31 bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần (có lời giải)

Theo một số liệu thống kê, năm 2004 ở Canada có 65 phần trăm nam giởi là thừa cân và 53,4 phần trăm nữ giởi là thừa cân

6/31

Theo một số liệu thống kê, năm 2004 ở Canada có \(65\% \) nam giởi là thừa cân và \(53,4\% \) nữ giởi là thừa cân. Nam giởi và nữ giới ở Canada đều chiếm \(50\% \) dân số cả nước (Nguồn: F. M. Dekking et al., A modern introduction to probability and statistics - Understanding why and how, Springer, 2005). Hỏi rằng, trong năm 2004, xác suất để một người Canada được chọn ngẫu nhiên là người thừa cân bằng bao nhiêu?

0/3000 ký tự
Giải thích

Xét hai biến cố sau:

\(A\) : "Người được chọn ra là người thừa cân";

\(B\) : "Người được chọn ra là nam giới" (biến cố \(\bar B\) : "Người được chọn ra là nữ giới").

Từ giả thiết ta có:

\({\rm{P}}(B) = {\rm{P}}(\bar B) = 50\%  = 0,5;{\rm{P}}(A\mid B) = 65\%  = 0,65;{\rm{P}}(A\mid \bar B) = 53,4\%  = 0,534.\)

Theo công thức xác suất toàn phần, ta có:

\({\rm{P}}(A) = {\rm{P}}(B) \cdot {\rm{P}}(A\mid B) + {\rm{P}}(\bar B) \cdot {\rm{P}}(A\mid \bar B) = 0,5 \cdot 0,65 + 0,5 \cdot 0,534 = 0,592.\)

Vậy xác suất để một người Canada được chọn ngẫu nhiên là người thừa cân bằng 0,592 . Nói cách khác, tỉ lệ người Canada thừa cân là \(59,2\% \).