56 câu bài tập Đường lối quân sự của Đảng (có đáp án) - Phần 1
31 câu hỏi
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh
Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh và tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
Bản chất của chủ nghĩa đế quốc: được khái quát bằng hình ảnh “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân lao động thuộc địa.
Trong Hội nghị Véc-xây, Người đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật của thực dân Pháp: “Người Pháp khai hóa văn minh bằng rượu lậu, thuốc phiện”.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước.
Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị - xã hội của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc.
Tính chất xã hội của chiến tranh: chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa.
Thái độ của chúng ta: ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào chiến tranh cách mạng Việt Nam, khẳng định phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.
Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay, chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Con người là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân làm gốc, là cội nguồn sức mạnh.
Đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội
Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.
Mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của quân đội với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.
Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội ta hiện nay - được thành lập.
Sự ra đời của quân đội xuất phát từ chính yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân.
Bản chất giai cấp công nhân liên hệ mật thiết với tính nhân dân trong tiến hành chiến tranh nhân dân chống thực dân, đế quốc xâm lược.
Phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị là cơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Quân đội ta là quân đội kiểu mới, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Khẳng định quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của quân đội ta là một thể thống nhất, là biểu hiện của tính quy luật của quá trình hình thành, phát triển quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là một nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
Nhiệm vụ và chức năng của quân đội
Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu: thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc: gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ:
Xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu.
Thiết thực tham gia lao động sản xuất, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ hiện nay: luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chức năng: là đội quân chiến đấu; là đội quân công tác; là đội quân sản xuất.
Khái niệm
Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”; phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ với kinh tế quốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế quốc, phản động; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
An ninh nhân dân là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân tiến hành, lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, cùng với quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mục đích
Tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ để giữ vững hòa bình, ổn định, đẩy lùi, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và quy mô.
Tạo thế chủ động cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, xã hội; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ
Xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Củng cố, hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
Xây dựng cơ quan nội chính trong sạch, vững mạnh.
Trách nhiệm của bản thân
Tích cực học tập, nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt, nắm vững kiến thức quốc phòng, an ninh.
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Tự giác, tích cực rèn luyện các kỹ năng quân sự, an ninh.
Chủ động tham gia các hoạt động về quốc phòng, an ninh do nhà trường, xã, phường, thị trấn triển khai.
Nội dung xây dựng LLDBĐV hiện nay
Phương thức chung: Địa phương chuyển giao nguồn cho các đơn vị chủ lực hình thành các đơn vị dự bị động viên theo nhiệm vụ, trong đó địa phương thực hiện là chính (trừ huấn luyện và vũ khí trang bị), các đơn vị chủ lực nhận nguồn phối hợp cùng địa phương tổchức thực hiện. Phương thức tổ chức đơn vị dự bị động viên: Đơn vị biên chế và không biênchế khung thường trực.
Nội dung xây dựng cụ thể (4 vấn đề lớn):Một là Tạo nguồn, đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động viên:
+ Tạo nguồn: Là cơ sở quan trọng nhất để lập kế hoạch và huy động lực lượng dự bị động viên. Quân nhân dự bị: thường chọn những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển ngành từ Quân đội ra mà còn nằm trong độ tuổi và đủ tiêu chuẩn. Phương tiện kỹ thuật dự bị: lựa chọn trong nền kinh tế theo yêu cầu nhiệm vụ
+ Đăng kí quản lí lực lượng dự bị động viên: Việc đăng kí, quản lí lực lượng dự bịđộng viên phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác theo độ tuổi, sức khoẻ , hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa và hiểu biết về quân sự, chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức về chính trị… Đối với phương tiện kỹ thuật, phải đăng kí, quản lí chính xác cả sốlượng, chất lượng, tình trạng kỹ thuật của từng phương tiện.
+Hai là Tổ chức, biên chế đơn vị dự bị động viên : Theo mẫu biểu của BQP, thường tổ chức thành đơn vị có và không có khônng thườngtrực, đơn vị chuyên môn thời chiến biên chế đủ hoặc thiếu…Khi sắp xếp quân nhân dự bịvào các đơn vị dự bị phải theo nguyên tắc người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợpvới chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên môn tương ứng.Sắp xếp hết quân nhân dự bị hạng 1 đến hạng 2. Sắp xếp những quân nhân dự bị cư trú gần nhau vào cùng đơn vị.
+Ba là Giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên:
+ Giáo dục chính trị: Là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng lực lượng dự bị động viên nhằm nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu lí tưởng. Nội dung giáo dục cần tập trung vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. Giáo dục thường xuyên liên tục cho tất cả các đối tượng, xen kẽ trong từng giai đoạn, từng đợt huấn luyện, diễn tập.
+ Huấn luyện: Theo phương châm “Chất lượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”. Nội dung toàn diện, phương pháp thích hợp sát đối tượng, sát thực tế
+ Kiểm tra: Cùng với huấn luyện, diễn tập, chế độ kiểm tra thực hiện nhiệm vụ đượctiến hành theo quy định nhằm giúp lãnh đạo, chỉ huy nắm đư¬ợc thực trạng tổ chức, xâydựng lực lượng dự bị động viên để có chủ trư¬ơng, biện pháp sát đúng.
+Bốn là Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho xây dựng lực lượng dự bị động viên
Vũ khí trang bị kỹ thuật, vật chất, kinh phí …là yếu tố rất quan trọng để xây dựng lực lượng dự bị động viên. Yêu cầu phải bảo đảm đúng mức, đủ để triển khai xây dựng lực lượng dự bị động viên chất lượng ngày càng cao.Việc bảo đảm hàng năm do Chính phủ giao chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho các bộ nghành, địa phương thực hiện.
Một số biện pháp xây dựng LLDBĐV trong tình hình hiện nay (4 biện pháp):
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị trí, nhiệm vụ, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với xây dựng LLDBĐV.
Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các cơquan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.
Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm côngtác xây dựng LLDBĐV.
Thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với LLDBĐV.
Khái niệm: LLVTND là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quản lý.
Nhiệm vụ:
Chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và những thành quả cách mạng.
Cùng toàn dân xây dựng đất nước.
Là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền, là lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân.
Thành phần:
LLVTND bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân Tự vệ.
Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng LLVTND trong thời kỳ mới (4 quan điểm, nguyên tắc):
- Một là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân.
Ý nghĩa: Đây là quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng LLVTND. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, phương hướng chiến đấu, đường lối tổ chức và cơ chế hoạt động của LLVTND, bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội và công an trong mọi tình huống.
Nội dung: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVTND theo nguyên tắc “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”: Đảng CSVN là chủ thể duy nhất, độc tôn lãnh đạo LLVTND. Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo đó cho bất kỳ giai cấp, tổ chức, đảng phái hay cá nhân nào khác. Sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVTND là trực tiếp, không thông qua một khâu trung gian, một tổ chức trung gian nào. Đảng lãnh đạo mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi đơn vị trong LLVT; trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; trên tất cả các mặt công tác; trong tất cả các nhiệm vụ.
- Hai là: Tự lực, tự cường xây dựng lực lượng vũ trang.
Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua mấy ngàn năm lịch sử; xuất phát từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT và xuất phát từ thực tiễn xây dựng LLVTND Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.
Nội dung:
Tự lực, tự cường dựa vào sức mình để xây dựng, để giữ vững tính độc lập, tự chủ, chủ động, không bị chi phối, ràng buộc.
Nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng đơn vị LLVTND vững mạnh toàn diện.
Triệt để tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi về khoa học - công nghệ để xây dựng và phát triển LLVTND.
Tập trung từng bước hiện đại hóa trang bị kỹ thuật, quản lý, khai thác, bảo quản có hiệu quả vũ khí, trang bị hiện có...
Tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm.
- Ba là: Xây dựng LLVTND lấy chất lượng là chính, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở.
Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Xuất phát từ truyền thống xây dựng LLVT của ông cha ta “binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Từ đòi hỏi, yêu cầu cao của nhiệm vụ đối với LLVTND trong thời kỳ mới. Từ thực tiễn xây dựng LLVTND, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở... Do đó, LLVTND của ta luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Đồng thời, xuất phát từ sự chống phá của kẻ thù trong chiến lược “DBHB”, BLLĐ nhằm phi chính trị hóa LLVTND, trước hết là quân đội, công an.
Nội dung:
Nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng:
Nâng cao chất lượng là chính, đồng thời có số lượng phù hợp với tình hình nhiệm vụ và khả năng kinh tế của đất nước;
Phải có cơ cấu hợp lý giữa các thứ quân, giữa lực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên;
Thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện, diễn tập để nâng cao trình độ SSCĐ của LLVTND.
Xây dựng LLVTND có chất lượng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức:
Phải thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVTND tin tưởng vào đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước. Tin tưởng tuyệt đối, tự giác chấp hành nghiêm mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật;
Chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị trong LLVTND vững mạnh (tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân...);
Chăm lo xây dựng cơ quan chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ chính trị, đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt, đủ sức lãnh đạo đơn vị.
- Bốn là: Bảo đảm LLVTND luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.
Ý nghĩa: Đây là quan điểm phản ánh chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, cơ bản, thường xuyên của LLVTND, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho LLVTND chủ động đối phó kịp thời và thắng lợi trong mọi tình huống có thể xảy ra.
