Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá về hai đoạn thơ sau:
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng - Vấn đề nghị luận: So sánh, đánh giá về hai đoạn thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” (Nguyễn Việt Chiến) và “Biển” (Lâm Thị Mỹ Dạ) - Dung lượng: khoảng 600 chữ - Bằng chứng: Văn bản ngữ liệu |
b. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học - Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận - Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận b2. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận Ý 1: Điểm tương đồng: - Nội dung: + Cả hai đoạn thơ đều lấy biển làm hình tượng trung tâm (đối tượng trữ tình), thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thiêng liêng của thiên nhiên Việt Nam. + Thể hiện tình yêu sâu nặng với quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức trân trọng những giá trị vĩnh hằng của Tổ quốc. - Nghệ thuật: +Sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ (ẩn dụ, nhân hóa) để khắc họa hình tượng biển. + Giọng điệu chung đều giàu chất trữ tình, cảm xúc được bộc lộ trực tiếp và mãnh liệt. - Lí giải điểm tương đồng: Cả hai nhà thơ đều xuất phát từ tình yêu thiên nhiên, từ tình cảm sâu nặng dành cho biển cả quê hương, cho tổ quốc, con người Việt Nam. Ý 2: Điểm khác biệt: - Về nội dung: + Cảm hứng chủ đạo: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến là cảm hứng sử thi, công dân - biển gắn liền với những đau thương, mất mát, hi sinh. Còn trong “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ lại là cảm hứng lãng mạn, triết lí. Biển gắn liền với vẻ đẹp hài hòa, nguồn cội sự sống và bài học nhân sinh. + Hình tượng trung tâm: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến, hình tượng trung tâm - biển là không gian lịch sử, không gian chủ quyền của dân tộc. Còn hình tượng biển trong thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ là "bạn tâm giao", là không gian vũ trụ, không gian triết lí. + Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến, cảm xúc chủ đạo là xúc động, tự hào, biết ơn những thế hệ đã ngã xuống của thế hệ đi trước và sự kiên cường, bền bỉ của thế hệ hôm nay trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và xây dựng, phát triển đất nước. Từ đó thức tỉnh thế hệ hôm nay và mai sau về ý thức và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Còn “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ chứa đựng cảm xúc tự hào về vẻ đẹp của biết cả, biết ơn biển cả bao la mang đến nguồn sống cho con người và chiêm nghiệm, suy tư bài học nhân sinh sâu sắc về cội nguồn, về khát vọng khám phá, vươn xa. - Về nghệ thuật + Đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến: thể thơ tự do linh hoạt, nhịp thơ thay đổi, lúc trang nghiêm, lúc dồn dập, thiết tha. Giọng điệu: trang trọng, hào hùng, bi tráng, mang tính chính luận, sử thi, có sức lay động mạnh mẽ ý thức cộng đồng. Hình ảnh, ngôn ngữ thơ: sử dụng nhiều hình ảnh, từ ngữ mang tính biểu tượng lịch sử, quân sự. + Bài thơ “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ: thể thơ 5 chữ, nhịp thơ đều đặn (thường là 2/3 hoặc 3/2), nhẹ nhàng, du dương, như nhịp sóng vỗ, như lời tâm tình. Giọng điệu: thiết tha, sâu lắng, trầm tư, giàu chất nữ tính, như lời thủ thỉ, tự vấn, chia sẻ những khám phá nội tâm. Hình ảnh, ngôn ngữ: sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính lãng mạn, triết luận: "soi mắt nhau", "sao về với sóng", "ốc vàng", "đêm thâu", "chân trời rạng". - Lí giải điểm khác biệt: + Hoàn cảnh sáng tác: Nguyễn Việt Chiến viết khi vấn đề chủ quyền biển đảo (đặc biệt là Hoàng Sa, Trường Sa) trở nên cấp thiết, đòi hỏi tiếng nói trách nhiệm công dân, tiếng nói thời sự - chính trị. + Phong cách nghệ thuật: Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ – nhà báo, thường viết về người lính và chủ quyền biển đảo với giọng thơ mang âm hưởng sử thi, công dân, chính luận. Lâm Thị Mỹ Dạ là nhà thơ nữ thời hậu chiến, luôn hướng nội, viết bằng tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ với giọng thơ trữ tình, triết lí, đầy nữ tính. + Quy luật của lao động nghệ thuật là sáng tạo. b3. Đánh giá chung - Cả Nguyễn Việt Chiến và Lâm Thị Mỹ Dạ đều mang đến những vần thơ ý nghĩa về biển. Một bên là biển của chiều rộng lịch sử, của chủ quyền thiêng liêng; một bên là biển của chiều sâu tâm hồn, của triết lí nhân sinh. Yêu biển không chỉ là yêu vẻ đẹp của nó, mà còn là yêu lịch sử, trân trọng sự hy sinh của cha ông để bảo vệ chủ quyền (thơ Nguyễn Việt Chiến). Đồng thời, yêu biển cũng là biết lắng nghe, biết suy tư để sống sâu sắc hơn, sống có khát vọng hơn (thơ Lâm Thị Mỹ Dạ). Trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải có một trái tim nóng để giữ gìn từng tấc biển của Tổ quốc, một tâm hồn sâu sắc, tinh tế để khám phá, trân trọng những giá trị vĩnh hằng mà biển cả mang lại. - Sự khác biệt đó góp phần tạo nên phong cách độc đáo riêng của mỗi tác giả, đồng thời làm nên sự phong phú, đa dạng cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. b4. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục. - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. |