiên nhiên.
Trả lời:
Qua những bài thơ viết về thiên nhiên, ta thấy tâm hồn Nguyễn Trãi luôn tha thiết một tình yêu, niềm say mê với tự nhiên. Thiên nhiên trong thơ văn Nguyễn Trãi có cảnh tráng lệ, hùng vĩ, cũng có cảnh bình dị, dân dã. Tâm hồn Nguyễn Trãi luôn rộng mở, tinh tế, lãng mạn, nâng niu từng vẻ đẹp của thiên nhiên, giao hòa trọn vẹn với thiên nhiên.
Đọc những vần thơ Nguyễn Trãi viết về nỗi niềm thế sự, bạn hình dung như thế nào về con người tác giả?
Trả lời:
Qua những vần thơ viết về nỗi niềm thế sự, ta nhận ra Nguyễn Trãi là con người cả đời ôm mối “ưu dân, ái quốc”, luôn suy tư trước thế sự. Ông nhìn rõ và chiêm nghiệm về nhân tình thế thái, trước thực tại hỗn độn, bất công, ngang trái thì cay đắng, thất vọng, buồn bã. Đồng thời ta cũng nhìn ra tâm hồn thanh cao, kiêu hãnh, cứng cỏi như cây tùng cây bách của Nguyễn Trãi khi đối diện với thực tại trái ngang.
Văn chính luận của Nguyễn Trãi đã từng thể hiện sức tác động mạnh mẽ như thế nào? Theo bạn, những yếu tố nào đã làm nên sức mạnh đó?
Trả lời:
- Văn chính luận của Nguyễn Trãi, đặc biệt là thư từ bút chiến, văn kiện ngoại giao với nhà Minh (trong tập “Quân trung từ mệnh tập”) đã góp phần làm lung lay tinh thần của quân giặc, đem lại thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống quân Minh. Với “Bình Ngô Đại Cáo”, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi chiếu cáo với thiên hạ về toàn bộ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và khẳng định một thời đại mới đã mở ra.
- Những yếu tố đã làm nên sức mạnh của văn chính luận Nguyễn Trãi: khả năng bám sát từng đối tượng và tình hình thời sự, chiến sự; kết hợp giữa lí lẽ sắc bén với dẫn chứng xác đáng, cách lập luận và bố cục chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, kết hợp nhiều phong cách ngôn ngữ và nhiều phương thức biểu đạt, giọng điệu truyền cảm.
Hãy kể tên những tác phẩm văn học, nghệ thuật mà bạn biết nói về cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Nguyễn Trãi.
Trả lời:
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi đã trở thành cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật như: vở kịch “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” của tác giả Nguyễn Đình Thi; bài thơ “Đêm Côn Sơn” của Trần Đăng Khoa; vở kịch “Bí Mật vườn Lệ Chi” do Nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc làm đạo diễn; tiểu thuyết “Nguyễn Trãi” của Bùi Anh Tấn, trong đó có quyền thứ hai - “Bức huyết thư” đã được đạo diễn Victor Vũ chuyển thể thành phim “Thiên Mệnh Anh Hùng”...
Sưu tầm một bài thơ chữ Hán hoặc chữ Nôm của Nguyễn Trãi và viết đoạn văn giới thiệu bài thơ đó.
Mẫu 1
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu, gượng mở xem
(Ba tiêu – Cây chuối của Nguyễn Trãi)
Bài thơ Ba tiêu – Cây chuối của danh nhân Nguyễn Trãi là một bài thơ viết bằng chữ Nôm tuy ngắn gọn, giản dị nhưng không kém phần độc đáo. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, nằm trong tập thơ Quốc âm thi tập nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Chỉ vỏn vẹn bốn câu thơ ngắn gọn với câu chữ, giọng điệu gần gũi và thân thuộc, Nguyễn Trãi đã khiến cho người đọc phải có một cái nhìn khác về hình ảnh cây chuối – một loài cây mà ai cũng biết, cũng quen thuộc. Mùa xuân với khí hậu ấm áp, dễ chịu, mùa hoa nở và cây chuối cũng như bao cây khác, khi vào mùa xuân, nó vốn đã tươi tốt, nay lại càng tốt thêm. Những buồng chuối xanh mơn mởn, đẹp một cách lạ lùng cả ngày lẫn đêm. Còn những đọt chuối non kia, giống như bức thư tình còn e ấp không muốn mở. Gió ở nơi đâu, cứ quấn quýt lại gần đòi mở lá thư. Có lẽ, bài thơ này không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh cây chuối, mà nó như là một bức thư tràn đầy tình cảm được Nguyễn Trãi gửi gắm đến người đọc.
Mẫu 2
Bài thơ: Mộ xuân tức sự
Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai.
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng:
Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn
Khách tục không ai bén mảng gần
Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn
Ðầy sân mưa bụi nở hoa xoan.)
Giới thiệu bài thơi bằng một đoạn văn:
Bài thơ “Mộ xuân tức sự” là một bài thơ chữ Hán đặc sắc của tác giả Nguyễn Trãi. Nó được viết khi ông lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Bài thơ phác họa không gian cuối ngày xuân bên ngoài phòng văn của tác giả, thể hiện tâm hồn rộng mở, giao hòa với thiên nhiên, lắng nghe tiếng cuốc kêu và trông cánh hoa xoan nở đầy sân giữa làn mưa bụi. Không chỉ phơi phới tình yêu, niềm say mê với thiên nhiên, bài thơ còn gửi gắm nỗi niềm "ưu quốc" của Nguyễn Trãi. Tiếng cuốc kêu không chỉ gợi nhắc thời khắc cuối xuân đầu hạ, mà còn gợi đến vận nước đang
khó khăn. Hơn nữa, tác giả thể hiện niềm tin và hy vọng của mình thông qua hình ảnh hoa xoan vẫn nở bừng ở cuối bài.