Nội dung:
LLVTND phải luôn trong tư thế SSCĐ, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Xây dựng LLVTND vững mạnh về mọi mặt, duy trì và chấp hành nghiêm các chế độ, quy định về sẵn sàng chiến đấu, trực ban, trực chiến, trực chỉ huy...
Liên hệ
Mỗi chúng ta để làm tốt điều này thì phải coi đây là một nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của mỗi công dân. Từ đó, chúng ta sẽ ý thức được trách nhiệm của thanh niên, học sinh hiện nay là:
Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe.
Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa…
Tham gia đăng ký, tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Mỗi con người sinh ra đều mang trong mình một sứ mệnh riêng, nhưng hơn tất cả, sứ mệnh chung của chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, thì trách nhiệm đối với đất nước là một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Vậy trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là gì? Trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh.
Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù. Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho Tổ quốc. Bên cạnh đó, mỗi chúng ta cần phải yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết với mọi người vì điều đó không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng mà còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Quốc gia: Là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: Lãnh thổ, Dân cư và Quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật pháp quốc tế. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia. Theo luật pháp quốc tế hiện đại,tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền.
+Lãnh thổ quốc gia: Là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia,thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Việt Nam là một quốc gia độc lập cóchủ quyền. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm.Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm: Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo); Vùngbiển quốc gia; Vùng trời quốc gia; Lãnh thổ quốc gia đặc biệt.
+Vùng đất quốc gia: Là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia,làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, vùng biển quốc gia. Việt Nam là một quốc gia venbiển nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa làđất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, (diện tích đất liền khoảng 331.689 km2, từ đỉnh Lũng Cú đến mũi Cà Mau; hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ ... 12 huyện đảo, trong đó có 2 huyện đảo (quầnđảo) xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.)
Vùng biển quốc gia: Việt Nam có ba mặt trông ra biển (Đông, Nam và Tây Nam), vớibờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam. Diện tích biển của Việt Nam khoảng 1 triệu km2
+ Vùng biển quốc gia (thuộc lãnh thổ Việt Nam) gồm có Nội thủy và Lãnh hải:Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở, bao gồm Các vùng nước phía trong đường cơ sở và Vùng nước cảng. Nội thủy có chế độ pháp lí như đất liền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ).Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của ViệtNam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. Lãnh hải có chế độ pháp lí như đấtliền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ). Tuy nhiên, theo quy định của luật pháp quốc tế,trong lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của Việt Nam.
+ Vùng biển quốc gia :(thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam) gồm có Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềm lục địa:
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải (đường biên giới quốc gia trên biển).
+ Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp vớilãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.+ Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hảiViệt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo củaViệt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Thềm lục địa của Việt Nam có chiều rộng từ 200 đến không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở.
+Vùng trời quốc gia: Là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam.
+Lãnh thổ quốc gia đặc biệt: Là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế. Lãnh thổ quốc gia đặc biệt của Việt Nam như trụ sở làm việc và nơi ở của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài
+Chủ quyền quốc gia: Là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọimặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia. Tất cả các nước, không tính đến quymô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là đặctrưng chính trị và pháp lí thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốcgia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc khẳng địnhnguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác.
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng địnhquyền làm chủ của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình. Mỗi nước có toàn quyền định đoạtmọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việcnội bộ của các quốc gia khác. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia;mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia củamình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyềnlãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.Xây dựng chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là thực hiện tổng thể các giải pháp, biệnpháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và QP,AN nhằm thiết lậpvà bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hànhpháp và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển và lãnh thổ đặc biệt của quốc gia.Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biệnpháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyềnnhà nước đối với lãnh thổ quốc gia.Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt 4 nội dung sau:
Một là Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước.
Hai là Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Ba là Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam.
Bốn là Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cả trong và ngoàinước hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam.
Các nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau và đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Đảng ta đã xác định. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là Sinh viên chúng ta cần làm các điều sau để bảo vệ tổ quốc VN XHCN Cụ thể:
-Phát hiện và mạnh dạn đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương. Nhằm phát huy được những mặt tích cực, hạn chế những tồn tại nhược điểm của sinh viên, đóng góp tích cực cho công tác bảo vệ an ninh trật tự của địa phương, mỗi cá nhân phải học tập, rèn luyện tốt, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người sinh viên, kính trọng thầy, cô giáo, tôn trọng các cơ quan chính quyền, tích cực tham gia các phong trào của địa phương
-Bảo vệ an ninh trật tự của cách vùng biên giới nơi cư trú, chống hành vi xâm phạm chủ quyền biên giới
-Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
-Tự giác, tích cực luyện tập các kĩ năng quân sự, an ninh và chủ động tham gia các hoạt động về quốc phòng-an ninh do nhà trường, xã, phường, địa phương tổ chức.
Sinh viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện tốt chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng ; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian học tập tại trường. Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện, tự giác tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế – quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới, hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh viên đang học tại các trường đại học, cao đẳng cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia đối với sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ ; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, học tập tốt, thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
– Tham gia đăng kí tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Phân tích tính tất yếu phải kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh ở nước ta hiện nay? Mỗi sinh viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tham gia phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng-an ninh ở nước ta như thế nào.
+Khái niệm: Kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và Nhân dân trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động KT - XH,QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
+Mục đích của sự kết hợp: Là tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa.Thực chất của sự kết hợp:Là gắn kết giữa kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong một chỉnh thểthống nhất.
+Tính chất của sự kết hợp: Là hoạt động chủ quan của Đảng, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt đúng quy luật khách quan.Quan điểm của Đảng ta :Để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận và thực tiễn.
+Về cơ sở lý luận: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường , củng cố quốc phòng an ninh. Kinh tế và quốc phòng an ninh là những lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là cơ sở vật chất, suy đến cùng quyết định quốc phòng an ninh; ngược lại quốc phòng an ninh có sự tác động tích cực trở lại kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển: Cụ thể:
- KT là cơ sở vật chất, suy cho cùng quyết định QP, AN. Cụ thể:
+ KT quyết định nguồn gốc ra đời, sức mạnh của QP, AN. Lợi ích KT suy đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột XH. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động QP, AN.
+ Bản chất của chế độ KT quyết định đến bản chất nền QP, AN. Xây dựng QP, AN để tự vệ,giữ nước, chính nghĩa là do bản chất của chế độ XHCN quy định. Tăng cường sức mạnh QPAN vì mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản để thực hiện răn đe, can thiệp hay chiến tranh xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế TBCN quyết định.
+ KT quyết định việc cung cấp CSVC-KT, nhân lực cho hoạt động QP, AN.
+ KT quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho QP, AN, qua đó KT quyết định đến tổ chức biên chế của LLVT, quyết định đến đường lối chiến lược QP, ANĐể xây dựng QPAN vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.
- QP - AN tác động trở lại với KT - XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Cụ thể:
Mặt tích cực:
+ QP,AN vững mạnh để duy trì và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, lâu dài đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, XH.
+ Hoạt động QP, AN tro ng thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kinh tế, xã hộiphát triển.
+ Quá trình tiêu dùng cho QP, AN, đặt ra cho nền KT phải sản xuất ra sản phẩm hoặc thông qua mở rộng kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu của nó.Đây là những mặt tích cực, thống nhất giữa KT và QP, AN.
Mặt tiêu cực:
+ Hoạt động QPAN tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xa hội.Ảnh hưởng đến tiêu dùng của XH, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền KT.
+ Hoạt động QP, AN ảnh hưởng đến đường lối phát triển KT, cơ cấu kinh tế.
+ Hoạt động QP, AN còn có thể dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặngnề cho KT, nhất là khi chiến tranh xảy ra.Đây là những mặt tiêu cực, mâu thuẫn giữa phát triển KT, XH với tăng cường củng cố QP, AN
Giữa phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN có mối quan hệ chặt chẽ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Kết hợp là để phát huy mặt thống nhất, hạn chếmặt mâu thuẫn, để tạo thành sức mạnh tổng hợp.Vì vậy, kết hợp phát triển KT – XH với tăng cường củng cố QP – AN là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, việc kết hợp phải được thựchiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa.
Về cơ sở thực tiễn:
-Trên thế giới, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dùc hế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố QP - AN, kể cả những nước chưa hề xảy ra chiến tranh và tăng cường QPAN thì rất tốn kém.
- Ở Việt Nam ta, sự kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộcta :
+ Các triều đại phong kiến:
Từ xa xưa, cha ông ta đã đề ra kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”. Thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bềngốc”, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để “yên dân” mà “vẹn đất”; thực hiện “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển KT, vừa tăng cường sức mạnh QP để bảo vệ Tổ quốc.Khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để “Phục binh sẵn, phá thế giặc dữ” từ xa.Phát triển nghề thủ công vừa sản xuất nông cụ vừa sản xuất ra vũ khí, phương tiện phục vụtoàn dân đánh giặc.Mở mang đường sá, làm thủy lợi để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng
+ Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển KT - XHvới tăng cường, củng cố QP - AN một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng :
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đề ra chủ trương "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm";vừa thực hiện phát triển KT ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp;"Xây dựng làng kháng chiến", địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất, với các khẩu hiệu như “Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây”
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, kết hợp phát triển KT với tăng cường , củng cố QP - AN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thứcthích hợp:Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ, Đại hội III của Đảng đề ra chủ trương “Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”Miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương.Đây là sự linh hoạt, sáng tạo bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho thời kỳ sau.
