Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Tiếng Anh có đáp án - Đề số 3

Which of the following best paraphrases the underlined sentence in paragraph 4?

25/33

Which of the following best paraphrases the underlined sentence in paragraph 4?

People struggling with attention and behavior issues are naturally more attracted to short videos.

The more people watch short videos, the more they improve their concentration ability and behavior.

Individuals with a strong dependency on short-form content find it increasingly difficult to manage their focus and conduct.

The frequency of watching short videos goes hand in hand with increased self-discipline in young adults.

Giải thích

Đáp án đúng là: C

Which of the following best paraphrases the underlined sentence in paragraph 4? (Câu nào viết lại tốt nhất câu gạch chân ở đoạn 4?)

Câu gốc: In plain terms: the more hooked someone was on short videos, the harder it was for them to regulate their own attention and behavior. (Nói một cách đơn giản: một người càng bị cuốn vào các video ngắn bao nhiêu, thì họ càng khó tự điều chỉnh sự tập trung và hành vi của chính mình bấy nhiêu)

A. People struggling with attention and behavior issues are naturally more attracted to short videos. (Những người đang vật lộn với các vấn đề về chú ý và hành vi thường tự nhiên bị thu hút bởi các video ngắn hơn)

" Sai vì không khớp với nghĩa câu gốc. 

B. The more people watch short videos, the more they improve their concentration ability and behavior. (Càng xem nhiều video ngắn, con người càng cải thiện khả năng tập trung và hành vi của mình)

" Sai vì ngược nghĩa với câu gốc.

C. Individuals with a strong dependency on short-form content find it increasingly difficult to manage their focus and conduct. (Những cá nhân có sự phụ thuộc mạnh mẽ vào nội dung dạng ngắn cảm thấy ngày càng khó khăn trong việc quản lý sự tập trung và cách hành xử của bản thân)

" Đúng, khớp nội dung với câu gốc.

D. The frequency of watching short videos goes hand in hand with increased self-discipline in young adults. (Tần suất xem video ngắn đi đôi với việc tăng cường tính kỷ luật tự giác ở người trẻ tuổi)

" Sai vì ngược nghĩa với câu gốc.

 

Dịch bài đọc:

Brainrot (đôi khi được viết là “brain rot”) là một thuật ngữ lóng trên mạng, chỉ trạng thái "sương mù não" (đầu óc mơ hồ) và khả năng tập trung bị giảm sút do dành quá nhiều thời gian xem các nội dung trực tuyến kém chất lượng. Nó cũng dùng để chỉ chính những nội dung đó: những video và meme kỳ quặc, vô nghĩa, được thuật toán thúc đẩy và tràn ngập trên các nền tảng như TikTok, YouTube Shorts và Instagram Reels.

Một phần khiến brainrot dễ nhận diện là hệ thống ngôn ngữ riêng của nó. Những người trẻ xem nhiều nội dung này thường lồng ghép các từ ngữ thuần túy từ internet vào lời nói của mình: “skibidi” (từ Skibidi Toilet trên YouTube), “rizz” (sức hút), “gyatt” (một câu cảm thán khi nhìn thấy cơ thể ai đó), “fanum tax” (việc lấy trộm đồ ăn từ đĩa của người khác một cách đùa giỡn), và “sigma” (hình mẫu đàn ông độc lập, tự lực). Nếu bạn nghe thấy một đứa trẻ hoặc thiếu niên ghép những từ này lại thành một câu nghe như vô nghĩa, thì bạn đang chứng kiến vốn từ vựng brainrot đang được sử dụng. Đối với nhiều phụ huynh và giáo viên, ngôn ngữ này là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy có sự thay đổi trong cách trẻ em tương tác với truyền thông.

Thuật ngữ này bắt đầu như một từ lóng, nhưng các nghiên cứu cho thấy mối lo ngại đằng sau nó là có thật. Cơ chế cốt lõi là thứ mà các nhà nghiên cứu gọi là “lướt dopamine”: mỗi lần gạt màn hình sẽ giải phóng một lượng nhỏ dopamine. Vì bạn không bao giờ biết video tiếp theo sẽ nhàm chán hay cực kỳ hài hước, sự khó đoán này khiến bạn bị cuốn vào. Nguyên lý tâm lý này cũng giống hệt thứ khiến các máy đánh bạc ở sòng bài trở nên lôi cuốn. Theo thời gian, não bộ của bạn sẽ lờn / chai sạn, nghĩa là bạn cần lướt nhiều hơn mới có được cảm giác thỏa mãn như cũ.

Một nghiên cứu năm 2024 đo lường hoạt động não bộ ở những người trong độ tuổi đại học cho thấy: mức độ nghiện video ngắn càng cao thì khả năng kiểm soát của vỏ não trước trán (phần não chịu trách nhiệm tập trung, lập kế hoạch và kiểm soát xung động) càng yếu. Nghiên cứu này cũng tìm thấy mối liên hệ tiêu cực đáng kể giữa việc nghiện video ngắn và điểm số tự kiểm soát bản thân. Nói một cách đơn giản: một người càng bị cuốn vào các video ngắn bao nhiêu, thì họ càng khó tự điều chỉnh sự tập trung và hành vi của chính mình bấy nhiêu.

Một đánh giá rộng hơn được công bố trên tạp chí Brain Sciences đã liên kết việc sử dụng màn hình quá mức và tiêu thụ nội dung kém chất lượng với các hiện tượng: sương mù não, giảm khả năng tập trung, cản trở sự phát triển não bộ ở thanh thiếu niên, tăng lo âu và trầm cảm, thu mình khỏi xã hội và làm sai lệch nhận thức về thực tế. Một số nhà nghiên cứu đã lo ngại về khả năng dẫn đến suy giảm nhận thức sớm khi về già, mặc dù bức tranh dài hạn này vẫn đang trong quá trình nghiên cứu thêm.