100 câu bài tập Công tác quốc phòng an ninh (có đáp án) - Phần 1
30 câu hỏi
Emkhôngđồngý vớiýkiến trên.
_Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa duy vật biên chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
_Bạo lực được hiểu là sức mạnh của 1 giai cấp,nhà nước(thậm chí là liên minh nhà nước)hoặc tập đoàn xã hội sử dụng để cưỡng đoạt,trấn áp,chonên có bạo lực tiến bộ,cách mạng và bạo lực phản động,phản cách mạng,tùy thuộc vào mục đích,bản chất của lực lượng sử dụng nó.Việc Hồ Chí Minh lựa chọn bạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc,giải phóng con người,bởi tội ác mà chủ nghĩa thực dân,đế quốc đối với dân tộc Việt Nam quá lớn.Song “bạo lực”mà bác sử dụng hàm chứa tính nhân văn,nhân đạo sâu sắc.Trên thực tế Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn tìm mọi cách để tránh xảy ra chiến tranh,nên đã phải nhiều lần nhân nhượng.Nhưng càng nhân nhượng các thế lực thực dân,đế quốc hiếu chiến càng lấn tới,buộc quân và dân ta phải “đứng lên” cầm vũ khí bảo vệ tổ quốc.Sự thực đó bác bỏ hoàn toàn ý kiến cho rằng Hồ Chí Minh là người hiếu chiến.
_Đây là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không thụ động, ỷ lại chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Qua sự tư duy của Hồ Chí Minh và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối và phương pháp đấu tranh của cách mạng vô sản đã chuyển thành đường lối và phương pháp đấu tranh của cách mạng giải phóng dân tộc, phù hợp với thực tiễn đất nước ta. Nhờ đó mà cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại. Đồng thời nó cũng góp phần định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trên thế giới trong thời kì bấy giờ. Thựctiễn cách mạng ở một số nước thuộc địa và cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng đây là một tư tưởng hoàn toàn đúng đắn
Là1sinh viêncầnthựchiệnnhữngmụctiêu:
+Cần phải có 3 nhóm phẩm chất:Trình độ chuyên môn và tay nghề cao,đạo đứcvàlốisốngtrongsáng,sứckhỏethểchấtvàsứckhỏetinhthầncường
tráng.Là 1 sinh viên để đạt được tiêu chí phẩm chất trên cần phải tự học,tự rèn luyện,tự tu dưỡng,tự tin,tự chịu trách nhiễm với những việc mà mìnhlàm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao cho đất nước.
+Tích cực tham gia vào các hội của thanh niên tình nguyện góp phần giúp ích cho việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành,sạch đẹp.
+Tíchcựcthamgiavàocácchươngtrình,dựáncủađịaphương,tựnguyện,tự giác giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn,kém may mắn.
+Không để các thế lực thù địch,phần tử xấu lôi kéo tham gia vào các hoạt động gây rối,biểu tình gây mất trật tự,an toàn xã hội,kiên quyết giữ gìn môi trường hòa bình,ổn định để hội nhập và phát triển đất nước.
+Luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,trung thành,kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,nêu cao tinh thần yêu nước.
Trong thời đại mình V.I.Lênin lại xác định “Bảo vệ Tổ quốc là tất yếu khách quan”vì:
+Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân.Trong điều kiện giai cấp tư sản nắm quyền,C.Mác và Ph.Ăng-ghen chỉ ra rằng,giai cấp ,giai cấp công nhân phải đấu tranh để trở thành giai cấp dân tộc,khi ấy chính giai cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc,họ có nhiệm vụ phải đẩy lùi sự tấn công của bọn phản cách mạng.
+Xuất phát từ quy luật có công đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.V.I.Lênin là người có công to lớn trong việc phát triển học thuyết về bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
+Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc.Ngay từ những năm cuối thế kỉ XIX,V.I.Lênin đã chỉ ra do quy luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc mà chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi không đồng thời ở các nước.
+Xuất phát từ bản chất,âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thế giới.Sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa,giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị đánh đỗ về mặt chính trị,nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại những địa vị thống trị đã mất.
Ngay sau khi cách mạng tháng 10 Nga thành công,CNĐQ tìm mọi cách để tiêu diệt Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới.Lênin đã chứng minh tính
tất yếu khách quan phải bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản chống lại sự tấn công vũ trang của Nhà nước Tư bản,đế quốc.Bởi vì bản chất củ CNĐQ là xâm lược phải ngăn chăn mưu đồ của chúng.
Ý nghĩa của vấn đề này
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta, là hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước ta hiện nay. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để đất nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc, một đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là khác quan, tất yếu, thống nhất hướng tới một mục tiêu chung là độc lập, chủ quyền của đất nước, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Có bảo vệ được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ mới có đất nước để xây dựng; có giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mới có thể xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước; có bảo vệ được Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa mới có tiền đề, điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ nền văn hóa dân tộc là nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, những người lãnh đạo, quản lý đất nước.
Trách nhiệm sinh viên:
Cần phải có 3 nhóm phẩm chất:Trình độ chuyên môn và tay nghề cao,đạo đức và lối sống trong sáng,sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cường tráng.Là 1 sinh viên để đạt được tiêu chí phẩm chất trên cần phải tự học,tự rèn luyện,tự tu dưỡng,tự tin,tự chịu trách nhiễm với những việc mà mình làm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao cho đất nước.
Tích cực tham gia vào các hội của thanh niên tình nguyện góp phần giúp ích cho việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành,sạch đẹp.
Tích cực tham gia vào các chương trình,dự án của địa phương,tự nguyện,tự giác giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn,kém may mắn.
Không để các thế lực thù địch,phần tử xấu lôi kéo tham gia vào các hoạt động gây rối,biểu tình gây mất trật tự,an toàn xã hội,kiên quyết giữ gìn môi trường hòa bình,ổn định để hội nhập và phát triển đất nước.
Luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,trung thành,kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,nêu cao tinh thần yêu nước.
Đây là 1 quan điểm không đầy đủ.Vì:
-Ngày nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định, xây dựng nền QPTD vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó, Quân đội nhân dân (QĐND) là lực lượng nòng cốt. Nền quốc phòng của chúng ta là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ XHCN.
-Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải xây dựng nền QPTD, toàn diện; nghĩa là nhân dân phải là chủ thể của nền quốc phòng, mọi người dân đều có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia xây dựng nền quốc phòng vững mạnh toàn diện. Tính chất toàn dân, toàn diện trong xây dựng nền quốc phòng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền QPTD, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước
-Trong những năm qua, sự nghiệp xây dựng nền QPTD của chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. “Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các giải pháp phù hợp để bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được củng cố và gắn kết chặt chẽ hơn. Sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân được nâng lên...” . Kết quả trên là sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt.
Là sinh viên:
Tích cực học tập,rèn luyện,xây dựng niềm tin,bồi dưỡng lòng yêu nước,góp phần xây dựng đất nước.
Nâng cao nhận thức về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng phải đi đôi với bảo vệ đất nước.
Tự giác,tích cực học tập,nắm vững kiến thức QPAN; tích cực tham gia các hoạt động về QPAN.
Chấp hành nghiêm pháp luật và quy định của nhà trường.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa-văn hóa nhân loại.
Phát huy tinh thần sẵn sàng, thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy.
Cáctiềmlựcquốcphòng,anninh:
_Xâydựngtiềm lựcchínhtrị,tinhthần
_Xâydựngtiềm lựckinh tế
_Xây dựng tiềmlựckhoahọc,côngnghệ
_Xâydựng tiềmlựcquân sự,anninh
Phântíchtiềmlựcchínhtrị,tinhthần:
_Tiềm lực chính trị, tinh thần: là khả năng về chính trị có thể huy động nhằmtạo thành sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.
_Thể hiện ở hệ tư tưởng- chính trị chế độ xã hội,hệ thống chính sách(đối nội và đối ngoại).
_Tiềm lực chính trị tinh thần là nhân tố cơ bản tạo nên sứcmạnh quốcphòng,tác động to lớn đến hiệu quả sử dụng các tiềm lực khác,là sức mạnh tiềm tang của thế trận lòng dân.
_Xây dựng tiềm lực chính trị,tinh thần trong giai đoạn đổi mới: xây dựng tình cảm yêu nước yêu chế độ,l tin của nhân dân vào Đảng nhà nước vào sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.
Làsinh viên:
-Chúng ta cần ra sức học tập,rèn luyện tu dưỡng đạo đức,chuẩn bị cho 1 hành trang tri thức,năng lực và phẩm chất.
-Chăm chỉ rèn luyện sức khỏe để tăng cường thể lực,luyện tập theo chương trình giáo dục quốc phòng để góp phần cho lực lượng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
-Tự giác học tập nghiên cứu,tìm hiểu và chấp hành nghiêm pháp luật nhànước,nhất là pháp luật về trật tự ,an toàn giao thông,trật tự công cộng,không tham gia vào các hoạt động tệ nạn xã hội.
