Đề ôn thi ĐGNL Đại học Sư phạm Hà Nội môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 4

Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của sự khiêm tốn trong giao tiếp.

Giải thích

Tiêu chí đánh giá

Thang điểm

Nội dung

Tổ chức đoạn văn nghị luận

Từ vựng, ngữ pháp

Thể hiện được đầy đủ các tiêu chí, nội dung đánh giá:

(1) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của sự khiêm tốn trong giao tiếp. Hiểu đúng tinh thần câu nói của Socrates: không biết không đáng trách, điều đáng phê phán là giả vờ hiểu biết, tự cao, thiếu trung thực trong giao tiếp và học tập. (0,25 điểm)

(2) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

- Giải thích: Khiêm tốn là biết nhìn nhận đúng bản thân, không tự đề cao mình, luôn cầu thị, sẵn sàng học hỏi và lắng nghe người khác. Trong giao tiếp, khiêm tốn thể hiện ở thái độ chân thành, biết thừa nhận điều mình chưa biết và tôn trọng ý kiến của người khác. (0,25 điểm)

- Đưa ra các ý triển khai và các dẫn chứng để bàn luận (1,25 điểm):

+ Khiêm tốn giúp con người: dễ dàng tiếp thu tri thức mới; hoàn thiện bản thân; xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp; tạo được sự tin tưởng và tôn trọng từ người khác.

+ Người luôn cho rằng mình biết tất cả sẽ: khó tiếp thu góp ý; dễ mắc sai lầm; đánh mất cơ hội học hỏi; gây phản cảm trong giao tiếp.

+ Trong xã hội hiện nay, sự phát triển của mạng xã hội khiến nhiều người có xu hướng phát ngôn thiếu kiểm chứng, thể hiện mình am hiểu mọi vấn đề. Điều đó càng cho thấy giá trị của đức tính khiêm tốn và tinh thần cầu thị.

+ Có thể sử dụng các dẫn chứng tiêu biểu:

Socrates với quan niệm: “Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn học hỏi nhân dân.

Những nhà khoa học lớn luôn coi tri thức của mình chỉ là một phần rất nhỏ của thế giới.

+ Mở rộng, phản đề:

Phê phán: thói kiêu ngạo; sĩ diện; khoe khoang hiểu biết; nói những điều mình không hiểu.

Phân biệt: Khiêm tốn không đồng nghĩa với tự ti hay phủ nhận năng lực của bản thân. Khiêm tốn là biết đúng giá trị của mình và luôn có tinh thần học hỏi.

(3). Khẳng định và rút ra bài học: Khiêm tốn là một phẩm chất quan trọng của người có văn hóa. Trong học tập, công việc và giao tiếp, mỗi người cần: biết lắng nghe; dám thừa nhận điều chưa biết; không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân… (0,25 điểm)

(Lưu ý: Thí sinh có thể có trình bày và triển khai các ý khác với các tiêu chí đánh giá như trên nhưng phải thể hiện được những lập luận sâu sắc, thuyết phục: thái độ, thông điệp tích cực, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật).

- Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn có dung lượng khoảng 200 chữ, có thể trình bày theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hay song hành.

- Đảm bảo mạch lạc, liên kết giữa các câu trong đoạn:

+ Các câu trong đoạn tập trung vào thể hiện rõ vấn đề nghị luận.

+ Các ý triển khai (phát triển chi tiết) hài hòa (không bị mắc lỗi loãng ý hay thiếu hụt ý).

+ Các câu trong đoạn liên kết chặt chẽ.

- Từ ngữ, kiểu câu trong đoạn văn sinh động, phù hợp, sắc bén.  

2,0

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, triển khai cơ bản hợp lí, đưa ra được những dẫn chứng nhưng chưa cập nhật, xác đáng.

Cơ bản đảm bảo được mạch lạc và liên kết trong đoạn.

Có một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

1,5

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, triển khai chung chung, dẫn chứng không thật xác đáng.

Có lỗi mạch lạc hoặc lỗi liên kết câu trong đoạn.

Có một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

1,0

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận nhưng các ý triển khai sơ sài, không có dẫn chứng.

Không đảm bảo mạch lạc và liên kết trong đoạn.

Có nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,5

Không viết đoạn hoặc nội dung của đoạn văn không liên quan đến yêu cầu của đề bài.

0