Thời kì cả nước độc lập, thống nhất và đi lên CNXH, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trongđường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng CNXH, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảovệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng QP - AN, coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặtchẽ”.Việc kết hợp phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN đã và đang có nhữngchuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, thu được nhiều kết quả quan trọng,phát huy được tiềm năng và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN trong thời kỳ mới.Tóm lại, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP – AN ở Việt Nam hiện nay, là một tất yếu khách quan, có cơ sở lý luận và thực tiễn.
Rút ra ý nghĩa của sự kết hợp:
Từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN,chúng ta rút ra ý nghĩa thực tiễn thực hiện sự kết hợp, trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn đó là:
+ Phát triển KT-XH là trọng tâm nhưng không phải bằng mọi giá mà phải luôn nêu cao tinhthần cảnh giác cách mạng, luôn tính đến và không làm ảnh hưởng đến QPAN.
+ Ngược lại không phải quá lo giữ QP-AN mà không dám mở cửa, bỏ lỡ cơ hội phát triển KT-XH trong xu thế hội nhập.
+ Phát triển KT-XH là để có điều kiện tăng cường củng cố, đầu tư cho QP-AN
+ Củng cố QP-AN là để tạo điều kiện môi trường hòa bình ổn định cho phát triển KT-XH,đồng thời bảo vệ thành quả phát triển KT- XH.
Liên hệ: Bản thân sinh viên cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sinh Viên cần phải nỗ lực học tập và rèn luyện tốt để cống hiến sức lực và tri thức cho đất nước. Nêu cao tinh thần cảnh giác với các thế lực thù địch, không để những cám dỗ về vật chất tác động đến bản thân, làm suy giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước.
Giữ vững ổn định về tư tưởng chính trị, không để các thế lực thù địch có cơ hội dụ dỗ, lôi kéo. Đấu tranh phòng ngừa, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của cá thế lực chống phá.
Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị, kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa, với lý tưởng của Đảng, với niềm tin của nhân dân. Thường xuyên nâng cao hiểu biết, nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đóng góp hết khả năng của mình vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời đại mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một công dân, chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Vận động nhân dân và người thân chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia vào các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, làm suy thoái tư tưởng chính trị. Phát hiện, tố cáo các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, làm nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Tăng cường đoàn kết trong nhân dân, truyên truyền, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh và thế trận an ninh nhan dân vững chắc.
Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, kiên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tư tưởng, lối sống.
Xây dựng ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc, phát triển kinh tế địa phương đi đối với giữ gìn văn hóa dân tộc và các giá trị truyền thống tốt đẹp.
*Trong vở
- Cảnh giác , tỉnh táo trước thông tin xấu độc trên các nền tàng MXH , không chia sẻ các viết mang nội dung chống mang phá Đảng , kích động , chia rẽ nội bộ toàn dân , lôi kéo mục đích chống phá. Đề phòng sự dụ dỗ của các thế lực chống phá như : Việt Tân , Hội đồng Dân quân cứu quốc” do các đối tượng khủng bố cầm đầu , các tổ chức chống phá núp bóng tổ chức phi chính phủ , các hội kêu gọi Dân Chủ của tàn dư chế độ VNCH , tránh xem và theo dõi kênh của các đối tượng chống đối , xuyên tạc như : Dưa Leo, N10TV , Lisa Phạm , Tân Thái , Benny Trương ,....
+ Phòng chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ không là trách nhiệm riêng lẻ của ai. Đối với bản thân sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong thời kỳ mới như sau:
+ Trung thành tuyệt đối Chủ nghĩa Mác-Lênin với đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà Nước. Bản thân luôn trau dồi và nâng cao ý thức, lối sống và trách nhiệm với xã hội, gia đình và bản thân. Học tập và rèn luyện theo tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Đảng cũng như về sự nghiệp của thanh niên Việt Nam.
+ Trung thành tuyệt đối với Đảng và Nhà nước
+ Bản thân phải luôn nhận thức được việc học tập là một trong những yếu tố góp phần cho sự nghiệp không chỉ của riêng mình mà của cả xã hội. Học tập tốt để tạo nên nền móng vững chắc cho những nghiên cứu cũng như sáng kiến cho phát triển đất nước. Trung thực và không lười biếng, nỗ lực cho sự phát triển của bản thân cho xây dựng đất nước mai sau.
+Luôn nâng cao kiến thức và cập nhật thông tin, thời sự chính trị để nâng cao “sức đề kháng” với diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Lên án và quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc và lợi dụng kẽ hở của xã hội và Nhà nước để chống phá. Đặc biệt luôn nâng cao sự cảnh giác và bảo vệ bản thân trước những thông tin sai trái của phản động.
Chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, tham gia tích cực vào các hoạt động tình nguyện để giúp đỡ và tuyên truyền ý thức tự giác, kỷ luật và xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp hơn. Bản thân có ý thức tự giác không bị lôi kéo từ các chiêu bài diễn biến hoà bình và các tệ nạn xã hội
+Trong thời đại, xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thế hệ trẻ nói chung và bản thân nói riêng phải luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt. Biết chọn lọc thông tin chính xác chuẩn và không tham gia các thông tin phản động và lôi kéo lối sống thực dụng. Cuộc cách mạng khoa học diễn ra nhanh chóng, bản thân phải là một phần nhỏ bé tạo nên những giá trị để xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển hơn.
Cùng toàn dân Việt Nam làm vô hiệu hóa chiến lược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
+Dù các thế lực có tung các chiêu bài khác nhau, thay đổi chiến lược như thế nào thì với một niềm tin bất diện vào Đảng Cộng Sản Việt Nam thì chúng ta sẽ chiến thắng. Đất nước sẽ luôn được bình yên và thịnh vượng.
Những giải pháp phòng, chống chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Mục tiêu
Mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam là làm chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta theo con đường TBCN. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là:
+ Giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tạo môi trường hòa bình để đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
+Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhiệm vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phải kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ.
- Đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay đồng thời còn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
- Chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta, kịp thời tiến công ngay từ đầu. Xử lí nhanh chóng, hiệu quả khi có bạo loạn xảy ra và luôn bảo vệ tốt chính trị nội bộ.
Quan điểm chỉ đạo
- Đấu tranh chống “DBHB” là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức gay go, quyết liệt lâu dài và phức tạp trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực chất chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Mục tiêu của chiến lược đó là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, làm sụp đổ chế độ XHCN ở Việt Nam và chuyển hóa theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản
- Chống chiến lược “DBHB” là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xuất phát từ các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt mà các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược “DBHB” với nhiều đòn tấn công “mềm” trên tất cả các lĩnh vực để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, Đảng ta đã xác định rõ nội dung bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay là toàn diện, coi trọng giữ vững an ninh, kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
Phương châm tiến hành + Kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững bên trong với chủ động ngăn chặn phòng ngừa và chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Từ đó phải nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù nhằm chống phá cách mạng nước ta.
+ Chủ động, kiên quyết khôn khéo xử trí linh hoạt các tình huống và giải quyết hậu quả kịp thời khi có bạo loạn xảy ra, giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bao giờ cũng chủ động chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, từng bước làm suy yếu từ bên trong và khi có thời cơ tiến hành lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế chứng minh, chủ động tiến công sẽ tạo thuận lợi giành thắng lợi trong chiến tranh nói chung và trong phòng chống chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với nước ta nói riêng.
- Xây dựng tiềm lực mọi mặt vững mạnh của đất nước, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù đối với Việt Nam. , phải thường xuyên coi trọng xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa- xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt. Chú trọng tuyên truyền giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lao động hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn cơ bản trong chiến lược “DBHB” mà kẻ thù sử dụng để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Những giải pháp phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hưởng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế
Muốn ngăn chặn, đấu tranh đạt hiệu quả, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù thì phải giữ vững sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Tệ quan liêu, tham nhũng được kẻ thù lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, kích động nhân dân lao động đứng lên biểu tình chống lại chính quyền địa phương, chống Đảng và Nhà nước ta, gây mất ổn định xã hội. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để giữ vững và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn ổn định.
Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ
Chủ động nắm địch, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Do vậy phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân Việt Nam, mọi tổ chức chính trị - xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá cách mạng Việt Nam. Cần phải đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác cách mạng trong một bộ phận nhân dân, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thám hiểm trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá nước ta hiện nay.
Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân
Đối với nước ta, bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa, ở Liên Xô và Đông Âu, Vì vậy, khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố nền quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các thành quả cách mạng. Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện, nhưng tập trung vào : Giáo dục tỉnh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thủ chống phá đất nước ta ; quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới : tinh thần sản sàng xả thân vì Tổ quốc, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh... hình thức giáo đục phải đa dạng, phù hợp với từng đối tượng
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh sẽ bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Do vậy, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh ; theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng, mọi miền đất nước ; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng, Nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh
Xây dựng lực lương dân quân tự vệ, dự bị động viên phải rộng khắp ở tất cả các lãnh, báo, phường, xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải chủ trong giải quyết đúng được mối quan hệ giữa số lượng và chất lương nhưng lấy chất lượng là chính. Ở địa phương, phải chủ độngtrong kết hợp phát động phong trào quân thung báo và an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở, Quân chúng là nên tăng, là gốc rẻ của dân tộc, là đồng lúc chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy, quân chúng cũng là đối tượng để kẻ thù lợi dung, mua chuộc nhằm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" , bạo loạn lật đổ nhằm chống phá nước ta
Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống "Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của địch Mỗi thủ đoạn, hình thức, biện pháp mà kẻ thù sử dụng trong chiến lược"Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, cần có phương thức xử lí cụ thể,hiệu quả. Khi mỗi tình huống bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, xử trí theo nguyên tắc nhanh gọn – kiên quyết – linh hoạt – đúng đối tượng - không để lan rộng, kéo dài. Từ đó, xây dựng đầy đủ luyện tập các phương án sát với diễn biến từng địa phương, từng đơn vị, từng cấp, từng ngành. Hoạt động xử lí bạo loạn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, các ngành, quân đội và công an làm tham mưu.
