Nhận thức về tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác và đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác ở Việt Nam hiện nay
Nhận thức về tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác
Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác
Danh dự, nhân phẩm của con người là những yếu tố về tinh thần, bao gồm phẩm giá, giá trị, sự tôn trọng, tình cảm yêu mến của những người xung quanh, của xã hội đối với người đó.
Hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người là làm cho người đó bị xúc phạm, tổn thương về tinh thần và xấu hổ đối với những người xung quanh, người trong gia đình, tập thể, trong nhân dân, trong xã hội tùy thuộc vào vị thế, vai trò và nhiệm vụ, tuổi tác của người đó và mức độ của hành vi phạm tội.
Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm và danh dự được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ”
Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Khách thể của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Mặt khách quan của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
+ Chủ thể của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người
+ Mặt chủ quan của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
Phân loại các tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm ̣
Các tội xâm phạm tình dục. Nhóm tội này gồm các tội sau: Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi; Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.
Các tội mua bán người: Nhóm tội này gồm: Tội mua bán người (chủ yếu là tội mua bán phụ nữ, trẻ em); Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Tội đánh tráo người dưới 1 tuổi; Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.
Các tội làm nhục người khác: Nhóm tội này gồm: Tội làm nhục người khác; Tội vu khống; Tội hành hạ người khác.
Nhóm tội khác như: Tội lây truyền HIV cho người khác; Tội cố ý truyền HIV cho người khác; Tội chống người thi hành công vụ.
Lý do: Các hành vi phạm tội lây truyền HIV cho người khác và cố ý truyền HIV cho người khác làm tổn thương đến sức khoẻ của người khác, bên cạnh đó, các hành vi phạm tội này còn làm ảnh hưởng đến tinh thần của nạn nhân. Trên thực tế, nạn nhân của những hành vi phạm tội này sẽ bị nhiễm HIV, vì thế họ mang tâm lý mặc cảm, lo sợ người khác kỳ thị; khi bị cộng đồng, tập thể, gia đình phát hiện HIV, bản thân nạn nhân khó chứng minh bản thân là nạn nhân của các hành vi phạm tội trên mà thường bị quy chụp là “vi phạm các tệ nạn xã hội” (như quan hệ tình dục với người hành nghề mại dâm hoặc sử dụng ma tuý). Chính những hệ luỵ của hành vi phạm tội này đã làm cho nạn nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bản thân họ. Do đó, tội lây truyền HIV cho người khác; tội cố ý truyền HIV cho người khác và tội chống người thi hành công vụ vẫn được xếp vào nhóm các tội xâm phạm danh dự nhân phẩm của con người.
Nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội danh dự, nhân phẩm
Sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường, bên
cạnh những mặt ưu điểm cũng bộc lộ nhiều mặt trái trở thành những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, đó là:
+ Hình thành lối sống hưởng thụ xa hoa, trụy lạc của một bộ phận người trong xã hội.
+ Đã làm xuống cấp nhiều mặt về văn hoá, đạo đức, lối sống làm mất đi truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
+ Đẩy mạnh tốc độ phân tầng xã hội, tạo ra sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc, một bộ phận giàu lên nhanh chóng trong đó có một số người làm giàu bất chính từ đó dẫn đến phạm tội, mặt khác không ít người không có tư liệu sản xuất phải ra thành phố, thị xã làm thuê kiếm sống bị tác động bởí những hiện tượng tiêu cực dễ dẫn đến phạm tội.
Tác động trực tiếp, toàn diện của những hiện tượng xã hội tiêu cực do chế độ cũ để lại:
+ Hậu quả của chế độ thực dân, đế quốc cùng với chiến tranh kéo dài trong nhiều năm đã phá hoại cơ sở vật chất, hình thành lối sống hưởng thụ, tư tưởng tham lam, ích kỉ, sa đoạ truy lạc trong một bộ phận nhân dân.
+ Tư tưởng trọng nam, coi thường phụ nữ ; những tác động tiêu cực, tàn dư của chế độ xã hội cũ còn tồn tại lâu dài tác động vào đời sống xã hội làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong đó có tội phạm.
Sự thâm nhập ảnh hưởng của tội phạm, tệ nạn xã hội của các quốc gia khác.
Những sơ hở, thiếu sót trong các mặt công tác quản lí của Nhà nước, các cấp, các ngành bao gồm: sơ hở thiếu sót trong quản lí con người, quản lí văn hoá, quản lí nghề nghiệp kinh doanh...
