Một nhà khoa học nghiên cứu một đoạn DNA. Trong hỗn hợp mẫu ban đầu, có hai đoạn DNA mạch kép. Sau khi xử lý và phân tích thành phần nitrogenous base ở mỗi đoạn DNA
13/18
II. Phần 2. Câu trắc nghiệm đúng sai. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 4. Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, thí sinh chọn đúng hoặc sai.
Một nhà khoa học nghiên cứu một đoạn DNA. Trong hỗn hợp mẫu ban đầu, có hai đoạn DNA mạch kép. Sau khi xử lý và phân tích thành phần nitrogenous base ở mỗi đoạn DNA, người ta xác định được đoạn mạch làm khuôn cho phiên mã. Sau đó, người ta lấy DNA đó cho vào ba ống nghiệm (A, B, C) có thành phần nucleotide khác nhau, rồi bổ sung protein cần thiết cho quá trình phiên mã. Ở Bảng 4 cho biết số lượng từng loại nitrogenous base của các đoạn DNA đơn I, DNA đơn II và số lượng từng loại nucleotide của mRNA tham gia dịch mã trong các ống nghiệm A, B, C.
| Bảng 4 |
| |||
Loại nitrogeneous base | A | G | C | T | U |
DNA đơn I | 19 | 26 | 31 | 24 | 0 |
DNA đơn II | 24 | 31 | 26 | 19 | 0 |
mRNA từ ống nghiệm A | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 |
mRNA từ ống nghiệm B | 15 | 18 | 24 | 0 | 20 |
mRNA từ ống nghiệm C | 19 | 26 | 31 | 0 | 24 |
Mỗi nhận định sau đây đúng hay sai?
Ống nghiệm chứa các nucleotide có khả năng tạo ra cả mã mở đầu và mã kết thúc cho mRNA được tổng hợp từ DNA mạch khuôn là ống nghiệm B.
DNA đơn I và DNA đơn II là các mạch đơn của cùng phân tử DNA mạch kép.
Mạch DNA đơn I là mạch được dùng làm khuôn cho quá trình phiên mã.
Nếu ống nghiệm A chứa các nucleotide có khả năng tạo ra mã kết thúc thì có thể ống nghiệm này chỉ gồm ba loại nucleotide là A, U và C.
SDSS