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hưởng xã hội chủ nghĩa thực chất là để tạo ra cơ sở vật chất, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đồng thời, là điều kiện để tăng năng suất lao động của xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động, để tạo nên sức mạnh của theo trận lòng dân".
Những giải pháp trên đây có quan hè chặt chẽ với nhau, tạo thành một chính thể thống nhất nhằm đấu tranh ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà hình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay. Vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ này không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hoà một giải pháp nào.
a) Thủ đoạn : Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và làm theo. Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”; những vấn đề lịch sử để lại; những đặc điểm văn hóa, tâm lí của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, các tôn giáo ; những thiếu sót trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để chống phá cách mạng Việt Nam. Thủ đoạn đó được biểu hiện cụ thể ở các dạng sau:
+ Một là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, mà trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
+Hai là, chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
+Ba là, chúng tập trung phá hoại các cơ sở kinh tế - xã hội; mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam, đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Nam.
+Bốn là, chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, các tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam .Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất nham hiểm. Tuy nhiên, âm mưu thủ đoạn đó của chúng có thực hiện được hay không thì không phụ thuộc hoàn toàn vào chúng, mà chủ yếu phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của chúng ta
b). Giải pháp đấu tranh phòng, chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.
+Một là: ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,trên cơ sở nâng cao nhận thức, tư tưởng của cả hệ thống chính trị, của toàn dân mà trực tiếp là của đồng bào các dân tộc , tôn giáo .
+Hai là: tăng cường xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội đề kháng trước mọi âm mưu thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù. Cần tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Ba là, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân thì không kẻ thù nào có thể lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam.
+Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị; của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo tham gia vào phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Tích cực xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo
+Năm là: chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch; kịp thời giải quyết tốt các điểm nóng. Cần thường xuyên vạch trần bộ mặt phản động của kẻ thù để nhân dân nhận rõ và không bị lừa bịp
Liên hệ:
- Cảnh giác , tỉnh táo trước thông tin xấu độc trên các nền tàng MXH , không chia sẻ các viết mang nội dung chống mang phá các chính sách tôn giáo của Đảng , kích động , chia rẽ nội bộ toàn dân , lôi kéo mục đích chống phá. Đề phòng sự dụ dỗ của các thế lực chống phá như : Việt Tân , Hội đồng Dân quân cứu quốc” do các đối tượng khủng bố cầm đầu , các tổ chức chống phá núp bóng tổ chức phi chính phủ , các hội kêu gọi Dân Chủ ,tự do tôn giáo của tàn dư chế độ VNCH .Kiên quyết không nghe theo những đối đối tượng chống đối , xuyên tạc như : Dưa Leo, N10TV , Lisa Phạm , Tân Thái ,Benny Trương ,....
-Nếu phát hiện các đối tượng có hành vi tuyên truyền, lôi kéo người tham gia vào các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp ở bất cứ đâu cần báo ngay cho chính quyền địa phương và cơ quan Công an để có biện pháp ngăn chặn, xử lý.
-Sinh viên không tham gia vào các hoạt động truyền đạo trái pháp luật. Nhà trường cũng đề nghị các em sinh viên cảnh giác, tỉnh táo, tránh bị lôi kéo và dụ dỗ, tham gia vào các hoạt động truyền đạo trái pháp luật
+Nhận thức đúng đắn sâu sắc về tính chất, nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc công tác đấu tranh địch lợi dụng dân tộc tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam.
+Nâng cao tinh thần cảnh giác với các thế lực thù địch, không để những cám rõ tác động đến bản thân, làm suy giảm lòng tin vào Đảng, nhà nước. Giữ vững ổn định về tư tưởngchính trị, không để các thế lực thù địch có cơ hội dụ dỗ lôi kéo. Đấu tranh phòng ngừa, phát hiện ra những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá.
+Tích cực học tập nâng cao kiến thức, hiểu được đúng đắn những nội dung cơ bản của vấn đề dân tộc và tôn giáo. Chăm chỉ rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, luyện tập quân sự đểcống hiến toàn bộ tri thức và sức mạnh cho đất nước.
+Xây dựng lối sống tự lực tự cường, phát huy tối đa lòng tự hào dân tộc, luôn luôn phát triển kinh tế địa phương đi đôi với giữ gìn văn hóa dân tộc và các giá trị truyền thống tốt đẹp.
+Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, trên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tư tưởng, lối sống.
+Vận động nhân dân chấp hành các quy định pháp luật, hiểu được sự nguy hại của tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo làm suy thoái tư tưởng chính trị.
+Thường xuyên tự giác tham gia các hoạt động cụ thể để tuyên truyền, góp phần xây dựngnền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh.
+Tích cực tham gia các cơ quan bảo vệ pháp luật trực tiếp như lực lượng công an để có biệnpháp tương đồng kịp thời với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá .
+Tăng cường đoàn kết nhân dân, tuyên truyền, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữacác dân tộc, tôn giáo nhằm góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, thế trận an ninh vững chắc.
Khái niệm về nhân phẩm:
Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được. Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người. Người có nhân phẩm là người có lương tâm, có nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, luôn thực hiện tốt các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội và người khác, biết tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức tiến bộ. Người có nhân phẩm được xã hội đánh giá cao và được kính trọng. Người thiếu nhân phẩm hoặc tự đánh mất nhân phẩm sẽ bị xã hội đánh giá thấp, bị coi thường và khinh rẻ, bị tố cáo và lên án. Để trở thành người có nhân phẩm, con người cần phải có lương tâm trong sáng, nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức, thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức, tôn trọng nhân phẩm của chính mình cũng như của mọi người xung quanh.
Khái niệm về danh dự
Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó. Khi con người tạo ra được cho mình những giá trị tinh thần, đạo đức và những giá trị đó được xã hội đánh giá, công nhận thì người đó có danh dự. Danh dự có cơ sở từ những cống hiến thực tế của con người đối với xã hội, với người khác. Là con người, ai cũng đóng góp ít nhiều cho cuộc sống, cho xã hội, do đó, ai cũng có danh dự. Tuy nhiên, mỗi chúng ta phải luôn giữ gìn và bảo vệ danh dự của mình và tôn trọng danh dự của người khác. Khi chúng ta biết giữ gìn danh dự của mình, của các cá nhân có được một sức mạnh tinh thần để làm điều tốt, hướng chúng ta đến điều thiện và tránh xa các điều xấu.
Nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội danh dự, nhân phẩm Để phòng ngừa có hiệu quả tội phạm đòi hỏi các cơ quan chức năng phải xác định chính xác những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm xây dựng chiến lược phòng ngừa phù hợp. Những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm hiện nay bao gồm:
Sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt ưu điểm cũng bộc lộ nhiều mặt trái trở thành những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, đó là:
+ Hình thành lối sống hưởng thụ xa hoa, trụy lạc của một bộ phận người trong xã hội. + Đã làm xuống cấp nhiều mặt về văn hoá, đạo đức, lối sống làm mất đi truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
+ Đẩy mạnh tốc độ phân tầng xã hội, tạo ra sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc, một bộ phận giàu lên nhanh chóng trong đó có một số người làm giàu bất chính từ đó dẫn đến phạm tội, mặt khác không ít người không có tư liệu sản xuất phải ra thành phố, thị xã làm thuê kiếm sống bị tác động bởi những hiện tượng tiêu cực dễ dẫn đến phạm tội.
Tác động trực tiếp, toàn diện của những hiện tượng xã hội tiêu cực do chế độ cũ để lại:
+ Hậu quả của chế độ thực dân, đế quốc cùng với chiến tranh kéo dài trong nhiều năm đã phá hoại cơ sở vật chất, hình thành lối sống hưởng thụ, tư tưởng tham lam, ích kỉ, sa đọa truy lạc trong một bộ phận nhân dân.
+ Tư tưởng trọng nam, coi thường phụ nữ; những tác động tiêu cực, tàn dư của chế độ xã hội cũ còn tồn tại lâu dài tác động vào đời sống xã hội làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong đó có tội phạm.
- Sự thâm nhập ảnh hưởng của tội phạm, tệ nạn xã hội của các quốc gia khác. - Những sơ hở, thiếu sót trong các mặt công tác quản lí của Nhà nước, các cấp, các ngành bao gồm: Sơ hở thiếu sót trong quản lí con người, quản lí văn hoá, quản lí nghề nghiệp kinh doanh...
Những thiếu sót trong giáo dục đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ văn hoá của người dân.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật kém hiệu quả, một số chính sách về kinh tế, xã hội chậm đổi mới tạo sơ hở cho tội phạm hoạt động phát triển. Sự chậm đổi mới chủ trương chính sách về kinh tế xã hội và pháp luật đã bộc lộ những sơ hở khiến cho một số đối tượng lợi dụng để hoạt động phạm tội.
