Trong không gian \[Oxyz\], cho đường thẳng delta : x = 1 + 2t , y = 2 + t và z = -2 -t
Giả sử đường thẳng \[d\] cắt đường thẳng \(\Delta \) tại \[B\], ta có: \[B\left( {1 + 2t;2 + t; - 2 - t} \right) \in \Delta \].
Đường thẳng \[d\] có véctơ chỉ phương là: \[\overrightarrow {AB} = \left( {2t + 2;t + 2; - t - 1} \right)\], mặt phẳng \(\left( P \right)\) có véctơ pháp tuyến \(\overrightarrow n = \left( { - 1;2;2} \right)\).
Gọi \(\varphi \) là góc giữa \[d\] và \(\left( P \right)\), ta có: \(\sin \varphi = \frac{{\left| { - 2t - 2 + 2t + 4 - 2t - 2} \right|}}{{3\sqrt {6{t^2} + 14t + 9} }} = \frac{{\left| {2t} \right|}}{{3\sqrt {6{t^2} + 14t + 9} }} \ge 0\)
\[ \Rightarrow d\] tạo với mặt phẳng \(\left( P \right)\) một góc \(\varphi \) nhỏ nhất khi \(\varphi = 0^\circ \) hay \[\sin \varphi = 0 \Rightarrow t = 0\].
Khi đó đường thẳng \[d\] đi qua điểm \[A\left( { - 1;0; - 1} \right)\] và có véctơ chỉ phương \[\overrightarrow {AB} = \left( {2;2; - 1} \right)\]\[ \Rightarrow \overrightarrow {{u_d}} = \left( { - 2; - 2;1} \right)\]
Vậy \(a = - 2,b = - 2, \Rightarrow a + 2b = - 6\).