Hoàn cảnh lịch sử (những thuận lợi, khó khăn) của VN sau năm 1975 và quá trình hình thành đường lối đổi mới. Những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội 6 đặt ra (12/1986) ?
Những thuận lợi của Việt Nam sau năm 1975
Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhân dân ta có tinh thần tự lực, tự cường, thiết tha với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí rất cao đối với vấn đề xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.
Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại đang diễn ra, tạo điều kiện cho chúng ta tận dụng được nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời gian trong quá trình phát triển.
Những thành công và không thành công trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ở những nước xã hội chủ nghĩa giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Những khó khăn của Việt Nam sau năm 1975
Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, năng suất lao động thấp, lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm.
Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình.
Các thế lực thù địch chống phá.
Tình hình quốc tế có nhiều biến động. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, gây tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng trên thế giới và cách mạng Việt Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều vấp váp và mô hình chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều khuyết tật mà những khuyết tật đó chưa được Đảng ta nhận thức đầy đủ ở những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Hoàn cảnh lịch sử
Từ năm 1980 trở đi, xu thế trên thế giới chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại.
Các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu đều đã và đang tiến hành những hoạt động cải cách kinh tế để khắc phục những khiếm khuyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam, sau hơn một thập kỷ (1975–1985) vừa phát triển kinh tế, vừa tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhưng khó khăn cũng chồng chất. Đất nước từ giữa những năm 80 lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nặng nề, chưa ổn định được tình hình kinh tế – xã hội như mục tiêu mà Đại hội V đề ra.
Đại hội VI đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam là đổi mới (tìm biện pháp, bước đi đúng để xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn).
Nội dung cơ bản của Đại hội VI
Đại hội VI kiểm điểm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Báo cáo chính trị của Đại hội đã chỉ ra những thành tựu ta đạt được và chỉ ra tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng kinh tế – xã hội, tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận, chậm tổng kết kinh nghiệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong công tác chậm thực hiện đổi mới cán bộ.
Đại hội VI rút ra 4 bài học kinh nghiệm:
Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, chăm lo xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự đúng đắn của Đảng.
Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.
Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta.
Mục tiêu tổng quát
“Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội. Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếp theo.”
Năm mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tạo ra bước chuyển biến tốt về mặt xã hội (trên các lĩnh vực tạo việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương).
Đảm bảo nhu cầu quốc phòng và an ninh.
Hệ thống giải pháp – những quan điểm mới trong lĩnh vực kinh tế
1. Bố trí cơ cấu sản xuất
Điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chương trình về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (đây cũng là nội dung của đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên).
2. Về cải tạo xã hội chủ nghĩa
Cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hình thức và bước đi thích hợp; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất.
Công nhận nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, coi chủ trương phát triển nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài và là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
3. Về cơ chế quản lý kinh tế
Xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp; xây dựng cơ chế mới (cơ chế thị trường) phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước cho phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ chế quản lý mới.
4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Coi phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực của chủ nghĩa xã hội, động viên và tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế và quản lý xã hội, tham gia cải cách kinh tế.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế
Mở rộng hợp tác quốc tế trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.
Ý nghĩa của Đại hội VI
Đại hội VI đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc.
Thành công của Đại hội là sức mạnh mới, là cơ sở hết sức quan trọng trong việc tăng cường đoàn kết, thống nhất giữa toàn Đảng, toàn dân.