Công tác đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan chức năng nói chung và của ngành công an nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu sót; thể hiện trên các mặt:
+ Trình độ nghiệp vụ, pháp luật của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn dẫn đến hữu khuynh né tránh, thậm chí có một số cán bộ biến chất, tiếp tay cho tội phạm, buông lỏng công tác đấu tranh trấn áp tội phạm.
+ Mối quan hệ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thực sự đồng bộ, thiếu thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật còn chưa tốt.
+ Hoạt động điều tra, xử lí tội phạm chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, xử lí chưa nghiêm minh.
+ Hệ thống tổ chức bộ máy, phân công chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và trong nội bộ từng cơ quan chưa thực sự khoa học, hiệu quả vận hành chưa cao.
Công tác quản lí Nhà nước về an ninh trật tự còn bộc lộ nhiều sơ hở. Công tác giáo dục cải tạo chưa xoá bỏ được tư tưởng phạm tội của các đối tượng, số đối tượng phạm tội trở lại còn nhiều.
Liên Hệ :
+Mỗi sinh viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, phòng chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng như thế nào.
+Không ngừng học tập nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật và nội dung cơ bản nhất về phòng ngừa tội phạm.
+Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho mọi người. Chấp hành nghiêm chỉnh những nội quy, quy định của nhà trường trong lĩnh vực học tập, sinh hoạt tập thể.
+ Trực tiếp tham gia các hoạt động phòng ngừa tội phạm, tham gia vào các tổ chức thanh niên xung kích tiến hành tuần tra, kiểm soát bảo vệ an ninh trật tự trong khu vực trường, lớp;
+phát hiện các hiện tượng tiêu cực có thể nảy sinh trong trường, lóp ; các quan hệ nam nữ không lành mạnh, các hành vi nghi vấn nghiện ma tuý, cờ bạc, chơi lô đề, cá cược bóng đá... có thể dẫn đến tội phạm nói chung và tội phạm danh dự, tính mạng.
+Khi có vụ phạm tội xảy ra trong khu vực trường, lóp phát hiện và cung cấp cho cơ quan chức năng những thông tin có liên quan đến vụ việc phạm tội, người phạm tội; tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của mỗi người mà có thể tham gia cộng tác giúp đỡ lực lượng công an một cách công khai hay bí mật.
An toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Theo Từ điển luật học Black’s Law, tội phạm máy tính (computer crime) được định nghĩa là: “tội phạm đòi hỏi về kiến thức công nghệ máy tính chẳng hạn như phá hoại hoặc ăn cắp dữ liệu máy tính hay sử dụng máy tính để thực hiện một số tội phạm khác”. Tội phạm công nghệ cao là tội phạm cố ý sử dụng tri thức, kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương tiện công nghệ thông tin tác động trái pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính. Tội phạm công nghệ cao thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật và gây hại đến lợi ích của Nhà nước; quyền và các lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tội phạm sử dụng công nghệ cao không phải là một tội danh độc lập được quy định trong Bộ luật Hình sự mà đó slà tổ hợp của những tội phạm sử dụng tri thức về công nghệ cao để xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Cơ sở pháp lý
Bộ luật Hình sự năm 2015
Hoàn cảnh ra đời: Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Hình sự.
-Ngày 20/6/2017, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13. BLHS số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta.
Hiệu lực thi hành: Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
Bố cục của Bộ luật Hình sự: Bộ luật hình sự gồm 26 Chương và 526 Điều, bao gồm:
Chương I. Điều khoản cơ bản (Điều 01 – Điều 04). - Chương II. Hiệu lực của bộ luật hình sự (Điều 05 – Điều 07)
Chương III. Tội phạm (Điều 8 – Điều 19).
Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (Điều 20– Điều 26). - Chương V.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự (Điều 27 – Điều 29).
Chương VI. Hình phạt (Điều 30 – Điều 45). - Chương VII. Các biện pháp tư pháp (Điều 46 – Điều 49).
Chương VIII. Quyết định hình phạt (Điều 50 – Điều 59).
Chương IX. Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Điều 60 – Điều 68).
Chương X. Xóa án tích (Điều 69– Điều 73).
Chương XI. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 74 – Điều 89).
Chương XII. Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 90 – Điều 107). - Chương XIII. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Điều 108 – Điều 122).
Chương XIV. Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Điều 123 – Điều 156).
Chương XV. Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Điều 157 – Điều 167).
Chương XVI. Các tội xâm phạm sở hữu (Điều 168 – Điều 180).
Chương XVII. Các tội phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 181 – Điều 187).
Chương XVIII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Điều 188 – Điều 234).
Chương XIX. Các tội phạm về môi trường (Điều 235 – Điều 246). - Chương XX. Các tội phạm về ma túy (Điều 247 – Điều 259). - Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Điều 260 – Điều 329).
Chương XXII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Điều 330 – Điều 351). - Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ (Điều 352 – Điều 366). - Chương XXIV. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Điều 367– Điều 391).
Chương XXV. Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu (Điều 392– Điều 420).
Chương XXVI. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Điều 421– Điều 426). Trong đó các Điều khoản trong luật thực hiện với các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại Mục 2. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XII gồm các Điều 285 đến 294.
+ Điều 285. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật.
+ Điều 286. Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.
+ Điều 287. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.
+ Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông.
+ Điều 289. Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác. + Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
+ Điều 291. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng.
+ Điều 292. Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông
+ Điều 293. Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh.
+ Điều 294. Tội cố ý gây nhiễu có hại.
Luật An toàn thông tin 2015
Hoàn cảnh ra đời: Hiện nay, mạng Internet đã trở thành công cụ trung tâm để phát triển nền kinh tế và xã hội của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, mạng internet cũng được coi là công cụ, phương tiện quan trọng để thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh trong một thế giới cạnh tranh và toàn cầu hóa. Vì vậy, Việt Nam cần có các quy định pháp lý về an toàn thông tin để nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm ATTT, tạo môi trường bình đẳng cho các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Hiệu lực thi hành: Luật An toàn thông tin có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
Bố cục của Luật An toàn thông tin: Luật An toàn thông tin mạng gồm 08 Chương và 54 Điều, bao gồm:
Chương I. Những quy định chung (Điều 01 – Điều 08) Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng, chính sách của nhà nước, hợp tác quốc tế, những hành vi bị cấm trong hoạt động an toàn thông tin mạng và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thông tin mạng.
Chương II. Bảo đảm an toàn thông tin mạng (Điều 09 – Điều 29) Chương này quy định 04 mục: Bảo vệ thông tin mạng; Bảo vệ thông tin cá nhân; Bảo vệ hệ thống thông tin; Ngăn chặn xung đột thông tin trên mạng.
Chương III. Mật mã dân sự (Điều 30 – Điều 36) Chương này quy định các nội dung liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và các hoạt động có liên quan đến kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.
Chương IV. Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng (Điều 37 – Điều 39) Chương này quy định các nội dung về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng; quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng và chứng nhận, công bố hợp quy và đánh giá, kiểm định an toàn thông tin mạng.
-Chương V. Kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng (Điều 40 – Điều 48), gồm 02 mục: Giấy phép kinh doanh sản phẩm an toàn thông tin mạng; Quản lý nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin mạng. Đây là lĩnh vực rất mới, hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng còn chưa đầy đủ, nên Luật an toàn thông tin mạng hướng tới việc hoàn thiện hành lang pháp lý đảm bảo thông thoáng, công bằng, phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy thị trường phát triển bền vững
Chương VI. Phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin mạng (Điều 49 – Điều 50). Chương này quy định về các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về an toàn thông tin mạng, văn bằng, chứng chỉ đào tạo về an toàn thông tin mạng tại Việt Nam, thể hiện đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian vừa qua.
Chương VII. Quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng (Điều 51 – Điều 52). Hệ thống hoá thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, qua đó giúp các cơ quan này có thể tham chiếu một cách hệ thống, cơ bản về các quyền hạn và trách nhiệm của mình trong quá trình đảm bảo an toàn thông tin bên cạnh việc xác định các nội dung cụ thể xoay quanh nội dung quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng, bao gồm các hoạt động xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; hoạt động xây dựng và hoàn thiện thể chế; tổ chức thực thi các văn bản; quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; hoạt động thanh tra kiểm tra; hợp tác quốc tế...
Chương VIII. Điều khoản thi hành (Điều 53 – Điều 54) quy định về hiệu lực thi hành.
Luật An ninh mạng 2018 -
Hoàn cảnh ra đời: Trước yêu cầu cấp bách của tình hình an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; khắc phục những tồn tại, hạn chế cơ bản trong công tác bảo vệ an ninh mạng; thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về an ninh mạng; bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 đã thông qua dự thảo Luật An ninh mạng với 86,86% đại biểu đồng ý.
- Hiệu lực thi hành: Luật An ninh mạng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Bố cục của Luật An ninh mạng Luật An ninh mạng gồm 07 Chương, 43 Điều. Bố cục của Luật cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung, gồm 9 điều, (từ Điều 1 đến Điều 9) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng; biện pháp bảo vệ an ninh mạng; bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng.
Chương II. Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, gồm 6 điều (từ Điều 10 đến Điều 15), quy định về hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Chương III. Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, gồm 7 điều (từ Điều 16 đến Điều 22), quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng; phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng.
