Đọc các trường hợp Trường hợp 1. Khi biết tin chị K và anh T yêu nhau, bố mẹ anh T tìm mọi cách ngăn cản. Một mặt,
Trường hợp 1. Bố mẹ anh T đang thực hiện hành vi can thiệp vào quyền tự do hôn nhân và tự do cá nhân, có thể xâm phạm đến danh dự, uy tín cá nhân (vi phạm khoản 10 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Tác hại của hành vi vi phạm: Gây ảnh hưởng tâm lí và tinh thần cho cả anh T và chị K, đặc biệt là chị K.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hành vi vi phạm trên phải chịu trách nhiệm pháp lí, có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật, bao gồm cả hình phạt nếu gây ra hậu quả tiêu cực.
Trường hợp 2. Hành vi của gia đình hai bên cùng với người nhà làm tại Uỷ ban nhân dân nơi đăng kí hộ khẩu thường trú cản trở việc đăng kí kết hôn của Anh K và chị M là vi phạm quyền tự do kết hôn của hai người (vi phạm khoản 10 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Tác hại của hành vi vi phạm: Gây ảnh hưởng đến quyền tự do và lợi ích hợp pháp của anh K và chị M. Tạo ra tình trạng mất công bằng trong việc thực hiện quyền tự do kết hôn của công dân.
Hành vi vi phạm trên phải chịu trách nhiệm pháp lí, có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật, bao gồm cả hình phạt nếu gây ra hậu quả tiêu cực.
Trường hợp 3. Hành vi bỏ nhà ra đi của anh Q mà không thông báo cho bất kì ai trong gia đình, đặt chị H và cậu con trai vào tình trạng khó khăn, bất ngờ là vì phạm nghĩa vụ của chồng đối với vợ, cha đối với con (vi phạm Điều 19; khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em).
Tác hại của hành vi vi phạm: Gia đình phải đối mặt với nhiều khó khăn, áp lực về tài chính và tâm lí đối với vợ và con. Tạo môi trường gia đình và xã hội mất ổn định. Trong trường hợp anh Q trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với gia đình, con cái thì phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí hành chính hoặc hình sự tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.