Câu hỏi ôn thi tốt nghiệp THPT môn Sinh học Nucleic acid và cơ chế nhân đôi có đáp án

Một nhà khoa học nghiên cứu một đoạn DNA. Trong hỗn hợp mẫu ban đầu, có hai đoạn DNA mạch kép. Sau khi xử lý và phân tích thành phần nitrogenous base ở mỗi đoạn DNA,

57/74

Một nhà khoa học nghiên cứu một đoạn DNA. Trong hỗn hợp mẫu ban đầu, có hai đoạn DNA mạch kép. Sau khi xử lý và phân tích thành phần nitrogenous base ở mỗi đoạn DNA, người ta xác định được đoạn mạch làm khuôn cho phiên mã. Sau đó, người ta lấy DNA đó cho vào ba ống nghiệm (A, B, C) có thành phần nucleotide khác nhau, rồi bổ sung protein cần thiết cho quá trình phiên mã.

Bảng 4 số liệu cho biết số lượng từng loại nitrogenous base của các đoạn DNA đơn (I và II) và số lượng từng loại nucleotide của mRNA tham gia dịch mã trong các ống nghiệm A, B, C.

Một nhà khoa học nghiên cứu một đoạn DNA. Trong hỗn hợp mẫu ban đầu, có hai đoạn DNA mạch kép. Sau khi xử lý và phân tích thành phần nitrogenous base ở mỗi đoạn DNA,  (ảnh 1)

a

DNA đơn I và DNA đơn II là các mạch đơn của cùng phân tử DNA mạch kép.

ĐúngSai
b

Mạch DNA đơn I là mạch được dùng làm khuôn cho quá trình phiên mã.

ĐúngSai
c

Ống nghiệm chứa các nucleotide có khả năng tạo ra cả mã mở đầu và mã kết thúc cho mRNA được tổng hợp từ DNA mạch khuôn là ống nghiệm B.

ĐúngSai
d

Nếu ống nghiệm A chứa các nucleotide có khả năng tạo ra mã kết thúc thì có thể ống nghiệm này chỉ gồm ba loại nucleotide là A, U và C.

ĐúngSai
Giải thích

a) Đúng.

Vì DNA đơn I và II là hai mạch bổ sung

b) Sai.

Vì mạch khuôn là DNA đơn II

c) Sai.

Vì mRNA ống nghiệm C mới được tạo ra từ DNA mạch đơn II và có chứa A, U, G, C nên có khả năng tạo mã mở đầu và mã kết thúc. Còn ống nghiệm C mRNA không được tạo ra từ mạch khuôn của DNA.

d) Sai.

Vì phải có A, U, G mới tạo ra được các bộ ba kết thúc: UAA, UAG, UGA.