Lỗi là gì? Phân tích ý nghĩa pháp lý của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Bao gồm hai hình thức lỗi là lỗi cố ý (nhận thức rõ hành vi gây thiệt hại, nhưng vẫn thực hiện hành vi, mong muốn hậu quả xảy ra) và lỗi vô ý (dù nhìn thấy trước hành vi xảy ra gây thiệt hại nhưng cho rằng có thể ngăn chặn được, hoặc không xảy ra)
Ý NGHĨA PHÁP LÝ CỦA YẾU TỐ LỖI
- Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Lỗi là yếu tố cần phải xem xét khi xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm dân sự nói riêng. Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây ra thiệt hại có lỗi, bất kể là lỗi vô ý hay cố ý.
Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi theo quy định tại Điều 601 (Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy cơ cao), Điều 604 (Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra), Điều 605, BLDS 2015 (Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra). Những trường hợp này được coi là trách nhiệm khách quan của chủ sở hữu mà pháp luật quy định dựa trên nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu.
Vấn đề mới của BLDS 2015 là “lỗi suy đoán”, có nghĩa là gây thiệt hại là có lỗi mà không cần phải chứng minh. Người gây thiệt hại chứng minh rằng do bất kháng, do lỗi cố ý của người bị thiệt hại có nghĩa là họ không có lỗi cho nên không phải bồi thường. Tuy nhiên, trong trách nhiệm dân sự cụ thì yếu tố lỗi có thể được xác định cụ thể nhưng cũng có thể suy đoán là lỗi cố ý hoặc vô ý ( Điều 364 BLDS).
Ví dụ, A và C cùng đi nhậu tại một cửa hàng. A say rượu và đập phá, gây thiệt hại cho cửa hàng của B. Trong trường hợp này , nếu A say rượu do nguyên nhân là tự uống say và gây ra thiệt hại thì A sẽ phải bồi thường thiệt hại cho cửa hàng B ( theo Khoản 1 Điều 596) do thiệt hại do hành vi có lỗi của A gây ra.
Tuy nhiên trong trường hợp này, nếu A là một người bị chứng say rượu bệnh lý và bị C ( Biết A bị chứng bệnh này nhưng vẫn cố ý khiến A say) ép A uống rượu say thì trong trường hợp này, căn cứ theo Khoản 2 Điều 596 BLDS 2015, thì C là người bồi thường thiệt hại cho B
- Lỗi có ý nghĩa trong việc xét giảm mức bồi thường thiệt hại
Mức bồi thường thiệt hại chỉ được giảm khi đáp ứng được đồng thời hai điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 585. “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. - ( thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó)
Nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi việc gây thiệt hại có đủ hai yếu tố:
+ Về mặt chủ quan: Người có hành vi trái pháp luật, không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết trước hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc đã thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng do cẩu thả hoặc quá tự tin cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được nên đã thực hiện hành vi đó và gây ra thiệt hại ngoài mong muốn của mình ( lỗi vô ý)
+Về mặt khách quan: xét về hoàn cảnh hiện tại cũng như lâu dài. Người gây thiệt hại không có khả năng kinh tế để bồi thường toàn bộ thiệt hại vì thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.