Chương IV. Hoạt động bảo vệ an ninh mạng, gồm 7 điều (từ Điều 23 đến Điều 29), quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức không thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia; cổng kết nối mạng quốc tế; bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng; nghiên cứu, phát triển an ninh mạng; nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng; bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Chương V. Bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng, gồm 6 điều (từ Điều 30 đến Điều 35), quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng; bảo đảm nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng; tuyển chọn, đào tạo, phát triển lực lượng bảo vệ an ninh mạng; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ an ninh mạng; phổ biến kiến thức về an ninh mạng; kinh phí bảo vệ an ninh mạng.
Chương VI. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gồm 7 điều (từ Điều 36 đến Điều 42), quy định về trách nhiệm của Bộ Công an; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông; trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ; trách nhiệm của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng.
Chương VII. Điều khoản thi hành, gồm 01 điều (Điều 43), quy định về hiệu lực thi hành. 2.Mỗi sinh viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, phòng chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng như thế nào. -Nhận thức Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, bảo vệ an ninh mạng ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xây dựng không gian mạng thực sự lành mạnh và an toàn. Để đảm bảo an ninh mạng, cần phát huy sức mạnh tổng hợp và đồng bộ của các lực lượng, trong đó mỗi cá nhân có vai trò hết sức quan trọng. Không gian mạng ngày nay trở thành một không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng Internet và mạng xã hội để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; phát tán tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngay sau khi Luật An ninh mạng của nước ta được ban hành cũng bị một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí xuyên tạc, phản đối, phủ nhận.
-Trách nhiệm
+Một là, Mỗi cá nhân cần nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.
+Hai là, Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời...; các thủ đoạn tạo vỏ bọc “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”,... để chống phá; các website giả mạo, các trang mạng có nhiều nội dung thông tin xấu, độc
. +Ba là, Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc các đường link; cảnh giác với trang web lạ (web đen), E-mail chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.
+Bốn là, cần biết cách tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mang kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hóa mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.
+Năm là, Phổ biến, tuyên truyền trong gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân nơi cư trú các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, góp phần xây dựng “không gian mạng lành mạnh từ cơ sở”
Khái niệm
-Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên
-Vi phạm pháp luật về môi trường là một loại vi phạm pháp luật nói chung. Hiện nay có nhiều quan điểm, góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học khi nghiên cứu vi phạm pháp luật về môi trường. Tuy nhiên, dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được tiếp cận bao gồm cả tội phạm về môi trường và vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Theo đó:
-Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, xâm phạm đến các thành phần của môi trường làm thay đổi trạng thái, tính chất của môi trường gây ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại, phát triển con người và sinh vật, mà theo quy định phải bị xử lý hình sự
-Như vậy, tội phạm về môi trường trước hết phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác động tiêu cực và gây tổn hại ở mức độ đáng kể đến các yếu tố của môi trường, tài nguyên gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, đến sự sống của động vật, thực vật sống trong môi trường đó.
-Tiếp theo, tội phạm về môi trường phải xâm hại đến các quan hệ được luật hình sự bảo vệ. Đó là sự trong sạch, tính tự nhiên của các thành phần môi trường, sự cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học,
… tạo nên điều kiện sống, tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Ngoài ra, để phân biệt tội phạm về môi trường với các loại tội phạm khác cần dựa vào yếu tố môi trường. Sự khác biệt đó thể hiện, tội phạm về môi trường tác động đến các thành phần của môi trường dẫn đến làm thay đổi trạng thái, tính chất của môi trường hoặc xâm phạm đến quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
Dấu hiệu vi phạm pháp luật về môi trường
- Dấu hiệu pháp lý của tội phạm về môi trường Tội phạm về môi trường được quy định tại Chương 19 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) bao gồm 12 tội danh được quy định từ Điều 235 đến điều 246. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm về môi trường được thể hiện dưới 4 yếu tố cấu thành tội phạm sau đây:
+ Khách thể của tội phạm Khách thể của các tội phạm về môi trường là sự xâm phạm vào các quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, xâm phạm vào sự trong sạch, tính tự nhiên của môi trường thiên nhiên vượt quá mức giới hạn cho phép, xâm phạm vào sự ổn định của môi trường sống gây ảnh hưởng hoặc làm tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người và các loài sinh vật. Đối tượng tác động của các tội phạm về môi trường chủ yếu là các thành phần môi trường như đất, nước, không khí, hệ sinh thái, đa dạng sinh học, khu bảo tồn thiên nhiên, các loài động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên. Ngoài ra trong một số tội danh, đối tượng tác động của tội phạm về môi trường còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản như ‘‘Điều 237, Điều 238 BLHS hiện hành”1
+ Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của các tội phạm về môi trường được thể hiện bởi những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hầu hết các tội phạm về môi trường có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất. Mặt khách quan của tội phạm về môi trường được thể hiện dưới các nhóm hành vi cụ thể sau: *Nhóm các hành vi gây ô nhiễm môi trường (quy định tại các điều 235, 236, 237, 239 - Bộ luật Hình sự hiện hành): *Nhóm các hành vi hủy hoại tài nguyên, môi trường (quy định tại các điều 238, 242, 243, 244, 245, 246 - Bộ luật hình sự hiện hành), bao gồm các hành vi: Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai, vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238), Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242 Tội hủy hoại rừng (Điều 243 Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 * Nhóm các hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm (quy định tại các điều 240, 241- Bộ luật Hình sự hiện hành): +
+Chủ thể của tội phạm: Về cá nhân, đa số các tội phạm về môi trường được thực hiện bởi chủ thể là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo qui định của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó cũng có tội phạm được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn. Về pháp nhân thương mại phải đảm bảo các quy định: được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan, có cơ cấu tổ chức theo quy định của Bộ luật Dân sự, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập, có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: Các tội phạm về môi trường được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý. Hầu hết tội phạm về môi trường thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi cố ý. Có nghĩa là chủ thể thực hiện tội phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và sẽ gây ra hậu quả nhất định cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện hành vi. Động cơ, mục đích phạm tội đa dạng, nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội phạm về môi trường. - Dấu hiệu của vi phạm hành chính về môi trường + Về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Bao gồm các cá nhân hoặc tổ chức có đủ điều kiện về chủ thể. Đối với cá nhân, người vi phạm phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật. Đối với tổ chức vi phạm phải có tư cách pháp nhân, nghĩa là các tổ chức này được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập đó, đồng thời được nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. + Về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Hành vi vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường. Hành vi gây ô nhiễm môi trường; hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải. Hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học. Hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường. Hành vi vi phạm về đa dạng sinh học bao gồm: Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên. Hành vi vi phạm các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền. Hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước, kiểm tra, phối hợp thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính. Liên hệ trách nhiệm của mỗi sinh viên trong bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp ở nhà trường và địa phương.
-Nhận thức :
Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp. Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí. Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục, ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi trường nên bắt đầu bằng việc tuyên truyền để nâng cao ý thức tự giác của nhân dân là một vấn đề cốt lỗi.
-Trách nhiệm:
+Nắm vững các quy định của pháp luật phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
+ Xây dựng ý thức trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên (nước, năng lượng,…).
+ Tham ra tích cực trong các phong trào về bảo vệ môi trường.
+Xây dựng văn hóa ứng xử, ý thức trách nhiệm với môi trường như sống thân thiện với môi trường xung quanh; tích cực trồng cây xanh; hạn chế sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân để bảo vệ môi trường không khí; tham gia thu gom rác thải tại nơi sinh sống và học tập
Trung thành, kế thừa và phát triển quan điểm của CN Mác-LêNin về chiến tranh ; Trên cơ sở lập trường duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
*Thứ nhất, xác định bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
Người nói về bản chất của CNĐQ một cách khái quát bằng hình ảnh “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao động ở chính quốc, một vòi hút máu NDLĐ các nước thuộc địa. Người đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật của CTXL thuộc địa và cướp bóc của TDP: “Người Pháp khai hoá văn minh bằng rượu lậu và thuốc phiện”.
Nói về mục đích của cuộc KC chống TDP: Người khẳng định: “Ta chỉ giữ gìn non sông đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc...”.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, cuộc chiến tranh do TDP tiến hành ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống TDP là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước.
*Thứ hai, Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất CT-XH của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của CNĐQ, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh gải phóng dân tộc.
HCM đã xác định chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của chúng ta là ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Hồ Chí Minh khẳng định: Phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để giành và giữ chính quyền.
Bạo lực cách mạng theo tư tưởng HCM được tạo bởi sức mạnh của toàn dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
Theo HCM mục tiêu duy nhất của việc sử dụng bạo lực CM là giành ĐLDT để xây dựng CNXH, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
*Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, con người là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để "xây dựng lầu thắng lợi". Tư tưởng HCM về chiến tranh nhân dân là một trong những di sản quý báu của người.
Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc chiến tranh toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
-Theo tư tưởng HCM, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, trong đó LLVTND làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận : quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá...
Kế thừa, bảo vệ và phát triển lí luận của C Mác, Ph Ăng ghen về quân đội ; LêNin đã vận dụng thành công trong XD quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản với các nguyên tắc sau:
Đảng cộng sản lãnh đạo Hồng Quân tăng cường bản chất GC công nhân.
Đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân.
Trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Xây dựng chính quy.
Không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức.
