Một nhóm học sinh tiến hành thí nghiệm đo sự phụ thuộc của áp suất khí p vào nhiệt độ tuyệt đối T của một lượng khí xác định. Thí nghiệm được bố trí như hình vẽ: Bình chứa không khí A có thể
a) SAI
Ta có nhiệt độ tuyệt đối \(T = t + 273\). Lập tỉ số \(\frac{p}{T}\) cho 5 lần đo:
Lần 1: \(\frac{{760 + 152}}{{25 + 273}} \approx 3,06\)
Lần 2: \(\frac{{760 + 159}}{{32 + 273}} \approx 3,01\)
Lần 3: \(\frac{{760 + 184}}{{40 + 273}} \approx 3,02\)
Lần 4: \(\frac{{760 + 218}}{{50 + 273}} \approx 3,03\)
Lần 5: \(\frac{{760 + 256}}{{62 + 273}} \approx 3,03\)
Trung bình tỉ số \(\frac{p}{T}\) vào khoảng \(3,03{\rm{mmHg}}/{\rm{K}}\) (Sai)
b) ĐÚNG
Tại nhiệt độ \({40^ \circ }{\rm{C}}\) (Lần đo 3), độ chênh lệch cột thủy ngân là \({\rm{\Delta }}h = 184{\rm{\;mm}}\). Áp suất khí trong bình là: \(p = {p_0} + {\rm{\Delta }}h = 760 + 184 = 944{\rm{mmHg}}\)
c) SAI
Áp dụng phương trình trạng thái khí lí tưởng \(pV = \frac{m}{\mu }RT\),
ta có công thức tính khối lượng: \(m = \frac{{pV\mu }}{{RT}}\).
Lấy dữ liệu ở lần đo thứ 3 để tính thử:
\(m = \frac{{944.3,5.29}}{{62,36.\left( {40 + 273} \right)}} \approx 4,91{\rm{\;g}}\)
d) ĐÚNG
Trong thiết kế của nhiệt kế khí đẳng tích, ống dẫn khí cần có thể tích rất nhỏ so với bình chứa (bình A). Việc này giúp giảm thiểu sai số, lượng khí nằm ngoài khu vực kiểm soát nhiệt độ (bình B) là không đáng kể, do đó hoàn toàn có thể coi thể tích tổng cộng của lượng khí đang xét là không thay đổi trong suốt quá trình đun nóng.