-Yêu quê hương đất nước,yêu gia đình.Sống với nhau trên cơ sở không phân biệt giàu nghèo,vùng miền,giúp đỡ nhau cùng phát triển
-Tích cực tham gia vào các phong trào Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,phong trào bảo vệ an ninh trật tự trong trường học và nơi cư trú.
_Tiến hành chiến tranh toàn diện trên tất cả các mặt trận xuất phát từ âm mưu thủ đoạn của địch tiến hành trên tất cả các mặt trận.Bởi vậy chúng ta cũng phải thực hiện chiến tranh toàn diện trên tất cả các mặt trận.
_Chiến tranh là cuộc thử thách toàn diện đối với sức mạnh về vật chất,tinh thầncủa quốc gia,nhưng chiến tranh của ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa,tự vệ,cách mạng
Để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của toàn dân,đánh bại của chiến tranh tổng lực của địch,chúng ta phải đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự,chính trị,ngoại giao,kinh tế văn hóa tư tưởng,cả trong nước và ngoài nước….Mỗi mặt trận đều có vị trí quan trọng riêng của nó.Trong đó coi mặt trận quân sự và thắng lợi trên chiến trường là yếu tố quyết địnhnhất
_Tất cả các mặt trận có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau,hỗ trợ, thúc đẩy nhau do đó tiến công thắng lợi trên mặt trận này sẽ hỗ trợ thắng lợi trên mặt trận khác.Trongcácmặttrậnđóthìđấutranhquânsựlàchủyếu.Bởichiếntranhlàsự kếtục của chínhtrị,địchsử dụng lựclượng quânsự vũ trang và các biệnpháp bạo lực.Do đó phải đấu tranh quân sự lấy bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng,và thắng lợi trên chiến trường chính là kết quả của đấu tranh quân sự và là yếu tố quyết định để dành thắng lợi chỉ bằng thông qua thắng lợi trên chiến trường thì mới có thể thắng lợi trên bàn đàm phán ngoại giao và các cuộc trận khác.Vì vậy bằng thực tiễn lịnh sử đã chứng minh không có sự thắnglợi nào dễ dàng nếu như không có thắng lợi trên chiến trường.Chỉ có thắng lợi đó thì bên chiến thắng mới có quyền và có thế để đàm phán,đòi hỏi giành lại quyền và lợi ích của mình.
_Truyền thống và kinh nghiệm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng như trong chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo tổ quốc đã chứng tỏ:dân ta tiến hành cuộc chiếntranh,trong đó chủ yếu đánh thắng địch trên mặt trận quân sự nhờ đó mà chúng ta đã giành được thắng lợi và giữ vững nền độc lập dân tộc cho đến nay.
Tình hình thế giới ngày này có những diễn biến phức tạp và có những thay đổisâusắc,đấtnướctabêncạnhnhữngmặtthuậnlợinhưngvẫncònnhững khó khăn thách thức lớn đòi hỏi toàn Đảng toàn dân cần quyết tâm phấn đấu làm thất bại mọi âm mưu và mục tiêu chiến lược của địch,giánh thắng lợi toàn diện cho chiến tranh.
Tráchnhiệmsinhviên:
-Phát huytinh thầntự giác học tập,rènluyện bản than của thanh niên để gópphần nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,không để các thế lực thù địch,phần tử xấu lôi kéo,dụ dỗ vào các hoạt động gây rối,biểu tình gây mất an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội.
-Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,trung thành,kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.Nêu cao tinh thần yêu nước,sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.
-Tựhàovàpháthuytruyềnthốngcủadân tộc.
-“Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho chúng ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hômnay”,là1côngdânđặcbiệtlàthếhệtrẻ,tráchnhiệmđốivớitổquốclà1điều mà mỗi cá nhân đều phải ghi nhớ và thực hiện,chính đó sẽ là tác động to lớn góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Cơsởvềmặtlýluận:
_Khẳngđịnh,đâylàcuộcchiếntranhcủatoàndân,dodânvàvìdânvớitinhthầnđầy đủnhất.Làđiềukiệncaonhấtđểpháthuysứcmạnhtổnghợptrongchiếntranh
_Trongđiềukiệnmới,tavẫnphải“lấyítđánhnhiều”,đểđánhthắngnhữngđộiquân mạnhhơntagấpnhiềulần,Đảngtakhôngchỉdựavàolựclượngvũtrangmàphải dựavàosứcmạnhcủatoàndân,tiếnhànhchiếntranhnhândân,toàndânđánhgiặc.
Thực hiện toàn dân đánh giặc là sự kế thừa và phát triển truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta.
Tổ chức động viên mọi lực lượng nhân dân tham gia chiến tranh,thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ,đánh địch ngay từ đầu,đánh cả ngày lẫn đêm,pháthuyđượccáchđánhgiặcphongphú,sángtạocủachiếntranhnhân dân,nhằmtiêuhao,giamchân,dànmónglựclượngđịch.
Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông,đàn bà,bất kỳ người già,người trẻ,không chia tôn giáo,đúng phải,dân tộc,hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân pháp để cứu Tổ Quốc.Aicósúngdùngsúng.Aicógươmdunggươm,khôngcógươmthìdung cuốcthuổng,gậygộc.Aicũngphảirasứcchốngthựcdânpháp”.
“Lựclượngởnơidân,sứcmạnhởnơidân-Toàndânđánhgiặcthìsẽđánhbất kì kẻ thù nào”
_Thựchiệntoàndânđánhgiặccònlàtổchứcđộngviênmọilựclượngnhândântham giachiếntranh,“mỗingườidânlàmộtchiếnsĩ”,pháthuymọicáchđánhsángtạo,đa dạng của nhân dân.
_Độngviêntoàndânđánhgiặc,cólựclượngvũtrangnhândângồm3thứquân:dân quântựvệ,bộđộiđịaphương,bộđộichủlực.
Đánhbằngmọilựclượng,mọingườiđềuthamgiađánhgiặc
Đánhbằngmọiphươngtiện:hiệnđại,thôsơ,tựchế,…
Bằngmọicách:hiện đại,truyềnthống,chínhqui,dukích,lớn,nhỏ….
_Phươngthứcchiếntranhnhândânlàkếthợptácchiến,chiếntranhnhândâncủalực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực sẽ khiến địch khôngpháthuyđượctínhnăng,hiệuquảcủacácloạivũkhícôngnghệcao,,không thểtạođượcmộtmặttrậnổnđịnhđểđốiphóvớiquân,dânta.
Cơsởvềmặtthựctiễn:
_Tiếnhànhchiếntranhnhândânđólàtruyềnthống.Vìtổtiêntatừngtiếnhànhchiến tranhnhândânđểđánhthắngcáctriềuđạiphongkiếnphươngBắcxâmlược,cũng nhưdướisựlãnhđạocủaĐảng,dântộctađãđánhthắngthựcdânPhápvàđếquốc Mĩ xâm lược.
Tronglịchsửchốnggiặc ngoạixâm,dântộctatừngphảiđươngđầuvớiquânxâm lượchơntagấpnhiềulần.Nhưngvớisứcmạnhcủatoàndânchúngtađãgiànhchiến thắng.Tiêu biểu là các sự kiện:
3lầnđánhquânNguyên-MôngthờinhàTrần1258,1285,1287-1288
ĐánhthắngquânThanhbằngsứcmạnhthầntốcdướingọncờcủangườianh hung áo vải Nguyễn Huệ 1988
ĐánhthắngthựcdânphápbằngchiếnthắngĐiệnBiên“chấnđộngđịacầu” kếtthúcgần100nămđôhộcủathựcdânPháp(1858-1954)
Đánh cho “Mỹ cút” bằng chiến dịch “Điện Biên phủ trên không” tháng 12 năm 1972, đánh cho “Ngụy nhào” bằng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975,kết thúc hơn 30 năm chia cắt đất nước (1954-1975),giải phóng miền Nam,thốngnhấtTổQuốc,cảnướcđilênChủnghĩaxãhội.
Tráchnhiệmsinhviên:
Rasứchọctập,tíchlũy,nắmvữngkiếnthứccơbản,kiếnthứcchuyênmônđể thựcsự có trình độchuẩn bị,tựtin vàođời,lập nghiệpnhanh chóng đápứng yêucầuvàđòihỏingàycàng caocủaxãhội.
Tăngcườngnângcaonhậnthứcvềsựnghiệpcôngnghiệphóa-hiệnđạihóa đất nước và những yêu cầu của Đảng đối với tuổi trẻ nước ta,từ đó mà xác định trách nhiệm to lớn và nhiệm vụ nặng nề của mình trong việc chuẩn bị nhữnghànhtrangcầnthiếttrongthờigiantới.
