31 bài tập Tính xác suất bằng cách sử dụng công thức xác suất toàn phần (có lời giải)

Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nhẵn, có hai gene ứng với hai kiểu hình này là gene trội B và gene lặn b.

17/31

Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nhẵn, có hai gene ứng với hai kiểu hình này là gene trội B và gene lặn b.

Khi cho lai hai cây đậu Hà Lan, cây con lấy ngẫu nhiên một cách độc lập một gene từ cây bố và một gene từ cây mẹ để hình thành một cặp gene. Giả sử cây bố và cây mẹ được chọn ngẫu nhiên từ một quần thể các cây đậu Hà Lan, ở đó tỉ lệ cây mang kiểu gene \({\rm{bb}},{\rm{Bb}}\) tương ứng là \(40\% \) và \(60\% \).

a) Hãy ước lượng tỉ lệ cây con có kiểu gene BB.

b) Sử dụng kết quả của vận dụng trên và câu a, hãy ước lượng tỉ lệ cây con có kiểu gene Bb .

0/3000 ký tự
Giải thích

a) Gọi A là biến cố: "Cây bố có kiểu gene bb";

K là biến cố: "Cây con nhận gene B từ bố";

H là biến cố: "Cây con nhận gene B từ mẹ";

F là biến cố: "Cây con có kiểu gene BB ".

Theo giả thiết, \(K\) và \(H\) độc lập nên \(P(F) = P(K) \cdot P(H)\).

Ta tính \({\rm{P}}({\rm{K}})\) theo công thức xác suất toàn phần:

\({\rm{P}}({\rm{K}}) = {\rm{P}}({\rm{A}}) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}}) + {\rm{P}}(\bar A) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A){\rm{. (1) }}\)

Ta có \({\rm{P}}({\rm{A}}) = 0,4;{\rm{P}}(\bar A) = 0,6\).

\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}})\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene bb.

Vậy \(P(K\mid A) = 0\).

\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A)\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene $B b$.

Vậy \({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A) = 0,5\).

Thay vào (2) ta được \(P(K) = 0,4 \cdot 0 + 0,6 \cdot 0,5 = 0,3\).

Tương tự tính được \({\rm{P}}({\rm{H}}) = 0,3\).

Vậy \(P(F) = P(K) \cdot P(H) = 0,3 \cdot 0,3 = 0,09\).

Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene BB là khoảng \(9\% \).

b) Gọi G là biến cố: "Cây con có kiểu gene Bb".

Vì \(\bar G = E \cup F\) và hai biến cố \({\rm{E}},{\rm{F}}\) xung khắc nên

\({\rm{P}}(\bar G) = {\rm{P}}({\rm{E}}) + {\rm{P}}({\rm{F}}) = 0,49 + 0,09 = 0,58\)

Vậy \({\rm{P}}({\rm{G}}) = 1 - {\rm{P}}(\bar G) = 1 - 0,58 = 0,42\).

Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene Bb là khoảng \(42\% \).