Mẫu 3
Thủ vĩ ngâm
Góc thành Nam, lều một gian,
No nước uống, thiếu cơm ăn.
Con đòi trốn, dường ai quyến,
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn.
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn.
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian.
Bài thơ này có thể là làm trong lúc Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Đông Quan theo bài tựa của Nguyễn Khắc Kiệm hay là trong lúc ông bị Lê Thái Tổ ruồng bỏ sau khi bị giam vì bị nghi có liên quan với án Trần Nguyên Hãn, tuy được tha và vẫn giữ chức quan, nhưng không được làm việc gì. Chúng tôi (nhóm Đào Duy Anh) đoán là làm trong trường hợp thứ hai, vì trong thơ đã có vẻ chán chường lắm, không thể là giọng thơ của một người thanh niên 30 tuổi còn đầy tráng khí (lúc bị giam lỏng ở Đông Quan) mới gặp khó khăn nhất thời. Vả chăng nếu là bị giam ở Đông Quan thì không thể có câu “Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải”.
Mẫu 4
Thính Vũ
Tịch mịch u trai lý
Chung tiêu thính vũ thanh
Tiêu tao kinh khách chẩm
Điểm trích sổ tàn canh
Cách trúc xao song mật
Hòa chung nhập mộng thanh
Ngâm dư hồn bất mị
Đoạn tục đáo thiên minh.
Nguyễn Trãi
Dịch nghĩa:
Nghe Mưa
Vắng vẻ trong phòng tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng trời mưa.
Tiếng não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng.
Ngâm rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.
“Thính vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai. Dưới đây là bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Trãi.
Mẫu 5
QUAN HẢI
Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết toả diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng y,
Khước tại Thương Lang viễn thụ yên.
Dịch nghĩa
Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt cũng được trầm dưới nước để phong toả như thế
Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày
Anh hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận
Lui về chốn cây cỏ mây trời ở đất Thương Lang xa xôi.
Quan Hải là một bài thơ đặc sắc của Nguyễn Trãi. Bài thơ được ông sáng tác vào thời điểm sau chiến thắng chống quân Minh xâm lược. Thể hiện sự suy tư về lẽ hưng vong của triều đại nhà Hồ ngắn ngủi, đồng thời cảm thán về nỗi đau uất hận của anh hùng thất thế. Đây chính là một bài thơ mang đậm ý nghĩa về lòng dân, có dân thì mọi chuyện tất thành. Bài thơ đầy ắp tâm trạng và vô cùng sâu sắc.
Mẫu 6
Ba tiêu (cây chuối)
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Ðầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu, gượng mở xem.
Cây chuối là một loại cây dân dã bình dị, nhưng đã được Nguyễn Trãi thổi vào đó một linh hồn để thể hiện một cảm xúc sâu sắc, kín đáo về một tâm hồn cháy bỏng. Điều này cũng là một điều thật bình thường, bởi vì Nguyễn Trãi là một vị tướng nhưng ông cũng là một con người bằng xương bằng thịt, một người thường với những cảm xúc dào dạt, cũng không tránh khỏi sự e ấp, ngại ngùng khi nhắc đến tình cảm riêng, và đặc biệt lại là tình yêu trong thời phong kiến đầy khuôn sáo nên sự thể hiện càng kín đáo. Nguyễn Trãi không những là nhân chứng của những biến động bão táp mà ông còn là người tướng trực tiếp tham gia vào những biến động ấy. Và ngay cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy biến cố thăng trầm. Chính thế mà thơ ông thể hiện những vốn sống, những suy nghĩ sâu sắc với tình yêu thiên nhiên, con người đầy hồn hậu.
Cây chuối đón xuân đến để thêm tươi tốt, thêm ngát hương, ngoài việc mượn hình ảnh cây chuối để thể hiện một tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, Nguyễn Trãi còn gửi vào đây một nổi niềm, một tấm lòng sâu lắng trước thời cuộc. Trong lúc rời triều đình về quê ở ẩn, lòng ông không lúc nào yên, cứ nao nao “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” ông chỉ mong được lệnh vua cho vời về kinh. Cây chuối đang đón đợi xuân hay chính bản thân ông đợi xuân. Với Nguyễn Trãi mùa xuân của ông là chính là tin vui từ nhà vua truyền về kinh được thoả lòng dũng tướng. Một tâm hồn cao cả, suốt cuộc đời vì dân vì nước, luôn trăn trở suy tư trước thời cuộc. Trong đời tư ông luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, một đời thanh cao. Ông như một tấm gương chói ngời về sự ngiệp, tài năng và đức độ.Bài thơ có một giá trị đáng quý, nói tới bài thơ Cây chuối ta sẽ nhớ ngay một ý xuân tình e ấp, một tâm hồn cuộn sóng vì dân, vì mệnh nước. Qua đó ta thấy rõ phần tâm hồn phong phú và nghệ thuật tài hoa của Nguyễn Trãi.
Mẫu 7
Bài thơ Bảo kính cảnh giới - số 43 là bài thơ tả cảnh ngày hè cho thấy tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nướ. Câu thơ lục ngôn cuối bài ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ.
Rồi hóng mát thưở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.