Thườngxuyên,liêntụctraudồilýtưởng,rènluyệnđạođức
Sống có văn hóa,chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương,chính sách của Đảng,luật pháp của Nhà nước.
Gươngmẫutrongcộngđồng,làmtrònbổnphậncủangườicôngdân
Chủ động,tích cực,sáng tạo trong học tập,nâng cao trình độ về chính trị,học vấn,chuyên môn,nghiệp vụ.
Rasứcnângcaotaynghề,kỹnănglaođộng,trìnhđộngoàingữ,tinhọc.
Vươnlênnắmvữngkhoahọc,kỹthuật,côngnghệ
Nhiệt tình,hang hái tham gia các hoạt động tình nguyện,tham gia đội thanh niên tình nguyện,sẵn sàng đảm nhận việc khó,việc mới,chủ động tham gia pháttriểnkinhtế-xãhội,giữgìnquốcphòng,anninhởmọiđịaphương,đơnvị.
Tích cực tham gia hoạt động Đoàn,Hội,Đội,kỹ năng hoạt động nhóm hiệu quả.
Rèn luyện có lập trường tư tưởng vững vàng,có long yêu nước,có niềm tin vàosựlãnhđạocủaĐảngvàsựnghiệpxâydựngchủnghĩaxãhội,cóđạođức trong sáng và lối sống lành mạnh.
Vì:Về khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang còn những mặt hạn chế,chưa đáp ứng được các tình huống phức tạp.Công tác huấn luyện,đào tạo cán bộ còn cónhững nội dung bất cập,chưa thật sát với nhiệm vụ và năng lực thực hành theo cương vị đảm nhiệm.Về trang bị của lực lượng vũ trang vẫn còn lạc hậu.Muốn đạt được những mục đích lớn trên cần phải trải qua cả một quá trình phấn đấu lâu dài mới đạt được,cho nên phải thực hiện từ:Chính quy,tinh nhuệ,từng bước hiện đại.
_Chínhquy:Làthựchiệnthốngnhấtvềmọimặt(tốchức,biênchế,trangbị).Dựa trên những chế độ, điều lệ qui định,đưa mọi hoạt động của quân đội vào nề nếp
+Thốngnhấtvềbảnchấtcáchmạng,mụctiêuchiếnđấu,vềýchíquyếttâm,nguyên tắc xây dựng quân đội,về tổ chức biên chế trang bị.
+Thống nhất về quan điếm tư tưởng quân sự,nghệ thuật quân sự,về phương pháp huấn luyện giáo dục
+Thống nhất về tổ chức thực hiện chức trách nề nếp chế chính qui,về quản lý bộ đội,quản lý trang bị
_Tinhnhuệ:Biểuhiệnmọihoạtđộngcủaquânđộitrêncáclĩnhvựcđạthiệuquả cao
+Tinh nhuệ về chính trị:Trước diễn biến của tình hình,có khả năng phân tích và kết chính xác đúng sai,từ đó có thái độđúng đắn với sự việc đó
+Tinh nhuệ về tổ chức:Tổ chức gọn nhẹ nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao
+Tinh nhuệ về kỹ chiến thuật:Phải giỏi sử dụng các loại binh khí kỹ thuật hiện có,biếtsửdụngtrangbịvũkhíhiệnđại.Giỏicáccáchđánh,vậndụngmưutrísáng tạo các hình thức chiến thuật.
_Từng bược hiện đại:Đi đôi với chính qui,tinh nhuệ phải từng bước hiện đại hóa quân đội về trang bị,vũ khí.Hiện đại hóa là một tất yếu nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.
-Từngbướcđổimớivũkhí,trangbịkĩthuậtchoquânđội
+Xây dựng quân đội nhân dân có bản lĩnh trí tuệ và năng lực hành động,đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại.
+Phát triển các quân binh chủng kỹ thuật,có nghệ thuật quân sự hiện đại ,khoa học quân sự hiện đại,có hệ thống công nghệ quốc phòng hiện đại,…bảo đảm cho quân đội hoạt động trong mọi điều kiện chiến tranh hiện đại.
+Nhữngnộidungtrênlàquá trìnhphấnđấulâudàimớiđạtđược,hiện naytaphải thực hiện bước đi:“từng bước”
Làsinh viêncần:
+Luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt nhất là về vi tính và ngoại ngữ.Trang bị nhiều kỹ năng phân tích chiến lược marketing và kinh nghiệm thực tế
+Xây dựng trí tuệ,năng động,sáng tạo,đạo đức,biết lắng nghe ý kiến góp ý từ những người xung quanh.
+Tập trung bồi dưỡng chuyên sâu vào chuyên ngành theo từng vị trí công việc,nâng cao trình độ ngoại ngữ,tin học,….
_Từ sau Đại hội XII của Đảng,các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng,toàn dân và toàn quân. Kết hợp kinh tế với quốc phòng,quốc phòng với kinh tế,quốc phòng với an ninh và đối ngoại là một trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp củng cố quốc phòng,an ninh bảo vệ Tổ Quốc,thực chất là thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của nước ta.Kết hợp kinh tế với quốc phòng,quốc phòng với kinh tế,quốc phòng với an ninh và đối ngoại là đường lối,quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân thông qua các hoạt động kinh tế-xã hội,xây dựng đất nước lấy ổn định và phát triển trên mọimặt đời sống xã hội làm nền tảng.Đây là một vấn đề trở thành truyềnthốngcủadântộc,phùhợpvớiđườnglốixâydựngchủnghĩaxãhội,đường lối quốc phòng toàn dân,chiến tranh nhân dân.
_Kếthợptrongxâydựngchiếnlược,quyhoạchtổngthểpháttriểnkinhtế- xã hội với Quốc phòng và An ninh của vùng, cũng như trên địa bàn từng tỉnh, thành phố.
_Hiện nay nước ta xác định có vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ,Trung bộ,Nam bộ,vùng đồng bằng Sông Cửu Long.Các vùng kinh tế trọng điểm nói trên đều là nòng cốt cho phát triển kinh tế của từng vùng và cho cả nước. Về Quốc phòng - An ninh, mỗi vùng kinh tế trọng điểm thường nằm trong các khu vực phòng thủ và phòng thủ then chốt của đất nước, nơi có nhiều đối tượng,mục tiêu quan trọng phải bảo vệ; đồng thời cũng là nơi nằm trên các hướng có khả năng là hương tiến công chiến lược chủ yếu trong chiến tranh xâm lược của địch; hoặc đã và đang là địa bàn trọng điểm để địch thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ với nước ta. Vì vậy, phải thực hiện tốt phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố tăng cường Quốc phòng - An ninh.
_Vùngnúibiêngiớicủanướctacóchiềudài4.550kmgiápvớiTrungQuốc, Lào,Campuchia.Đâylàđịabànsinhsốngchủyếucủađồngbàodântộcítngười, mật độ dân số thấp (khoảng 20-40 người/1km2), kinh tế chưa phát triển, trình độ dântrí thấp,đời sống dâncưcònnhiềukhókhăn.Vùngnúi biêngiới cótầm quan trọng đặt biệt trong chiến lược phòng thủ và bảo vệ Tổ quốc.
+Đốivớinhữngnơicóđịathếquantrọng,vùngsâu, vùngxacònnhiềukhókhăn, cần kết hợp mọi nguồn lực, mọi nguồn lực của cả Trung ương và các địa phương để cùng giải quyết.
+Đặc biệt các địa bàn chiến lược trọng yếu dọc sát biên giới, cần có chính sách độngviênvàsửdụnglựclượngvũtrang,lựclượngquânđộilàmnòngcốtxâydựng các khu kinh tế quốc phòng hoặc các khu quốc phòng - kinh tế, nhằm tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường sức mạnh Quốc phòng - An ninh.
_Nước ta là quốc gia biển, có ba mặt trông ra biển: Đông, Nam và Tây Nam, vớibờ biển dài hơn 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên.Việt Nam có trên 3000 đảo, quần đảo lớn nhỏ, với diện tích hơn 1 triệu km2 (gấp hơn 3 lần diện tích đất liền).Vùng biển đảo nước ta có nhiều tiềm năng về hải sản và khoáng sản, là cửa mở lớn là mặt tiền quan trọng của đất nước để thông ra thái bình dương, mở cử mạnh mẽ ra nước ngoài và hội nhập quốc tế.
+Tậptrungtrướchếtvàoxâydựng,hoànthiệnchiếnlượcpháttriểnkinhtế biển và xây dựng thế trận Quốc phòng và An ninh bảo vệ biển, đảo trong tình hình mới, làm cơ sở cho việc thực hiện kết hợp kinh tế - xã hội với Quốc phòng và An ninh một cách cơ bản, toàn diện, lâu dài.
+Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước đưa dân ra vùng ven biển và cáctuyến đảo gần trước để có lực lượng xây dựng căn cứ hậu phương, bám trụ phát triển kinh tế và bảo vệ biển, đảo một cách vững chắc lâu dài
+Nhà nước phải có cơ chế chính sách thoả đáng động viên, khích lệ dân ra đảo bám trụ làm ăn lâu dài.
+Phát triển các loại hình dịch vụ trên biển, đảo, tạo điều kiện cho dân bám trụ,sinh sống, làm ăn
+Xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện mở rộng liên kết làm ăn kinh tế ở vùng biển, đảo thuộc chủ quyền nước ta với các nước phát triển
+Chútrọngđầutưpháttriểnchươngtrìnhđánhbắtxabờ
+Xâydựngphươngánđốiphóvớicáctìnhhuốngcóthểxảyraởcácvùng biển, đảo nước ta. Mạnh dạn đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt và thế trận phòng thủ trên biển, đảo
_Việc mở rộng quan hệ đối ngoại, phải hướng vào việc phát triển kinh tế trong nước, đồng thời phải giữ vững nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, thốngnhất toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ vũ lực trong mở rộng quan hệ đối ngoại.
_Tronglĩnhvựckinhtếđốingoại:Kếthợptừkhâulựachọnđốitác;Kếthợp trong việc phân bổ đầu tư; Kết hợp trong xây dựng và quản lý các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế; đồng thời phải chú trọng bồi dưỡng ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác.
Tráchnhiệmsinhviên:
Khôngngừnghọctập,nângcaotrìnhđộnhậnthứcvềmọimặt,hiểubiếtsâusắc
về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc,truyền thống đấu tranh cách mạngcủa nhân dân tadướisự lãnh đạo củaĐCSVN,từ đó xâydựng cũng cốlong yêu nước,ý chí tự chủ,tự lập,tự cường.
Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng,cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ,biêngiớiquốcgiacủanướcCHXHCNVN,xácđịnhrõvinhdựvàtráchnhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ TQ,xây dựng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ tại các khu kinh tế-quốc phòng,phát trển kinh tế,xã hội,thực hiện nghiêm chỉnh Luật Biên giới quốc gia của nước CHXHCNVN.
Pháthuytinhthần sẵnsàng,thựchiện5ĐIỀUBÁCHỒDẠY
_ Thực hiện toàn dân đánh giặc là một trong những nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta,được thể hiện cả trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng.
_ Cơ sở hình thành nghệ thuật “chiến tranh nhân dân,thực hiện toàn dân đánh giặc”:
Các cuộc chiến tranh nhân dân ta tiến hành bảo vệ Tổ Quốc là cuộc chiến tranh chính nghĩa, “ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,lấy trí nhân để thay cường bạo”, thể hiện khát vọng,ý chí của nhân dân,do đó nhân dân sẽ hang hái tham gia
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước thương nòi,có tinh thần đoàn kết cộng đồng,chung lưng đấu cật trong lao động sản xuất và có tinh thần bất khuất chống quân xâm lược.
_ Nét độc đáo đó xuất phát từ lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ta,từ tính chất tự vệ,chính nghĩa của cuộc kháng chiến.Hễ kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận,cả nước chung sức,trăm họ là binh”, giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc.
_ Từ thời thế của Hai Bà Trưng và nghĩa quân: “Một xin rửa sạch nước thù;Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng;Ba kẻ oan ức lòng chồng;Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này” đến Hịch tướng sĩ,Bình Ngô đại cáo,nghệ thuật “lấy đại nghĩa thắng hung tàn,lấy chí nhân thay cường bạo”.
_ Nghệ thuật quân sự VN đã liên tục phát triển dựa trên nền tảng của chiến tranh nhân dân,thực hiện tốt đổi yếu thành mạnh,kết hợp lực,thế,thời,mưu,để đạt mục đích là cùng dành lại và giữ vững chủ quyền đất nước.
_ Nội dung cơ bản của thực hiện toàn dân đánh giặc là: “Mỗi người dân là một người lính.Mỗi thôn,xóm,bản,làng là một pháo đài diệt giặc.Cả nước là 1 chiến trường,tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn vững chắc.
_ Trong đánh giặc ông cha ta đã tận dụng địa hình,xây dựng thế trận làng,nước vững chắc,vận dụng sáng tạo cách đánh của nhiều lực lượng,nhiều thứ quân.Vận dụng rộng rãi,sáng tạo nhiều hình thức đánh giặc để đạt hiệu quả cao như: phòng ngự song Như Nguyệt, phục kích Chi Lăng, phản công Chương Dương, Hàm Tử, tiến công Ngọc Hồi,Đống Đa…
_ Kết luận: Toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc là truyền thống,là nét độc đáo trong nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta.Với truyền thống đó,dân tộc ta đã đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược,giữ gìn giang sơn gấm vóc.
Trách nhiệm sinh viên:
Cần phát huy tinh thần tự lực,vượt qua khó khan để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Không ngừng bồi đắp long yêu quê hương,đất nước
Phấn đấu tu dưỡng để trở thành những công dân tốt,sẵn sàng làm nhiệm vụ khi Tổ Quốc cần.
Trong nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh Đảng ta khẳng định: “Phải tiến hành đánh lâu dài”.Nhưng như vậy không phải là kéo dài vô thời hạn:
Phải tiến hành đánh lâu dài vì khi so sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch,địch mạnh hơn ta về nhiều mặt, ta chỉ hơn địch về tinh thần và có chính nghĩa.Do đó,phải có thời gian để chuyển hóa lực lượng làm cho địch yếu dần,phát triển lực lượng của ta.
Với chiến lược đánh lâu dài,dựa vào sức mạnh của mình là chính,với ưu thế tuyệt đối của ta về chính trị và tinh thần để khắc phục dần những nhược điểm về vật chất kỹ thuật khiến cho ta ngày càng mạnh,địch càng đánh càng suy yếu dần dần,làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch.
Khi ta chiến đấu với Pháp: thực dân pháp thực hiện kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh,ta phải trường kỳ kháng chiến để khoét sâu khó khăn của địch và phát huy ưu thế của mình nhằm kháng chiến toàn diện,huy động sức mạnh toàn dân và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.
Như vậy “Phải tiến hành chiến tranh lâu dài” nhằm làm cho những chỗ yếu cơ bản của địch ngày càng bộc lộ,chỗ mạnh của địch ngày càng hạn chế,chỗ yếu của ta từng bước khắc phục,chỗ mạnh của ta ngày càng được phát huy.
Sau khi đã làm cho lực lượng quân địch bị tiêu hao,và yếu dần ta mới tận dụng thời cơ thuận lợi để tiến công làm cho kẻ địch không kịp trở tay và dành thắng lợi.
Trách nhiệm sinh viên:
Ra sức học tập,tích lũy,nắm vững kiến thức cơ bản,kiến thức chuyên môn để thực sự có trình độ chuẩn bị,tự tin vào đời,lập nghiệp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Tăng cường nâng cao nhận thức về sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước và những yêu cầu của Đảng đối với tuổi trẻ nước ta,từ đó mà xác định trách nhiệm to lớn và nhiệm vụ nặng nề của mình trong việc chuẩn bị những hành trang cần thiết trong thời gian tới.
Thường xuyên,liên tục trau dồi lý tưởng,rèn luyện đạo đức
Sống có văn hóa,chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương,chính sách của Đảng,luật pháp của Nhà nước.
Gương mẫu trong cộng đồng,làm tròn bổn phận của người công dân
Chủ động,tích cực,sáng tạo trong học tập,nâng cao trình độ về chính trị,học vấn,chuyên môn,nghiệp vụ.
Thủ đoạn của chiến lược "Diễn biến hòa bình" đối với Việt Nam:
Thủ đoạn về kinh tế: Chúng muốn chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dần dần theo quỹ đạo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Thủ đoạn về chính trị: Các thế lực thù địch kích động đòi thực hiện chế độ "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập", "tự do hóa" mọi mặt đời sống xã hội, từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập hợp, nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong nước và ngoài nước, lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng.
Tận dụng những sơ hở trong đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước ta, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thủ đoạn về tư tưởng - văn hóa: Chúng thực hiện nhiều hoạt động nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ra sức truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân. Lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hóa đồi trụy, lối sống phương Tây, để kích động lối sống tư bản trong thanh niên từng bước làm phai mờ bản sắc văn hóa và giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam.
-Thủ đoạn trong lĩnh vực tôn giáo - dân tộc: Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo của một bộ phận cán bộ để kích động tư tưởng đòi ly khai, tự quyết dân tộc. Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để truyền đạo trái phép nhằm thực hiện âm mưu tôn giáo hóa dân tộc, từng bước gây mất ổn định xã hội và làm chệch hướng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thủ đoạn trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: Các thế lực thù địch lợi dụng xu thế mở rộng, hợp tác quốc tế, thực hiện xâm nhập, tăng cường hoạt động tình báo thu thập bí mật quốc gia. Chúng kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang. Đối với quân đội và công an, các thế lực thù địch chủ trương vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng với luận điểm "phi chính trị hóa" làm cho các lực lượng này xa rời mục tiêu chiến đấu.
