Đọc đoạn thông tin sau: Năm 2025, anh S vừa tốt nghiệp đại học và mở một cửa hàng kinh doanh nông sản tại địa phương. Để có vốn đầu tư, anh S vay 400 triệu đồng từ ngân hàng sau khi xây dựng
15/18
Đọc đoạn thông tin sau:
Năm 2025, anh S vừa tốt nghiệp đại học và mở một cửa hàng kinh doanh nông sản tại địa phương. Để có vốn đầu tư, anh S vay 400 triệu đồng từ ngân hàng sau khi xây dựng kế hoạch kinh doanh và chứng minh khả năng trả nợ. Toàn bộ số tiền vay được anh sử dụng để thuê mặt bằng, mua thiết bị bảo quản và nhập hàng. Do muốn mở rộng cửa hàng, anh S dự định vay thêm tiền. Tuy nhiên, chị H – kế toán của cửa hàng – nhận thấy doanh thu của cửa hàng chưa ổn định nên khuyên anh cần đánh giá khả năng trả nợ trước khi tiếp tục vay. Trong khi đó, anh M thấy việc vay vốn của S mang lại hiệu quả nên cho rằng càng vay nhiều tiền thì khả năng thành công càng lớn và người vay không cần quá quan tâm đến nghĩa vụ trả nợ nếu hoạt động kinh doanh gặp khó khăn. Còn chị N cho rằng người sử dụng dịch vụ tín dụng phải sử dụng vốn đúng mục đích và thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Việc anh S xây dựng kế hoạch kinh doanh và chứng minh khả năng trả nợ với ngân hàng thể hiện anh đã tuân thủ nguyên tắc bắt buộc khi sử dụng dịch vụ tín dụng.
Ý kiến của chị N về việc người vay phải sử dụng vốn đúng mục đích và thực hiện đúng cam kết hợp đồng là hoàn toàn chính xác.
Lời khuyên của chị H về việc cần đánh giá lại khả năng trả nợ là hợp lý, giúp cửa hàng tránh nguy cơ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và nợ xấu.
Quan điểm của anh M là đúng đắn vì trong kinh doanh, quy mô vốn vay càng lớn thì cơ hội thành công càng cao, không cần lo lắng về nghĩa vụ trả nợ khi gặp rủi ro.
a) Đúng
b) Đúng
c) Đúng
d) Sai