Câu hỏi ôn thi tốt nghiệp THPT môn Sinh học Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng ở động vật có đáp án

Để xác định bệnh lý về hô hấp, người ta tiến hành thí nghiệm đo thể tích khí khi thở ra gắng sức. Đồ thị đo thể tích khí khi thở ra gắng sức của một người bình thường và một người bệnh

58/103

Để xác định bệnh lý về hô hấp, người ta tiến hành thí nghiệm đo thể tích khí khi thở ra gắng sức. Đồ thị đo thể tích khí khi thở ra gắng sức của một người bình thường và một người bệnh (có thể trạng tương đương) được mô tả trong hình bên. Kí hiệu FEV1 là thể tích khí thở ra trong giây đầu tiên khi thở ra gắng sức, FVC là thể tích khí thở ra tối đa khi thở ra gắng sức.

Để xác định bệnh lý về hô hấp, người ta tiến hành thí nghiệm đo thể tích khí khi thở ra gắng sức. Đồ thị đo thể tích khí khi thở ra gắng sức của một người bình thường và một người bệnh  (ảnh 1)

a

Người bình thường có FEV1 là 5 lít.

ĐúngSai
b

FVC của của người bệnh và FVC của người bình thường gần tương đương nhau.

ĐúngSai
c

FEV1 của người bệnh nhỏ hơn FEV1 của người bình thường.

ĐúngSai
d

Người bệnh có thể mắc bệnh phổi hạn chế khả năng dãn của phế nang; chức năng khí quản, phế quản hoàn toàn bình thường.

ĐúngSai
Giải thích

a) Sai

Ở người bình thường, thể tích khí thở ra trong giây đầu tiên là < 5 lít.

b) Đúng

Thể tích khí tối đa khi thở ra gắng sức của người bệnh và người bình thường gần tương đương nhau.

c) Đúng

Thể tích khí thở ra trong giây đầu tiên của người bệnh nhỏ hơn người bình thường.

d) Sai

Người bệnh này bị bệnh hạn chế đường ống dẫn khí lớn (khí quản) dẫn tới thể tích khí thở ra ban đầu giảm, thể tích khí tối đa khi thở ra gắng sức không thay đổi.