Thủ đoạn trên lĩnh vực đối ngoại: Các thế lực thù địch lợi dụng chủ trương Việt Nam mở rộng hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để tuyên truyền và hướng Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Hạn chế sự mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam đối với các nước lớn trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự án đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Đặc biệt, chúng rất coi trọng việc chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước xã hội chủ nghĩa, hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế.
Bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam
Các thế lực thù địch chú trọng nuôi dưỡng các tổ chức phản động sống lưu vong ở nước ngoài và kết hợp với các phần tử cực đoan, bất mãn trong nước gây rối, làm mất ổn định xã hội ở một số vùng nhạy cảm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ của Việt Nam.
Chúng tiến hành nhiều hoạt động xảo quyệt để lôi kéo, mua chuộc quần chúng nhân dân lao động đứng lên biểu tình chống lại chính quyền địa phương. Vùng Tây Bắc, chúng kích động người H’Mông đòi thành lập khu tự trị riêng. Vùng Tây Nguyên, chúng ra sức
tuyên truyền thành lập nhà nước Đề Ga, chờ thời cơ thuận lợi để tiến hành lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thủ đoạn cơ bản mà các thế lực thù địch đã sử dụng để tiến hành bạo loạn lật đổ chính quyền ở một số địa phương nước ta là: kích động sự bất bình của quần chúng, dụ dỗ và cưỡng ép nhân dân biểu tình làm chỗ dựa cho lực lượng phản động trà trộn hoạt động đập phá trụ sở, rồi uy hiếp khống chế cơ quan quyền lực của địa phương. Trong quá trình gây bạo loạn, bọn phản động tìm mọi cách để mở rộng phạm vi, quy mô, lực lượng và kêu gọi sự tài trợ tiền của, vũ khí ngoài nước vào để tăng sức mạnh.
Các giải pháp phòng chống
Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế.
Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ.
Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt.
Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh
Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của địch
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động
Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam
Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó xây dựng quốc gia dân tộc thống nhất.
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo.
Ba là, các dân tộc ở nước ta có quy mô dân số và trình độ phát triển không đều.
Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hóa Việt Nam.
Giải pháp đấu tranh phòng, chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch
Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch cho toàn dân. Đây là giải pháp đầu tiên, rất quan trọng.
Hai là, tăng cường xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nội lực, tạo nên sức đề kháng trước mọi âm mưu thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù.
Ba là, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng, xét đến cùng có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa sự lợi dụng của kẻ thù.
Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị; của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo tham gia vào phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.
Năm là, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch; kịp thời giải quyết tốt các điểm nóng.
Liên hệ bản thân (khuyến khích liên hệ đối với sinh viên)
Là một sinh viên – thế hệ trí thức trẻ đang học tập và rèn luyện trong thời đại mới, tôi nhận thức sâu sắc rằng việc đấu tranh phòng, chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng là trách nhiệm và nghĩa vụ chính trị của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là lực lượng thanh niên, sinh viên. Các thế lực thù địch ngày càng tinh vi trong việc sử dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo như một công cụ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm xói mòn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, từ đó từng bước gây rối loạn xã hội, đe dọa đến ổn định và phát triển đất nước.
Trên cương vị một sinh viên, tôi cần nâng cao cảnh giác, không để bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch, xuyên tạc lan truyền trên mạng xã hội hay các kênh truyền thông phản động. Tôi phải chủ động học tập, tìm hiểu rõ ràng về chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò tuyên truyền, phản biện xã hội, kiên quyết lên án những hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, dân tộc để chống phá chế độ.
Bên cạnh đó, tôi luôn đề cao tinh thần tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, xây dựng tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc anh em và đồng bào tôn giáo trong nhà trường và xã hội. Tôi hiểu rằng, đấu tranh không chỉ bằng lý luận mà còn bằng hành động cụ thể, từ việc sống đúng pháp luật, gìn giữ đạo đức, cho đến lan tỏa nhận thức tích cực trong môi trường học đường.
Đó cũng chính là cách để tôi, với tư cách một sinh viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị và bảo vệ sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
→ LƯU Ý: Ở CÁC NỘI DUNG KHÁC, CÁC BẠN CÓ THỂ LẤY VÍ DỤ KHÁC THEO Ý CỦA MÌNH NHƯNG PHẢI ĐẢM BẢO ĐÚNG YÊU CẦU CỦA CÂU HỎI VÀ KHÔNG ĐƯỢC TRÙNG VỚI VÍ DỤ CỦA CÁC BẠN KHÁC
Nguyên nhân, điều kiện khách quan
Sự phát triển “quá nhanh” và “nóng” của kinh tế - xã hội không tính đến yếu tố bảo vệ môi trường của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm môi trường và là mảnh đất tốt để tội phạm môi trường phát triển.
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển kinh tế mà không quan tâm đến bảo vệ môi trường.
Áp lực tăng trưởng kinh tế, các cơ quan ở địa phương mới chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt. Đồng thời, mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với việc đảm bảo việc làm, an sinh xã hội cũng dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.
Công tác quản lý nhà nước về môi trường chưa khoa học, còn chồng chéo giữa các Bộ, ban, ngành trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, dẫn đến nhiều sơ hở trong công tác bảo vệ môi trường, để cho các đối tượng lợi dụng thực hiện tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường. Một số bất cập công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Quản lý nhà nước đối với nước thải, Quản lý nhà nước đối với chất thải rắn (CTR), Quản lý nhà nước đối với môi trường không khí, Thẩm định công nghệ môi trường, Ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường
Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu những văn bản pháp quy mang tính thống nhất và có hiệu lực cao. Nhiều văn bản pháp luật còn chồng chéo, trùng dẫm. Trong khi đó, thiếu các Thông tư hướng dẫn thực hiện dẫn đến khó khăn cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ.
Những đặc điểm của công tác phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Chủ thể tiến hành tham gia phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường rất đa dạng. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hành được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để tiến hành các hoạt động phòng ngừa cũng như điều tra, xử lý phù hợp.
Biện pháp tiến hành phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được triển khai đồng bộ, có sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp phòng ngừa (phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn) với các biện pháp điều tra, xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (cả tội phạm và vi phạm hành chính).
Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng các công cụ phương tiện nghiệp vụ và ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ.
Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia trên cơ sở chức năng, quyền hạn được phân công.
Liên hệ thực tiễn và trách nhiệm của bản thân
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh thái đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững của đất nước. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những hành vi vi phạm hành chính, các loại tội phạm về môi trường – như xả thải trái phép, khai thác tài nguyên trái phép, buôn bán động vật hoang dã, phá rừng – đang diễn biến phức tạp, có tổ chức, và để lại hậu quả lâu dài cho xã hội.
Là một sinh viên đang được học tập trong môi trường giáo dục hiện đại, tôi nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc góp phần phòng, chống tội phạm môi trường, bắt đầu từ những hành động nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Tôi cần thực hiện nghiêm túc các hành vi sống xanh như tiết kiệm điện, nước, hạn chế rác thải nhựa, phân loại rác, không xả rác bừa bãi, đồng thời nêu gương và tuyên truyền cho bạn bè, người thân cùng thực hiện.
Mặt khác, tôi chủ động tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường, nắm vững những quy định liên quan để có thể nhận biết và tố giác kịp thời những hành vi vi phạm hoặc tội phạm môi trường nếu phát hiện. Trong môi trường học đường, tôi có thể tham gia các câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa về môi trường, tham gia các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng hành cùng các tổ chức bảo vệ thiên nhiên. Đặc biệt, tôi sẽ kiên quyết không thờ ơ hoặc bao che cho các hành vi xâm hại môi trường, dù là nhỏ nhất.
Tôi hiểu rằng, phòng, chống tội phạm về môi trường không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chức năng, mà là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Với nhận thức đúng đắn và hành động cụ thể, sinh viên như tôi hoàn toàn có thể trở thành tác nhân tích cực góp phần gìn giữ môi trường sống trong lành cho hôm nay và mai sau.
Phân tích vai trò của pháp luật trong công tác quản lý nhà nước về bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Liên hệ trách nhiệm bản thân.
Vai trò của pháp luật trong công tác quản lý nhà nước về bảo đảm trật tự an toàn giao thông
- Pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông là ý chí của Nhà nước để chỉ đạo và tổ chức thực hiện bảo đảm trật tự an toàn giao thông
Pháp luật là hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước dưới dạng các quy phạm mang tính bắt buộc chung. Trong lĩnh vực giao thông, pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông thể hiện ý chí, quan điểm, đường lối của Nhà nước trong việc xây dựng một hệ thống giao thông an toàn, có trật tự, văn minh và bền vững.
