Paragraphs 3 and 4 organize the discussion of leadership primarily in term of A. examples that illustrate a problem B. comparison and contrast C. narration of events D. cause a
Đáp án: B
Giải thích:
Kiến thức: Phương pháp tổ chức đoạn văn
Dịch: Đoạn 3 và 4 sắp xếp thảo luận về lãnh đạo chủ yếu theo thuật ngữ _______.
A. ví dụ minh họa cho một vấn đề
B. so sánh và đối chiếu
C. tường thuật các sự kiện
D. phân tích nguyên nhân và kết quả
Đoạn 3 và 4 mô tả hai kiểu lãnh đạo khác nhau: instrumental leadership (lãnh đạo hướng đến nhiệm vụ) và expressive leadership (lãnh đạo hướng đến sự gắn kết tập thể).
Đoạn 3 giới thiệu sự khác biệt giữa hai kiểu lãnh đạo này về mục tiêu và vai trò trong nhóm.
Đoạn 4 tiếp tục so sánh cách họ tương tác với thành viên nhóm: instrumental leaders có mối quan hệ xa cách, còn expressive leaders có mối quan hệ gần gũi hơn.
Cách tổ chức này dựa trên so sánh và đối lập (comparison and contrast).
Dịch bài đọc
Theo các nhà xã hội học, có một số cách khác nhau để một người có thể được công nhận là người lãnh đạo của một nhóm xã hội ở Hoa Kỳ. Trong gia đình, các mô hình văn hóa truyền thống trao quyền lãnh đạo cho một hoặc cả hai cha mẹ. Trong các trường hợp khác, chẳng hạn như nhóm bạn bè, một hoặc nhiều người có thể dần dần nổi lên làm người lãnh đạo, mặc dù không có quy trình lựa chọn chính thức nào. Trong các nhóm lớn hơn, người lãnh đạo thường được chọn chính thức thông qua bầu cử hoặc tuyển dụng.
Mặc dù người ta thường cho rằng người lãnh đạo là những người có năng lực cá nhân khác thường, nhưng nhiều thập kỷ nghiên cứu đã không đưa ra được bằng chứng nhất quán rằng có bất kỳ loại "người lãnh đạo bẩm sinh" nào. Có vẻ như không có một tập hợp các phẩm chất cá nhân nào mà tất cả các nhà lãnh đạo đều có chung; thay vào đó, hầu như bất kỳ người nào cũng có thể được công nhận là người lãnh đạo nếu người đó có những phẩm chất đáp ứng nhu cầu của nhóm cụ thể đó.
Hơn nữa, mặc dù người ta thường cho rằng các nhóm xã hội chỉ có một người lãnh đạo duy nhất, nhưng nghiên cứu cho thấy thường có hai vai trò lãnh đạo khác nhau do các cá nhân khác nhau nắm giữ. Lãnh đạo công cụ là kiểu lãnh đạo nhấn mạnh vào việc hoàn thành nhiệm vụ của một nhóm xã hội. Các thành viên trong nhóm tìm đến những người lãnh đạo công cụ để "hoàn thành mọi việc". Mặt khác, lãnh đạo biểu cảm là lãnh đạo nhấn mạnh đến phúc lợi tập thể của thành viên trong nhóm xã hội. Lãnh đạo biểu cảm ít quan tâm đến mục tiêu chung của nhóm hơn là cung cấp hỗ trợ về mặt tình cảm cho các thành viên trong nhóm và cố gắng giảm thiểu căng thẳng và xung đột giữa họ. Các thành viên trong nhóm mong đợi các nhà lãnh đạo biểu cảm duy trì các mối quan hệ ổn định trong nhóm và hỗ trợ từng thành viên.
Các nhà lãnh đạo công cụ có thể có mối quan hệ thứ yếu với các thành viên khác trong nhóm. Họ ra lệnh và có thể kỷ luật các thành viên trong nhóm cản trở việc đạt được mục tiêu của nhóm. Các nhà lãnh đạo biểu cảm vun đắp mối quan hệ cá nhân hoặc chính yếu hơn với những người khác trong nhóm. Họ thể hiện sự cảm thông khi ai đó gặp khó khăn hoặc phải chịu kỷ luật, nhanh chóng làm dịu đi khoảnh khắc nghiêm trọng bằng sự hài hước và cố gắng giải quyết các vấn đề đe dọa chia rẽ nhóm. Như sự khác biệt trong hai vai trò này cho thấy, các nhà lãnh đạo biểu cảm thường nhận được nhiều tình cảm cá nhân hơn từ các thành viên trong nhóm; các nhà lãnh đạo công cụ, nếu họ thành công trong việc thúc đẩy các mục tiêu của nhóm, có thể được tôn trọng hơn.