Những thiếu sót trong giáo dục đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ văn hoá của người dân.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật kém hiệu quả, một số chính sách về kinh tế, xã hội chậm đổi mới tạo sơ hở cho tội phạm hoạt động phát triển. Sự chậm đổi mới chủ trương chính sách về kinh tế xã hội và pháp luật đã bộc lộ những sơ hở khiến cho một số đối tượng lợi dụng để hoạt động phạm tội.
Công tác đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan chức nãng nói chung và của ngành công an nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu sót; thể hiện trên các mặt:
+ Trình độ nghiệp vụ, pháp luật của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn dẫn đến hữu khuynh né tránh, thậm chí có một số cán bộ biến chất, tiếp tay cho tội phạm, buông lỏng công tác đấu tranh trấn áp tội phạm.
+ Mối quan hệ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thực sự đồng bộ, thiếu thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật còn chưa tốt.
+ Số vụ phát hiện, điều tra ít hơn so với thực tế tội phạm xảy ra, tội phạm ẩn còn nhiều.
+ Hoạt động điều tra, xử lí tội phạm chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, xử lí chưa nghiêm minh.
+ Hệ thống tổ chức bộ máy, phân công chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và trong nội bộ từng cơ quan chưa thực sự khoa học, hiệu quả vận hành chưa cao.
Công tác quản lí Nhà nước về an ninh trật tự còn bộc lộ nhiều sơ hở. Công tác giáo dục cải tạo chưa xoá bỏ được tư tưởng phạm tội của các đối tượng, số đối tượng phạm tội trở lại còn nhiều.
Phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống tội phạm ở một số nơi chưa thực sự mạnh mẽ, chưa hiệu quả. Chưa phát huy được sức mạnh của quần chúng trong công tác giáo dục, cải tạo và tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội.
Biện pháp phòng, chống tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường thực thi
Cập nhật, hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và dân sự: Cụ thể hóa rõ hơn hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm qua mạng xã hội, livestream, tin nhắn, hình ảnh, nhằm xử lý kịp thời những hành vi mới phát sinh.
Tăng nặng mức xử phạt hành vi có tính chất lăng mạ, xúc phạm người khác công khai, đặc biệt là trên không gian mạng, gây hậu quả lớn về tâm lý và xã hội.
Tăng cường xử lý nghiêm minh và công khai các vụ việc điển hình để răn đe và tuyên truyền trong cộng đồng.
Tăng cường giáo dục đạo đức, pháp luật trong xã hội
Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, kỹ năng ứng xử, và ý thức pháp luật trong trường học, gia đình và cộng đồng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên – nhóm dễ phát sinh hành vi xúc phạm, bạo lực ngôn ngữ trên mạng.
Tổ chức các chiến dịch truyền thông xã hội nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền nhân thân, quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm theo pháp luật.
Phổ biến kiến thức pháp luật thông qua các nền tảng mạng xã hội, video ngắn, infographics dễ hiểu, dễ lan tỏa.
Quản lý, giám sát và xử lý vi phạm trên không gian mạng
Tăng cường kiểm duyệt, cảnh báo và gỡ bỏ nội dung xúc phạm, vu khống trên mạng xã hội thông qua phối hợp với các nền tảng như Facebook, TikTok, YouTube…
Tăng năng lực của các cơ quan chức năng về kỹ thuật số để theo dõi, thu thập chứng cứ điện tử, phục vụ điều tra, xử lý tội phạm mạng.
Khuyến khích cá nhân bị xúc phạm tố cáo và yêu cầu bảo vệ quyền lợi, đồng thời cung cấp các kênh tiếp nhận tố giác đơn giản, hiệu quả.
Nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng
Gia đình và nhà trường cần quan tâm giáo dục con trẻ về giá trị của sự tôn trọng, đồng cảm, kỹ năng tự bảo vệ khi bị xúc phạm.
Phát triển các chương trình kỹ năng sống, ứng xử văn minh trên mạng trong trường học.
Xây dựng môi trường văn hóa ứng xử tích cực, đẩy lùi văn hóa “bêu rếu”, “ném đá”, “miệt thị công khai” vốn đang lan rộng trên mạng.
Hỗ trợ tâm lý và pháp lý cho nạn nhân
Xây dựng các trung tâm tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý cho nạn nhân bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, nhất là qua mạng.
Hướng dẫn người dân cách thu thập bằng chứng, bảo vệ quyền lợi cá nhân khi bị xúc phạm, bôi nhọ.
Cung cấp đường dây nóng, nền tảng báo cáo nhanh để giúp nạn nhân kịp thời được hỗ trợ, tránh tổn thương tâm lý kéo dài.