Các quy định pháp luật về trật tự an toàn giao thông không chỉ thể hiện mục tiêu, định hướng quản lý giao thông mà còn là căn cứ để tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động giao thông. Thông qua các văn bản như Luật Trật tự, an toàn Giao thông đường bộ 2024, Luật Đường sắt 2017, Nghị định 168, Nhà nước ban hành các quy tắc rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của người tham gia giao thông, trách nhiệm của cơ quan chức năng, đồng thời thể hiện thái độ kiên quyết với các hành vi vi phạm gây nguy hiểm cho xã hội.
Nói cách khác, pháp luật chính là công cụ thể chế hóa ý chí của Nhà nước, để từ đó triển khai các hoạt động như tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, tuyên truyền giáo dục, đảm bảo mọi hoạt động giao thông được thực hiện theo định hướng chung, góp phần xây dựng xã hội an toàn, kỷ cương.
- Pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội
Trong quản lý nhà nước, pháp luật đóng vai trò là công cụ chủ yếu để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và hiệu lực thực thi.
Đối với lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông, pháp luật là nền tảng để các cơ quan chức năng thực hiện hoạt động quản lý như cấp giấy phép, kiểm định phương tiện, điều tiết giao thông, xử lý tai nạn, xử phạt vi phạm, v.v. Nhờ có pháp luật, các hoạt động này diễn ra trong khuôn khổ pháp lý rõ ràng, tránh tình trạng tùy tiện, cảm tính.
Hơn nữa, pháp luật còn là thước đo để phân định ranh giới giữa hành vi đúng – sai, hợp pháp – trái pháp, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như vượt đèn đỏ, uống rượu bia khi lái xe, đua xe trái phép, v.v. Điều này không chỉ bảo đảm an toàn giao thông mà còn góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội (TTATXH), phòng ngừa tội phạm và tạo lập môi trường sống an toàn cho người dân.
Tóm lại, pháp luật về trật tự an toàn giao thông vừa là nền tảng pháp lý cho việc tổ chức quản lý giao thông, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát, điều chỉnh hành vi xã hội, hướng tới mục tiêu ổn định, phát triển bền vững.
Liên hệ trách nhiệm bản thân
Là một sinh viên đang sống, học tập và tham gia giao thông hằng ngày, tôi nhận thức rõ ràng pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý trật tự an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn, bảo vệ tính mạng và tài sản của mọi người. Pháp luật không chỉ là những quy định bắt buộc mà còn là kim chỉ nam định hướng hành vi đúng đắn cho mỗi cá nhân, góp phần xây dựng một xã hội an toàn, có kỷ cương.
Từ sự hiểu biết đó, tôi xác định rõ trách nhiệm của bản thân trong việc tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về trật tự an toàn giao thông, như: Đi đúng làn đường, đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, không sử dụng rượu bia trước khi điều khiển phương tiện, không chạy xe quá tốc độ, không vượt đèn đỏ, không lấn chiếm lòng lề đường, tham gia tuyên truyền, nhắc nhở bạn bè, người thân cùng thực hiện đúng luật, lên tiếng hoặc báo cáo với cơ quan chức năng nếu phát hiện hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông gây nguy hiểm cho cộng đồng, chủ động tìm hiểu pháp luật về giao thông, nâng cao hiểu biết để không vi phạm do thiếu kiến thức.
Bên cạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, tôi cũng chủ động tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục bạn bè, người thân về tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật giao thông. Qua đó, góp phần xây dựng một xã hội tham gia giao thông có văn hóa, ý thức cao về trách nhiệm cá nhân.
Đồng thời, tôi luôn chủ động tham gia các chương trình, hoạt động của trường liên quan đến an toàn giao thông. Điều này không chỉ giúp tôi nâng cao hiểu biết về pháp luật mà còn góp phần vào công tác giám sát, phản ánh kịp thời những hành vi vi phạm, từ đó hỗ trợ các cơ quan chức năng xử lý đúng mức.
Tôi hiểu rằng, mỗi hành động nhỏ đúng luật của cá nhân sẽ góp phần làm nên môi trường giao thông an toàn cho cả cộng đồng. Đó không chỉ là trách nhiệm công dân, mà còn là biểu hiện của một người trẻ có tri thức, có ý thức xây dựng xã hội văn minh.
Nhận thức về tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác
Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác
Danh dự, nhân phẩm của con người là những yếu tố về tinh thần, bao gồm phẩm giá, giá trị, sự tôn trọng, tình cảm yêu mến của những người xung quanh, của xã hội đối với người đó.
Hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người là làm cho người đó bị xúc phạm, tổn thương về tinh thần và xấu hổ đối với những người xung quanh, người trong gia đình, tập thể, trong nhân dân, trong xã hội tùy thuộc vào vị thế, vai trò và nhiệm vụ, tuổi tác của người đó và mức độ của hành vi phạm tội.
Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm và danh dự được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ”
Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Khách thể của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Mặt khách quan của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Chủ thể của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người
+ Mặt chủ quan của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
Phân loại các tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm ̣
Các tội xâm phạm tình dục. Nhóm tội này gồm các tội sau: Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi; Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.
Các tội mua bán người: Nhóm tội này gồm: Tội mua bán người (chủ yếu là tội mua bán phụ nữ, trẻ em); Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Tội đánh tráo người dưới 1 tuổi; Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.
Các tội làm nhục người khác: Nhóm tội này gồm: Tội làm nhục người khác; Tội vu khống; Tội hành hạ người khác.
Nhóm tội khác như: Tội lây truyền HIV cho người khác; Tội cố ý truyền HIV cho người khác; Tội chống người thi hành công vụ.
Lý do: Các hành vi phạm tội lây truyền HIV cho người khác và cố ý truyền HIV cho người khác làm tổn thương đến sức khoẻ của người khác, bên cạnh đó, các hành vi phạm tội này còn làm ảnh hưởng đến tinh thần của nạn nhân. Trên thực tế, nạn nhân của những hành vi phạm tội này sẽ bị nhiễm HIV, vì thế họ mang tâm lý mặc cảm, lo sợ người khác kỳ thị; khi bị cộng đồng, tập thể, gia đình phát hiện HIV, bản thân nạn nhân khó chứng minh bản thân là nạn nhân của các hành vi phạm tội trên mà thường bị quy chụp là “vi phạm các tệ nạn xã hội” (như quan hệ tình dục với người hành nghề mại dâm hoặc sử dụng ma tuý). Chính những hệ luỵ của hành vi phạm tội này đã làm cho nạn nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bản thân họ. Do đó, tội lây truyền HIV cho người khác; tội cố ý truyền HIV cho người khác và tội chống người thi hành công vụ vẫn được xếp vào nhóm các tội xâm phạm danh dự nhân phẩm của con người.
Nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội danh dự, nhân phẩm
Sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường, bên
cạnh những mặt ưu điểm cũng bộc lộ nhiều mặt trái trở thành những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, đó là:
+ Hình thành lối sống hưởng thụ xa hoa, trụy lạc của một bộ phận người trong xã hội.
+ Đã làm xuống cấp nhiều mặt về văn hoá, đạo đức, lối sống làm mất đi truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
+ Đẩy mạnh tốc độ phân tầng xã hội, tạo ra sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc, một bộ phận giàu lên nhanh chóng trong đó có một số người làm giàu bất chính từ đó dẫn đến phạm tội, mặt khác không ít người không có tư liệu sản xuất phải ra thành phố, thị xã làm thuê kiếm sống bị tác động bởí những hiện tượng tiêu cực dễ dẫn đến phạm tội.
Tác động trực tiếp, toàn diện của những hiện tượng xã hội tiêu cực do chế độ cũ để lại:
+ Hậu quả của chế độ thực dân, đế quốc cùng với chiến tranh kéo dài trong nhiều năm đã phá hoại cơ sở vật chất, hình thành lối sống hưởng thụ, tư tưởng tham lam, ích kỉ, sa đoạ truy lạc trong một bộ phận nhân dân.
+ Tư tưởng trọng nam, coi thường phụ nữ ; những tác động tiêu cực, tàn dư của chế độ xã hội cũ còn tồn tại lâu dài tác động vào đời sống xã hội làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong đó có tội phạm.
Sự thâm nhập ảnh hưởng của tội phạm, tệ nạn xã hội của các quốc gia khác.
Những sơ hở, thiếu sót trong các mặt công tác quản lí của Nhà nước, các cấp, các ngành bao gồm: sơ hở thiếu sót trong quản lí con người, quản lí văn hoá, quản lí nghề nghiệp kinh doanh...
Những thiếu sót trong giáo dục đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ văn hoá của người dân.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật kém hiệu quả, một số chính sách về kinh tế, xã hội chậm đổi mới tạo sơ hở cho tội phạm hoạt động phát triển. Sự chậm đổi mới chủ trương chính sách về kinh tế xã hội và pháp luật đã bộc lộ những sơ hở khiến cho một số đối tượng lợi dụng để hoạt động phạm tội.
