Một trong những phương pháp thường được dùng để xác định độc tính của một hợp chất đối với một loại tế bào là thử nghiệm MTT được tiến hành sau khi nuôi cấy tế bào đến mật độ cao (các tế bào
Phản ứng chuyển MTT thành MTT formazan là phản ứng oxy hóa khử. |
Vì phản ứng này được xúc tác bởi enzyme succinate dehydrogenase là enzyme trực tiếp xúc tác các phản ứng oxy hóa khử của chu trình Krebs và chuỗi chuyển điện tử hô hấp. |
Nồng độ MTT formazan trong mẫu nuôi cấy đo được từ thử nghiệm MTT càng cao thì tỷ lệ sống sót của tế bào càng cao. |
Vì enzyme succinate dehydrogenase là enzyme màng trong ty thể và không thể duy trì hoạt tính nếu bị tách ra khỏi màng trong tự nhiên à phản ứng chỉ có thể xảy ra khi ty thể của tế bào còn nguyên vẹn và các điều kiện nội bào là bình thường để enzyme |
hoạt động à càng nhiều tế bào còn sống bình thường thì lượng MTT formazan tạo ra càng nhiều. |
Sắp xếp theo IC50 đối với MRC-5 (dòng tế bào phổi bình thường): 58 < 60 < 59 |
Hợp chất 58 có tiềm năng kháng ung thư phổi cao nhất. |
Hợp chất này có giá trị IC50 đối với tế bào ung thư phổi (A549) rất thấp, nghĩa là có tác động ức chế mạnh sự tăng sinh của tế bào ung thư ngay cả ở nồng độ rất thấp. |
Hợp chất này có giá trị IC50 đối với tế bào ung thư phổi (A549) thấp hơn rất nhiều lần (lên đến hàng trăm lần) so với tế bào phổi bình thường (MRC-5) à có sự chọn lọc trong tác động ức chế tăng sinh, ảnh hưởng mạnh lên tế bào ung thư phổi hơn so với tế bào bình thường à có thể sử dụng cho điều trị nhắm mục tiêu vào các tế bào ung thư. |

