Hình dạng hạt của đậu Hà Lan có hai kiểu hình: hạt trơn và hạt nhẵn, có hai gene ứng với hai kiểu hình này là gene trội B và gene lặn b.
a) Gọi A là biến cố: "Cây bố có kiểu gene bb";
K là biến cố: "Cây con nhận gene B từ bố";
H là biến cố: "Cây con nhận gene B từ mẹ";
F là biến cố: "Cây con có kiểu gene BB ".
Theo giả thiết, \(K\) và \(H\) độc lập nên \(P(F) = P(K) \cdot P(H)\).
Ta tính \({\rm{P}}({\rm{K}})\) theo công thức xác suất toàn phần:
\({\rm{P}}({\rm{K}}) = {\rm{P}}({\rm{A}}) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}}) + {\rm{P}}(\bar A) \cdot {\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A){\rm{. (1) }}\)
Ta có \({\rm{P}}({\rm{A}}) = 0,4;{\rm{P}}(\bar A) = 0,6\).
\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid {\rm{A}})\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene bb.
Vậy \(P(K\mid A) = 0\).
\({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A)\) là xác suất để cây con nhận gene B từ bố với điều kiện bố có kiểu gene $B b$.
Vậy \({\rm{P}}({\rm{K}}\mid \bar A) = 0,5\).
Thay vào (2) ta được \(P(K) = 0,4 \cdot 0 + 0,6 \cdot 0,5 = 0,3\).
Tương tự tính được \({\rm{P}}({\rm{H}}) = 0,3\).
Vậy \(P(F) = P(K) \cdot P(H) = 0,3 \cdot 0,3 = 0,09\).
Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene BB là khoảng \(9\% \).
b) Gọi G là biến cố: "Cây con có kiểu gene Bb".
Vì \(\bar G = E \cup F\) và hai biến cố \({\rm{E}},{\rm{F}}\) xung khắc nên
\({\rm{P}}(\bar G) = {\rm{P}}({\rm{E}}) + {\rm{P}}({\rm{F}}) = 0,49 + 0,09 = 0,58\)
Vậy \({\rm{P}}({\rm{G}}) = 1 - {\rm{P}}(\bar G) = 1 - 0,58 = 0,42\).
Vậy tỉ lệ cây con có kiểu gene Bb là khoảng \(42\% \).