Công tác đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan chức nãng nói chung và của ngành công an nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu sót; thể hiện trên các mặt:
+ Trình độ nghiệp vụ, pháp luật của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn dẫn đến hữu khuynh né tránh, thậm chí có một số cán bộ biến chất, tiếp tay cho tội phạm, buông lỏng công tác đấu tranh trấn áp tội phạm.
+ Mối quan hệ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thực sự đồng bộ, thiếu thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật còn chưa tốt.
+ Số vụ phát hiện, điều tra ít hơn so với thực tế tội phạm xảy ra, tội phạm ẩn còn nhiều.
+ Hoạt động điều tra, xử lí tội phạm chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, xử lí chưa nghiêm minh.
+ Hệ thống tổ chức bộ máy, phân công chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và trong nội bộ từng cơ quan chưa thực sự khoa học, hiệu quả vận hành chưa cao.
Công tác quản lí Nhà nước về an ninh trật tự còn bộc lộ nhiều sơ hở. Công tác giáo dục cải tạo chưa xoá bỏ được tư tưởng phạm tội của các đối tượng, số đối tượng phạm tội trở lại còn nhiều.
Phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống tội phạm ở một số nơi chưa thực sự mạnh mẽ, chưa hiệu quả. Chưa phát huy được sức mạnh của quần chúng trong công tác giáo dục, cải tạo và tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội.
Biện pháp phòng, chống tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường thực thi
Cập nhật, hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và dân sự: Cụ thể hóa rõ hơn hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm qua mạng xã hội, livestream, tin nhắn, hình ảnh, nhằm xử lý kịp thời những hành vi mới phát sinh.
Tăng nặng mức xử phạt hành vi có tính chất lăng mạ, xúc phạm người khác công khai, đặc biệt là trên không gian mạng, gây hậu quả lớn về tâm lý và xã hội.
Tăng cường xử lý nghiêm minh và công khai các vụ việc điển hình để răn đe và tuyên truyền trong cộng đồng.
Tăng cường giáo dục đạo đức, pháp luật trong xã hội
Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, kỹ năng ứng xử, và ý thức pháp luật trong trường học, gia đình và cộng đồng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên – nhóm dễ phát sinh hành vi xúc phạm, bạo lực ngôn ngữ trên mạng.
Tổ chức các chiến dịch truyền thông xã hội nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền nhân thân, quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm theo pháp luật.
Phổ biến kiến thức pháp luật thông qua các nền tảng mạng xã hội, video ngắn, infographics dễ hiểu, dễ lan tỏa.
Quản lý, giám sát và xử lý vi phạm trên không gian mạng
Tăng cường kiểm duyệt, cảnh báo và gỡ bỏ nội dung xúc phạm, vu khống trên mạng xã hội thông qua phối hợp với các nền tảng như Facebook, TikTok, YouTube…
Tăng năng lực của các cơ quan chức năng về kỹ thuật số để theo dõi, thu thập chứng cứ điện tử, phục vụ điều tra, xử lý tội phạm mạng.
Khuyến khích cá nhân bị xúc phạm tố cáo và yêu cầu bảo vệ quyền lợi, đồng thời cung cấp các kênh tiếp nhận tố giác đơn giản, hiệu quả.
Nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng
Gia đình và nhà trường cần quan tâm giáo dục con trẻ về giá trị của sự tôn trọng, đồng cảm, kỹ năng tự bảo vệ khi bị xúc phạm.
Phát triển các chương trình kỹ năng sống, ứng xử văn minh trên mạng trong trường học.
Xây dựng môi trường văn hóa ứng xử tích cực, đẩy lùi văn hóa “bêu rếu”, “ném đá”, “miệt thị công khai” vốn đang lan rộng trên mạng.
Hỗ trợ tâm lý và pháp lý cho nạn nhân
Xây dựng các trung tâm tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý cho nạn nhân bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, nhất là qua mạng.
Hướng dẫn người dân cách thu thập bằng chứng, bảo vệ quyền lợi cá nhân khi bị xúc phạm, bôi nhọ.
Cung cấp đường dây nóng, nền tảng báo cáo nhanh để giúp nạn nhân kịp thời được hỗ trợ, tránh tổn thương tâm lý kéo dài.
Thực trạng an toàn thông tin ở Việt Nam hiện nay
Tại Việt Nam, tình hình an toàn an ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, tồn tại nhiều cơ sở gây nguy cơ bị tấn công, phá hoại hạ tầng mạng thông tin, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Báo cáo của hãng bảo mật Kaspersky và Symantec cho thấy, Việt Nam đứng thứ 3 (3,96%) sau Nga (4%) và Ấn Độ (8%) về số người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất trên thế giới; thứ 6 trên thế giới về số lượng địa chỉ IP trong nước được dùng trong các mạng máy tính; thứ 7 trên thế giới về phát tán tin nhắn rác và đứng thứ 12 trên thế giới về các hoạt động tấn công mạng. Đáng chú ý là hoạt động tấn công mạng nhằm vào Việt Nam gia tăng về số lượng, gây nguy cơ bị kiểm soát, khống chế hệ thống thông tin. Tin tặc nước ngoài thường xuyên lợi dụng các điểm yếu về an ninh mạng của hệ thống thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của Việt Nam để tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, chỉnh sửa nội dung.
Đạt được những kết quả trên cho thấy việc cơ quan chức năng tăng cường các hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng về đảm bảo an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức và người dùng, thông qua các hội nghị, hội thảo cũng như các chương trình tập huấn, diễn tập. Bên cạnh đó, các quy định, chế tài pháp luật đã đầy đủ và có tính răn đe hơn như sự ra đời của Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019.
Quy định của Nhà nước về công tác phòng chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng
+ Bộ luật Hình sự năm 2015
Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Hình sự.
Ngày 20/6/2017, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13. BLHS số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
+ Luật An toàn thông tin 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Luật gồm 8 Chương và 54 Điều.
+ Luật An ninh mạng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Trong đó, Chương III. phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, gồm 7 điều (từ Điều 16 đến Điều 22), quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng; phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng.
Liên hệ thực tiễn và trách nhiệm của bản thân.
Trong thời đại công nghệ số, không gian mạng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cá nhân và xã hội, đặc biệt đối với sinh viên như tôi – những người thường xuyên sử dụng mạng internet để học tập, tìm kiếm thông tin, giải trí và giao tiếp. Tuy nhiên, đi cùng với những lợi ích đó là nhiều hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi và phức tạp trên không gian mạng, như: phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xâm phạm dữ liệu cá nhân...
Nhận thức được điều này, tôi hiểu rằng bản thân cần có trách nhiệm trong việc phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bắt đầu từ chính mình. Trước hết, tôi cần tự trang bị kiến thức pháp luật về an ninh mạng, Luật An ninh mạng 2018, Luật An toàn thông tin mạng và các quy định liên quan, để hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của công dân khi tham gia môi trường số. Tôi luôn cố gắng sử dụng mạng một cách có văn hóa và có trách nhiệm, không lan truyền tin giả, không chia sẻ các nội dung chưa được kiểm chứng, không bình luận tiêu cực hoặc xúc phạm người khác, dù là ẩn danh hay công khai.
Bên cạnh đó, tôi cũng có trách nhiệm chủ động phản ánh, tố giác những nội dung vi phạm pháp luật, đặc biệt là các trang thông tin có dấu hiệu giả mạo, sai lệch hoặc kích động. Đồng thời, tôi cố gắng tuyên truyền đến bạn bè, người thân về việc sử dụng mạng xã hội đúng mực, tránh bị lợi dụng để phát tán nội dung xấu độc. Tôi tin rằng nếu mỗi người trẻ đều có nhận thức và hành động đúng đắn, thì không gian mạng sẽ ngày càng trở nên lành mạnh, an toàn, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, và quyền lợi hợp pháp của công dân.
Những thách thức, đe dọa an ninh phi truyền thống
Một là làm suy giảm sức mạnh quốc phòng của đất nước
An ninh phi truyền thống tác động tạo tâm lý hoang mang, làm suy giảm ý chí, quyết tâm và lòng tin của nhân dân đối với chế độ; đồng thời, có thể làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, nhất là giữa các tầng lớp dân cư.
Tác động từ an ninh phi truyền thống sẽ làm kìm hãm, thậm chí phá hoại sự phát triển của nền kinh tế, gây khó khăn trong việc kinh tế với quốc phòng và mở rộng hợp tác quốc tế về kinh tế.
Làm suy giảm đáng kể khả năng dự trữ và huy động cơ sở vật chất từ nền kinh tế cho các nhiệm vụ quốc phòng cũng như khả năng đầu tư cho quốc phòng nói chung, cho hiện đại hóa quân đội nói riêng.
