Để sản xuất glucose bằng phương pháp sinh học, bột khoai lang được hòa với nước (chỉnh pH của dịch về 4,2), hàm lượng bột khoai là 20% khối lượng. Chế phẩm thương mại Stargen 002 (chứa hệ enz
a) Đúng, dựa vào bảng số liệu, khi nhiệt độ tăng từ 30°C đến 55°C, hiệu suất thủy phân tăng liên tục từ 57,8% lên 89,6%. Hiệu suất này phản ánh trực tiếp khả năng làm việc của enzyme: trong khoảng nhiệt độ này, nhiệt độ càng tăng thì các phân tử enzyme và cơ chất (tinh bột) chuyển động nhiệt càng nhanh, xác suất va chạm hiệu quả tăng lên, dẫn đến hoạt tính xúc tác mạnh hơn.
b) Đúng, xét 100 gam khoai có 68 gam tinh bột.
m hỗn hợp phản ứng = 100/20% = 500 gam (Bỏ qua khối lượng chế phẩm Stargen 002 vì liều dùng 1,5 mL/kg bột khoai là không đáng kể).
(C6H10O5)n + nH2O → nC6H12O6
mC6H12O6 = 68.89,6%.180/162 = 67,6978 gam
→ %C6H12O6 = 67,6978/500 = 13,5%
c) Sai, khác với các chất xúc tác vô cơ, enzyme là protein. Khi nhiệt độ tăng quá cao (thường trên 60 – 70°C), cấu trúc không gian ba chiều của protein bị biến tính, dẫn đến mất hoạt tính xúc tác. Do đó, ở 90°C, hệ enzyme amylase sẽ bị bất hoạt, hiệu suất thủy phân sẽ giảm mạnh chứ không thể đạt gần 100%.
d) Sai, pH = 4,2 là môi trường acid nhẹ, nhưng ở điều kiện nhiệt độ thấp (30 – 55°C) và nồng độ acid yếu như vậy, tốc độ thủy phân tinh bột bởi ion H+ là cực kỳ chậm, không đáng kể. Tác nhân chính thực hiện việc cắt các liên kết glycoside trong tinh bột ở đây là hệ enzyme amylase có trong chế phẩm Stargen 002. Môi trường pH = 4,2 được thiết lập chủ yếu để tạo điều kiện tối ưu cho enzyme này hoạt động bền vững nhất.