Phát triển hài hòa các quân, binh chủng.
Sẵn sàng chiến đấu.
Trong đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định đến sức mạnh, sự tồn tại, phát triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng Quân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân ta. Trong đó, tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng, thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, ý chí độc lập tự cường và khát vọng xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với nhiều thách thức về an ninh, chính trị, kinh tế và văn hóa, việc hiểu rõ và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nội dung
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của mọi công dân
Hồ Chí Minh khẳng định: “Mỗi người dân phải hiểu: Tổ quốc là của mình, mình phải có trách nhiệm giữ gìn.”
Người coi yêu nước gắn liền với hành động cụ thể – không chỉ là tình cảm mà còn là bổn phận, là nghĩa vụ. Mỗi người dân đều phải sẵn sàng hy sinh, phấn đấu, đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp bảo vệ đất nước.
Bảo vệ Tổ quốc gắn liền với giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc. Người nhấn mạnh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.”
Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là chống giặc ngoại xâm, mà còn là giữ gìn sự thống nhất, hòa bình và ổn định trong nước, không để kẻ thù chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Bảo vệ Tổ quốc gắn liền với xây dựng Tổ quốc
Theo Hồ Chí Minh, “xây dựng là một mặt, bảo vệ là một mặt, hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau”. Người chỉ rõ: muốn bảo vệ được Tổ quốc, phải xây dựng đất nước mạnh về mọi mặt — kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.
Một đất nước giàu mạnh, đoàn kết và văn minh chính là nền tảng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc hiệu quả.
Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Hồ Chí Minh khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Người nêu rõ: toàn dân là chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc – kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết quân – dân như cá với nước.
Kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ an ninh chính trị, độc lập dân tộc với hòa bình và hợp tác quốc tế
Hồ Chí Minh luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhưng đồng thời Người cũng đề cao tinh thần hòa bình, hữu nghị, tôn trọng độc lập chủ quyền của các dân tộc khác, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống và chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sâu sắc của Người đối với vận mệnh dân tộc. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, việc quán triệt và vận dụng tư tưởng đó có ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị, phát triển bền vững và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Đó không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam đối với Tổ quốc mình.
Sự nghiệp XD và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN cần phải có sức mạnh tổng hợp. Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp là phải xây dựng được nền QPTD, ANND vững mạnh.
Để xây dựng được nền QPTD, ANND vững mạnh, cần có các biện pháp cụ thể sau:
Thường xuyên thực hiện tốt công tác giáo dục QP, AN: Tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ và đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về Giáo dục QP, AN trong hệ thống nhà trường. Nội dung giáo dục QP, AN phải toàn diện, coi trọng giáo dục tình yêu quê hương, đất nước; nghĩa vụ công dân đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; âm mưu, thủ đoạn của địch; đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh. Làm cho mọi người, mọi tổ chức biết tự bảo vệ trước sự chống phá của các thế lực thù địch.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước, trách nhiệm triển khai thực hiện của các cơ quan, tổ chức và nhân dân đối với xây dựng được nền QPTD, ANND: Cụ thể hoá các nội dung lãnh đạo về quốc phòng, an ninh và bổ sung cơ chế hoạt động của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đặc biệt chú trọng khi xử trí các tình huống phức tạp. Điều chỉnh cơ cấu quản lí Nhà nước về quốc phòng, an ninh của bộ máy Nhà nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Chấp hành nghiêm Quy chế về phối hợp quân đội với công an và Nghị quyết 51- NQ/TW của Bộ Chính trị về thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính uỷ, chính trị viên trong quân đội nhân dân và công an nhân dân.
Nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân cho sinh viên trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân: XD nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là trách nhiệm của toàn dân. Đối với sinh viên, phải tích cực học tập, nắm vững kiến thức QP, AN, nhận thức rõ ÂMTĐ của các thế lực thù địch chống phá CMVN. Trên cơ sở đó tự giác, tích cực rèn luyện các kĩ năng quân sự, an ninh và chủ động tham gia các hoạt động về QP, AN do nhà trường và địa phương triển khai.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam là quá trình sử dụng tiềm lực mọi mặt của đất nước, nhất là tiềm lực quốc phòng an ninh, nhằm đánh bại ý đồ xâm lược lật đổ của kẻ thù đối cách mạng nước ta.
Mục đích của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc:
+ Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá.
+ Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
+ Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
+ Bảo vệ an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng tác chiến của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc: các thế lực thù địch có hành động phá hoại, xâm lược, lật đổ cách mạng.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới có những tính chất sau:
+ Là cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
+ Là cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự vệ cách mạng, Nhằm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân và mọi thành quả của cách mạng.
+ Là cuộc chiến tranh mạng tính hiện đại (hiện đại về vũ khí trang bị, tri thức và nghệ thuật quân sự).
LLVT nhân dân là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước CHXHCNVN quản lý.
* Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng LLVTND trong thời kỳ mới:
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân .
+ Đảng cộng sản Việt Nam độc tôn duy nhất nắm quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang nhân dân theo nguyên tắc “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”, Đảng không nhường hoặc chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất cứ giai cấp, lực lượng, tổ chức nào. Đảng có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, lãnh đạo mọi hoạt động lực lượng vũ trang.
+ Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng lãnh đạo theo hệ thống dọc từ Đảng uỷ quân sự Trung ương đến các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Trực tiếp lãnh đạo các đơn vị ở địa phương (bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) là các cấp uỷ đảng ở địa phương.
+ Đảng lãnh đạo trên mọi hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức…cả trong xây dựng và chiến đấu.
Tự lực tư cường xây dựng lực lượng vũ trang.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân lấy chất lượng là chính, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở.
+ Cơ sở: Xuất phát từ lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ giữa số và chất lượng. Truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang của ông cha ta “ binh quí hổ tinh, bất quí hổ đa”….
Từ đòi hỏi yêu cầu cao của nhiệm vụ đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Từ thực tiễn XD LLVT ND, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở...Từ sự chống phá của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm phi chính trị hóa quân đội, công an.
Bảo đảm lực lượng vũ trang nhân dân luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.
Kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP, AN ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân ta, trong một chỉnh thể thống nhất, được dựa trên cơ sở lý luận sau:
Kinh tế, quốc phòng, an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc độc lập có chủ quyền. Kinh tế là yếu tố suy cho đến cùng quyết định đến quốc phòng, an ninh; Ngược lại, quốc phòng, an ninh cũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển.
+ Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, sức mạnh của quốc phòng, an ninh. Lợi ích kinh tế, suy cho đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn và xung đột xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động quốc phòng, an ninh. Bản chất của chế độ kinh tế - xã hội quyết định đến bản chất của quốc phòng, an ninh.
+ Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng, an ninh. Vì vậy, để xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.
+ Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động quốc phòng, an ninh; qua đó quyết định tổ chức biên chế của LLVT, quyết định đường lối chiến lược QP, AN.
Quốc phòng, an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở lại KT-XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực: Quốc phòng, an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Hoạt động quốc phòng, an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội.
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trải qua nhiều cuộc kháng chiến oanh liệt chống ngoại xâm. Qua đó, ông cha ta đã đúc kết được nhiều bài học quý báu về nghệ thuật quân sự, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần yêu nước. Trong thời kỳ mới, khi đất nước hội nhập sâu rộng và phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, việc vận dụng những bài học này có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung
Bài học về chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc
Tư tưởng “mỗi người dân là một chiến sĩ, cả nước là một pháo đài” của Hồ Chí Minh cho thấy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân. Trong thời kỳ mới, cần tiếp tục phát huy “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xây dựng đất nước giàu mạnh, ổn định chính trị là nền tảng vững chắc cho quốc phòng. Phải luôn xây dựng đi đôi với bảo vệ, vì nước mạnh thì mới giữ được độc lập, chủ quyền.
Phát huy mưu trí, sáng tạo, tận dụng “thế – thời – lực”
Từ Bạch Đằng đến Điện Biên Phủ, dân tộc ta luôn thắng nhờ biết chọn thời cơ, dùng mưu lược, lấy yếu thắng mạnh. Ngày nay, bài học đó cần được vận dụng trong việc chủ động, linh hoạt, ứng dụng công nghệ cao để đối phó các thách thức an ninh mới.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Việt Nam phải giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về quốc phòng, khoa học – công nghệ và ngoại giao để tăng cường tiềm lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Luôn cảnh giác, chủ động phòng ngừa chiến tranh
Bài học lớn là không được chủ quan. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là giữ vững biên giới, mà còn là bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng, kinh tế, văn hóa và tư tưởng.
Kết luận
Nghệ thuật quân sự Việt Nam là di sản quý báu được hun đúc qua nhiều thế hệ. Vận dụng sáng tạo những bài học đó trong thời kỳ mới – kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại – sẽ giúp nước ta vững vàng trước mọi nguy cơ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nghệ thuật quân sự Việt Nam đã hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng. Nghệ thuật quân sự ngày càng phát triển, những bài học kinh nghiệm đó để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới, đó là: - Quán triệt tư tưởng tích cực tiến công: Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, nghệ thuật quân sự của cha ông ta trước đây luôn nhấn mạnh tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch. Ngày nay, với sức mạnh của cả nước đánh giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự của ta càng có điều kiện phát huy mặt mạnh của mình, khoét sâu chỗ yếu của địch để "kiên quyết không ngừng thế tiến công", tiến công địch vào đúng thời cơ, địa điểm thích hợp.
Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc: Đây là sự kế thừa và phát huy lên một trình độ mới, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nghệ thuật quân sự chỉ đạo mọi hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân, toàn dân đánh giặc.
Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời và mưu kế:
Trong đấu tranh vũ trang, trước một đối tượng có sức mạnh vượt trội về quân sự, khoa học công nghệ phải biết kết hợp chặt chẽ các yếu tố: lực lượng, thế trận, thời cơ và mưu trí, sáng tạo. Muốn đánh thắng, còn phải dùng mưu kế, hạn chế cái mạnh của địch, phát huy cái mạnh của ta. Luôn chú ý lừa địch và giữ bí mật, bất ngờ.
Quán triệt tư tưởng lấy ít đánh nhiều, biết tập trung ưu thế lực lượng cần thiết để đánh thắng địch: Ngày nay, ta phải phát huy khả năng đánh giặc của toàn dân, của cả ba thứ quân, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch.
Kết hợp tiêu hao, tiêu diệt địch với bảo vệ vững chắc các mục tiêu: là vấn đề có tính quy luật trong chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân quân tự vệ là một lực lượng chiến lược trong chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương.
*Điều 7 của Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004 xác định có 5 nhiệm vụ:
+ Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở.
+ Phối hợp với quân đội, công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước, của tổ chức ở cơ sở, tính mạng và tài sản của cá nhân, tổ chức người nước ngoài, các mục tiêu, các công trình QP, AN trên địa bàn.
+ Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa và các sự cố nghiêm trọng khác.
+ Vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện các chương trình phát triển KT - XH ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Đó là những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên trong mọi giai đoạn cách mạng, đối với mọi tổ chức dân quân tự vệ. Đồng thời là phương hướng, mục tiêu cơ bản chỉ đạo xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ.
Anh (Chị) hãy trình bày những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng dự bị động viên hiện nay như thế nào?
Công tác xây dựng và huy động LLDBĐV giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ tổ quốc, bảo đảm nguồn lực bổ sung, mở rộng lực lượng quân đội khi chuyển đất nước sang trạng thái chiến tranh.
* Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng dự bị động viên:
Xây dựng lực lượng dự bị động viên bảo đảm số lượng đủ, chất lượng cao, xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm:
Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải có chất lượng cao, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tinh thần, tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, trình độ kĩ thuật, chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ, trang bị, khả năng bảo đảm hậu cần kĩ thuật. Việc huấn luyện quân sự cho lực lượng dự bị động viên phải được tiến hành nghiêm túc theo chương trình quy định của Bộ Quốc phòng.
Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị:
Xây dựng lực lượng dự bị động viên là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của mọi công dân.
Xây dựng lực lượng dự bị động viên đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng các cấp ở địa phương, bộ, ngành:
Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng dự bị động viên, nên xây dựng lực lượng dự bị động viên phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm cho lực lượng này luôn có nội dung, phương hướng, mục tiêu xây dựng đúng đắn, nhằm bảo đảm sức mạnh của quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với những nguy cơ thách thức. Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền, biên giới nước ta.
*Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, được thể hiện cụ thể như sau:
Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm.
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử.
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó.
Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định ; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau.
-Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt.
Quần chúng nhân dân là lực lượng đông đảo, là nền tảng cho một nước, là gốc rễ một dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, quần chúng nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng:
Quần chúng nhân dân có khả năng phát hiện, quản lí, giáo dục, cải tạo các loại tội phạm để thu hẹp dần đối tượng phạm tội.
Khi nào người dân có ý thức tự giác, có tinh thần làm chủ trong việc xây dựng cuộc sống mới lành mạnh, khi đó sẽ khắc phục dần những sơ hở, thiếu sót mà địch và bọn tội phạm có thể lợi dụng.
Lực lượng công an có hạn, nên công tác bảo vệ an ninh trật tự không thể thực hiện bằng chuyên môn đơn thuần mà phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân. Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân giúp ta nhiều thì thành công nhiều, giúp ta ít thì thành công ít, giúp ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.
An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước nước CHXHCNVN, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Nhiệm vụ bảo vệ ANQG bao gồm :
+ Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
+ Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
+ Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.
+ Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về ANQG.
+ Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm ANQG, nguy cơ đe doạ ANQG.
Xây dựng được nền QPTD, ANND vững mạnh là tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm hại đến mục tiêu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chúng ta xây dựng: “nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chỉ có mục đích duy nhất là tự vệ chính đáng”.
Đặc trưng thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng, an ninh của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước khác.
Chúng ta xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Ngoài mục đích trên không có mục đích nào khác.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng, nhân dân luôn giữ vai trò trung tâm. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân của Việt Nam mang bản chất “vì dân, của dân, do dân”, thể hiện rõ mục tiêu, động lực và sức mạnh của đất nước trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Nội dung
Vì dân:
Mọi hoạt động quốc phòng, an ninh đều nhằm bảo vệ cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân. Đảng và Nhà nước đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu; mọi chính sách quốc phòng, an ninh đều hướng tới việc giữ gìn môi trường hòa bình để nhân dân yên tâm lao động, học tập và phát triển.
Của dân:
Nền quốc phòng và an ninh là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Nhân dân là chủ thể, là người đóng góp công sức, vật chất, trí tuệ để xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Các lực lượng vũ trang được hình thành từ nhân dân và vì nhân dân mà chiến đấu.
Do dân:
Toàn dân là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ Tổ quốc. Thông qua các phong trào như “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, dân quân tự vệ, dự bị động viên, nhân dân cùng chung tay tạo nên thế trận lòng dân vững chắc, là nền tảng cho quốc phòng và an ninh đất nước.
Kết luận
Đặc trưng “vì dân, của dân, do dân” thể hiện bản chất nhân dân, tính dân chủ và truyền thống yêu nước của chế độ ta. Khi nhân dân được làm chủ và cùng tham gia, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được nhân lên gấp bội, giúp đất nước giữ vững độc lập, tự do và ổn định lâu dài.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, hình thái chiến tranh hiện đại ngày càng đa dạng, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân toàn diện và từng bước hiện đại là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo đất nước đủ sức ứng phó với mọi nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia.
Nội dung
Xây dựng toàn diện:
Nền quốc phòng và an ninh không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, mà phải được xây dựng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ và đối ngoại.
Trong đó, xây dựng “thế trận lòng dân” là nền tảng quan trọng, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh, giữa bảo vệ và phát triển, tạo sức mạnh tổng hợp để giữ vững Tổ quốc.
Từng bước hiện đại:
Do điều kiện kinh tế – xã hội, quá trình hiện đại hóa được tiến hành từng bước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các lực lượng nòng cốt như Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Cùng với đó là việc ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, hiện đại hóa vũ khí, trang bị, phương thức tác chiến, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời đại 4.0.
Kết luận
Đặc trưng “toàn diện và từng bước hiện đại” phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Đây là cơ sở để chủ động ngăn ngừa, phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển bền vững cho đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong đó, xây dựng các tiềm lực quốc phòng – an ninh là yếu tố quyết định sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Đặc biệt, tiềm lực chính trị – tinh thần đóng vai trò nền tảng, chi phối và gắn kết các tiềm lực khác, góp phần củng cố sức mạnh ý chí, niềm tin và tinh thần đoàn kết dân tộc.
Nội dung
Các nội dung cơ bản xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh
Tiềm lực quốc phòng, an ninh gồm nhiều yếu tố cấu thành, trong đó có 4 nhóm cơ bản:
a. Tiềm lực chính trị – tinh thần:
Là sức mạnh về tư tưởng, lòng yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
b. Tiềm lực kinh tế:
Là khả năng kinh tế quốc dân có thể đáp ứng nhu cầu về nhân lực, vật lực, tài chính cho quốc phòng và an ninh trong cả thời bình và thời chiến.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo.
c. Tiềm lực khoa học – công nghệ:
Là trình độ khoa học – kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, công nghệ thông tin, chuyển đổi số… giúp nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.
d. Tiềm lực quân sự, an ninh:
Bao gồm lực lượng vũ trang nhân dân (quân đội, công an, dân quân tự vệ) vững mạnh, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị kiên định và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao.
Phân tích nội dung xây dựng tiềm lực chính trị – tinh thần
Khái niệm:
Tiềm lực chính trị – tinh thần là sức mạnh tổng hợp về tư tưởng, niềm tin, ý chí và tinh thần yêu nước của nhân dân, thể hiện trong sự đoàn kết, kiên cường và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung xây dựng:
Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị vững mạnh:
Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, lòng yêu nước và ý thức quốc phòng – an ninh:
Nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc:
Kết hợp giữa các giai tầng, tôn giáo, dân tộc; củng cố “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho quốc phòng và an ninh vững chắc.
Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố niềm tin vào đường lối đổi mới của Đảng:
Khi nhân dân có niềm tin, đất nước có sự đồng thuận, thì sức mạnh tinh thần sẽ trở thành nguồn lực to lớn trong bảo vệ Tổ quốc.
Kết luận
Xây dựng tiềm lực quốc phòng – an ninh là nhiệm vụ chiến lược, trong đó tiềm lực chính trị – tinh thần giữ vai trò nòng cốt và xuyên suốt.
Khi ý chí, niềm tin và tinh thần đoàn kết của nhân dân được củng cố, thì đất nước có thể phát huy sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi khó khăn, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