Hai là gây mất ổn định quốc gia
Những tác động tiêu cực của các vấn đề an ninh phi truyền thống có thể gây ra mất ổn định đất nước trên nhiều lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại.
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tội phạm ma túy đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự ổn định của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới.
Tác động của an ninh thông tin có thể gây rối loạn hệ thống mạng của đất nước, dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống điều khiển quốc gia; tạo ra các luồng thông tin xuyên tạc, bóp méo sự thật, gây chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Ba là hình thành nguy cơ xung đột và chiến tranh
Nguy cơ xung đột và chiến tranh được hình thành từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, cả bên trong và bên ngoài; trong đó có các nguyên nhân từ tác động của an ninh phi truyền thống, nhất là từ khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, xung đột dân tộc, sắc tộc và khai thác tài nguyên.
Ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh với nhiều quốc gia thực chất là ngăn chặn, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Ở Việt Nam, nguy cơ xung đột và chiến tranh từ tác động của an ninh phi truyền thống có thể ít xảy ra nhưng không thể không dự báo để chủ động phòng ngừa
Hiện nay, các loại tội phạm về an ninh mạng, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, tội rửa tiền và các loại tội phạm trong lĩnh vực thương mại, đầu tư,… vẫn diễn biến phức tạp và là một trong những nhân tố gây mất ổn định, nhất là trên các tuyến biên giới, có thể gây tổn hại đến mối quan hệ với các nước.
Những giải pháp phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
Nâng cao nhận thức về các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đối với an ninh con người, an ninh cộng đồng, an ninh quốc gia và an ninh nhân loại.
Chủ động, tích cực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong quản trị và kiểm soát các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về phòng ngừa, kiểm soát và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Huy động nguồn lực tài chính bằng nhiều kênh khác nhau để đầu tư cho hoạt động phòng ngừa, kiểm soát, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Phân tích giải pháp “Chủ động, tích cực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống”
Thứ nhất, chủ động và tích cực đầu tư phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chăm lo bảo vệ môi trường sinh thái.
Thứ hai, phân loại từng lĩnh vực an ninh phi truyền thống với đặc điểm khác nhau để xác định những cơ chế, phương thức quản trị an ninh phi truyền thống phù hợp:
+ Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ rủi ro của thị trường (như an ninh tài chính), việc chủ động và tích cực ứng phó phải bắt đầu bằng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cấu trúc lại chức năng của Nhà nước, nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của thị trường khi rơi vào khủng hoảng.
+ Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái của toàn cầu hóa, tính chủ động, tích cực thể hiện ở thúc đẩy hợp tác quốc tế để phòng ngừa và ứng phó ngay từ chính quốc gia có thể phát sinh và lan truyền các mối đe dọa an ninh phi truyền thống (như an ninh mạng, di cư xuyên biên giới, khủng bố, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em).
+ Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái sử dụng thành tựu khoa học công nghệ (như an ninh mạng, một số dịch bệnh), tính chủ động và tích cực thể hiện ở xây dựng đội ngũ chuyên gia tinh nhuệ, có trình độ công nghệ cao, đủ năng lực phòng ngừa và ứng phó hiệu quả.
+ Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ tranh chấp tài nguyên, năng lượng, nguồn nước,... tính chủ động và tích cực thể hiện ở định hình một chiến lược năng lượng thay thế, hạn chế tối đa khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đàm phán với các đối tác trong chia sẻ khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên.
+ Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống do tai biến môi trường, biến đổi khí hậu,... do tính thất thường của nó, tính chủ động và tích cực thể hiện ở xây dựng hệ thống cảnh báo, dự báo, phòng ngừa và bố trí cả lực lượng tại chỗ và lực lượng chuyên nghiệp để đủ sức ứng phó, cứu hộ, cứu nạn, xử lý các khủng hoảng môi trường, các thảm họa tự nhiên.
Thứ ba, chủ động, tích cực hoàn thiện hệ thống thể chế quản trị an ninh phi truyền thống, nâng cao tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng ngừa và ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống.
Thứ tư, chủ động xây dựng lực lượng, đầu tư nguồn lực cho quản trị an ninh phi truyền thống ở từng lĩnh vực, từng địa bàn, từng nội dung cụ thể; thường xuyên diễn tập để tránh rơi vào thế bị động khi xảy ra tình huống bất thường.
Thứ năm, giữ vững an ninh chính trị, xử lý các vấn đề dân tộc và tôn giáo một cách khéo léo, giải tỏa các xung đột xã hội phù hợp, phòng ngừa và ngăn chặn khả năng chuyển hóa của xung đột.
Thứ sáu, chủ động và tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Lựa chọn từng khung khổ hợp tác đa phương, khu vực hay song phương với từng nội dung cụ thể để Việt Nam tham gia. Ưu tiên cho hợp tác quốc tế về quản trị an ninh phi truyền thống đối với những lĩnh vực đang đe dọa, uy hiếp trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam.
Liên hệ trách nhiệm với bản thân
Tại Việt Nam, những vấn đề này không còn xa lạ mà đang hiện hữu từng ngày: từ ô nhiễm không khí ở các đô thị lớn, hiện tượng rác thải nhựa tràn lan, đến những đợt dịch bệnh như COVID-19 để lại hậu quả nặng nề cho kinh tế - xã hội. Đồng thời, các hình thức tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân ngày càng tinh vi và phổ biến. Những vấn đề này đòi hỏi sự tham gia không chỉ của các cơ quan chức năng mà còn cần trách nhiệm và hành động thiết thực từ mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ – những người có học vấn, có khả năng tiếp cận công nghệ, và là lực lượng kế thừa tương lai của đất nước.
Là một sinh viên đang học tập và sinh sống trong môi trường số hóa, tôi nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của bản thân trong việc góp phần bảo vệ an ninh phi truyền thống.
Trước hết, tôi cần trang bị cho mình kiến thức nền tảng về các vấn đề an ninh phi truyền thống, hiểu được tính chất nghiêm trọng và ảnh hưởng lâu dài của chúng đến xã hội.
Bằng cách thường xuyên cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống, tôi có thể phân biệt được đâu là thông tin sai lệch, kích động, để từ đó không chia sẻ hay tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật hoặc gây rối an ninh xã hội.
Thứ hai, tôi có trách nhiệm thay đổi hành vi sinh hoạt hàng ngày theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường: tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa một lần, phân loại rác đúng quy định, ưu tiên sử dụng phương tiện giao thông công cộng hoặc đi bộ nếu có thể. Đây là những hành động nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường – hai thách thức an ninh phi truyền thống nổi bật hiện nay.
Thứ ba, tôi phải cẩn trọng trong việc sử dụng internet và không gian mạng, không chỉ để bảo vệ chính mình mà còn để phòng ngừa các nguy cơ an ninh mạng. Tôi luôn cố gắng sử dụng mạng xã hội một cách có văn hóa, không tham gia vào các hội nhóm tiêu cực, không phát tán thông tin giả, và chủ động báo cáo các nội dung xấu độc đến cơ quan chức năng hoặc nhà cung cấp dịch vụ.
Cuối cùng, tôi hiểu rằng sinh viên không chỉ là người học mà còn là người truyền cảm hứng và lan tỏa thông điệp tích cực trong cộng đồng. Vì vậy, tôi luôn cố gắng tuyên truyền và vận động bạn bè, người thân nâng cao nhận thức về các nguy cơ an ninh phi truyền thống, cùng nhau hành động vì một xã hội an toàn và bền vững hơn.
Tóm lại, ứng phó với các thách thức của an ninh phi truyền thống không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Với vai trò là một sinh viên – công dân trẻ của đất nước – tôi cam kết sẽ hành động một cách có trách nhiệm, tích cực và chủ động, góp phần cùng cộng đồng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống trong thời đại mới.
Nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
Là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng li khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền ở địa phương hay trung ương
Về hình thức của bạo loạn, gồm có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang hoặc bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang.
Thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc
Khi tiến hành bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch thường kích động những phần tử quá khích, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội ở một số khu vực và trong một thời gian nhất định (thường chỉ diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn) tiến tới lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, thì các thế lực thù địch lại tiếp tục điều chỉnh thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Chúng đã tuyên bố xoá bỏ "cấm vận kinh tế" và bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt động xâm nhập như: "dính líu", "ngầm", "sâu, hiểm" nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.
"Dính líu", "ngầm", "sâu, hiểm"
Khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đòi thực hiện chế độ "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập", "tự do hoá" mọi mặt đời sống xã hội
Tập hợp, nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong nước và ngoài nước
Lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộcTận dụng những sơ hở trong đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước ta, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự
Chúng thực hiện nhiều hoạt động nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ra sức truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân
Lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hoá đồi trụy, lối sống phương Tây
Kích động lối sống tư bản trong thanh niên từng bước làm phai mờ bản sắc văn hoá và giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo của một bộ phận cán bộ
