Hình 13 mô tả một đoạn NST từ tế bào tuyến nước bọt của ấu trùng ruồi giấm có 6 băng (kí kiệu từ 1 đến 6) tương ứng với 6 locus gene khác nhau chưa biết trật tự trên NST (kí hiệu từ A đến F).
35/45
Hình 13 mô tả một đoạn NST từ tế bào tuyến nước bọt của ấu trùng ruồi giấm có 6 băng (kí kiệu từ 1 đến 6) tương ứng với 6 locus gene khác nhau chưa biết trật tự trên NST (kí hiệu từ A đến F). Các nhà nghiên cứu đã phân lập được 5 thể dị hợp tử về đột biến mất đoạn NST (từ I đến V) xuất phát từ một dòng ruồi giấm mang kiểu gene đồng hợp kiểu dại ở tất cả 6 locus gene. Khi tiến hành lai giữa mỗi thể đột biến mất đoạn (từ I đến V) với cùng một dòng ruồi giấm đồng hợp về các đột biến lặn tại cả 6 locus gene (kí hiệu từ a đến f) thu được kết quả ở Bảng B.
a
Đột biến mất đoạn NST có thể giúp xác định được vị trí của gene trên NST.
ĐúngSai
b
Đoạn mất I chứa 3 locus A, D và F.
ĐúngSai
c
Trình tự các locus gene là A - B - E - C - D - F.
ĐúngSai
d
Khi lai giữa hai dòng ruồi giấm đột biến III và IV, thu được 75% hợp tử sống sót, có thể khi bị mất hoàn toàn locus gene F thì hợp tử không phát triển.