Hình vẽ dưới đây cho thấy một dây chuyền được sử dụng để duy trì độ dày không đổi của tờ giấy hoặc thép khi nó đang được cán. Một nguồn phóng xạ và máy dò được sừ dụng để theo dõi độ dày. \(
a) Khi vật liệu càng dày sẽ cản trở chuyển động của các chạt thì máy đếm sẽ thu được ít hạt phóng xạ hơn.
Chọn ĐÚNG.
b) Tia phóng xạ \(\alpha \) có khả năng đâm xuyên yếu nên không phù hợp để kiểm tra độ dày của vật liệu.
Chọn SAI.
c) Số nguyên tử cobalt trong mẫu phóng xạ ban đầu xấp là \({5.10^{23}}\) hạt. Lấy khối lượng mol của cobalt là \(60{\rm{\;g}}/{\rm{mol}}\).
\(N = n \cdot {N_A} = \frac{m}{M} \cdot {N_A} = \frac{{49,83 \cdot {{10}^{ - 3}}}}{{60}} \cdot 6,02 \cdot {10^{23}} \approx 5 \cdot {10^{20}}\) hạt
Chọn SAI.
d) Để mẫu cobalt còn sử dụng được thì nguồn phải có hoạt độ phóng xạ ít nhất là \(1,{5.10^{12}}{\rm{\;Bq}}\), nguồn phóng xạ trên có thể sử dụng trong thời gian tối đa là \(2,5\) năm.
\(H = \lambda N = \frac{{\ln 2}}{T} \cdot {N_o} \cdot {2^{ - \frac{t}{T}}} \Rightarrow 1,5 \cdot {10^{12}} = \frac{{\ln 2}}{{5,3 \cdot 365 \cdot 24 \cdot 3600}} \cdot 5 \cdot {10^{20}} \cdot {2^{ - \frac{t}{{5,3}}}} \Rightarrow t \approx 2,5\) năm
Chọn SAI.
